Nho giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nho học)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh vẽ của Nhật Bản mô tả Khổng Tử, người sáng lập ra Nho giáo. Dòng chữ trên cùng ghi "Nhất đại tông sư"

Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết lýhọc thuyết chính trị do Đức Khổng Tử đề xướng và được các môn đồ của ông phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất có ảnh hưởng tại ở các nước châu ÁTrung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn QuốcViệt Nam. Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho hay Nho sĩ hay nho sinh.

Quá trình hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Trung Hoa cổ đại, Nho giáo, Nho gia (đạo Nho) là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ "Nho" gồm từ "Nhân" (người) đứng gần chữ "Nhu". Nho gia còn được gọi là nhà Nho người đã học sách thánh hiền được thiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở hợp luân thường, đạo lý…Nhìn chung "Nho" là một danh hiệu chỉ người có học thức, biết lễ nghĩa.

Tại Trung Quốc, Nho giáo được độc tôn từ thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởng chính thống cả về chính trị và đạo đức của Trung Hoa trong hơn 2.000 năm. Kể từ thế kỷ thứ 4, Nho giáo lan rộng và cũng rất phát triển ở các nước châu Á khác như Nhật Bản, Triều TiênViệt Nam.

Nho giáo nguyên thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo.

Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân ThuKinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo và còn là những tác phẩm văn chương cổ điển của Trung Quốc. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học. Nho giáo bị biến thành tôn giáo thì Văn Miếu trở thành nơi dạy học kiêm chốn thờ phụng, và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.

Mục tiêu của Nho giáo là phát huy tính thiện của con người, khiến người dân biết bỏ ác theo thiện, giúp mọi người đạt đến trình độ đạo đức cao nhất. Để làm được điều này mỗi người phải không ngừng rèn luyện nhân cách và đạo đức của bản thân. Sách Đại Học viết: "Đạo học lớn cốt để phát huy đức sáng, đức tốt đẹp của con người, đổi mới khiến lòng dân bỏ cũ theo mới, bỏ ác theo thiện, khiến mọi người đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất. Có hiểu được phải đạt đến mức độ đạo đức hoàn thiện nhất thì mới kiên định chí hướng. Chí hướng kiên định rồi, tâm mới yên tĩnh. Tâm yên tĩnh rồi, lòng mới ổn định. Lòng ổn định rồi, suy nghĩ sự việc mới có thể chu toàn. Suy nghĩ sự việc chu toàn rồi, mới có thể xử lý, giải quyết công việc được thỏa đáng. Vạn vật đều có đầu có đuôi, có gốc có ngọn. Vạn sự đều có bắt đầu và kết thúc. Biết làm cái gì trước cái gì sau, tức là đã tiếp cận nguyên tắc của đạo rồi.[1]".

Nho giáo chủ trương giáo hóa mọi tầng lớp trong xã hội từ bậc quân vương đến kẻ thứ dân sao cho ai ai cũng thấm nhuần đạo học của thánh hiền, phát huy tính thiện sẵn có của bản thân, tự mình sửa đổi, rèn luyện cho tốt đẹp hơn. Nho giáo khuyến khích người có học dạy cho người ít học, người có đạo đức cảm hóa kẻ vô đạo, cải tạo xã hội, đem văn minh truyền bá khắp nơi. Đây là tư tưởng nhập thế của Nho gia, khác với tư tưởng xuất thế lánh đời của Phật gia hay Đạo gia. Khổng Tử nói: "Đạo không thể xa lánh người. Nhưng có người muốn thực hành đạo mà lại xa lánh người, như vậy thì không thể thực hành được đạo... Cho nên người quân tử dùng cái đạo lý vốn sẵn có ở người để giáo dục người, lấy cải sửa làm chính, giáo dục mãi cho đến khi thành người mới thôi. Cũng như ta trau chuốt cán rìu vậy, trau chuốt đến mức thành cán rìu mới thôi. Người ta có lỗi mà biết sửa là được rồi, không xa lánh họ nữa.[2]".

Thật ra, tính chất tôn giáo của Nho giáo rất mờ nhạt so với những tôn giáo khác, những lời dạy của Nho giáo không phải là từ thánh kinh mà được đúc kết từ chính những sự kiện trong lịch sử hoặc từ những tấm gương có thật trong cuộc sống. Nho giáo khuyên thế hệ sau cần biết học hỏi những thành công và tránh lặp lại những thất bại của thế hệ trước, là một học thuyết hướng dẫn về quan hệ xã hội và tu dưỡng bản thân.

Tống Nho[sửa | sửa mã nguồn]

Phong trào phục hưng Nho giáo thời hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thế kỷ 20, với sự sụp đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc trong thập niên 1960-1970 khi Mao Trạch Đông làm chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đến đầu thế kỷ 21, đứng trước sự suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong trào tại các nước Đông Á.

Phục hưng Nho giáo trong thế kỷ XXI là phong trào đang lên ở Đông Á, nó xuất phát từ Trung Quốc và lan truyền ra các khu vực lân cận. Nhiều hội thảo quốc tế về phục hưng nền Nho học đã được tổ chức ở Trung Quốc, Hàn QuốcNhật Bản. Tập hợp các nhà nghiên cứu Nho giáo trong khu vực và trên thế giới đã kiến lập Hiệp hội nghiên cứu Nho giáo quốc tế. Trong buổi Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Hàn Quốc 2010, một số báo cáo ghi nhận "mặt trái của quá trình Tây phương hóa (nói cách khác là hiện đại hóa) đã làm cho xã hội Đông Á mất dần tôn ti trật tự, tinh thần cộng đồng và đoàn kết xã hội. Lớp trẻ dần chạy theo những thứ hào nhoáng của văn minh hiện đại mà bỏ xa dần các quan niệm hiếu nghĩa, trung chính, tiết độ". Các báo cáo này nhấn mạnh giá trị tinh thần của Nho giáo sẽ là công cụ hữu hiệu nhằm khôi phục lại giá trị đạo đức của xã hội[3]

Từ năm 2005, chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) đã khởi xướng phong trào đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí 26.000 nhân dân tệ cho một khóa học về đạo đức Nho gia, Đại học Phục Đán thu mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí rất cao.[4] Từ 2004 cho tới năm 2020, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch thành lập hơn 1.000 Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới để quảng bá văn hóa truyền thống Trung Hoa.[5][6]

Học viện Nho giáo tại thành phố Andong, Hàn Quốc
Học sinh tham gia ngoại khóa tại một Học viện Nho giáo ở Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, rất nhiều người nhận thấy rõ những giá trị đạo đức lâu đời của dân tộc đang mất dần đi. Sau cuộc chiến liên Triều 1950-1953, Hàn Quốc áp dụng hệ thống giáo dục chịu nhiều ảnh hưởng của giáo dục phương Tây, Nho giáo bị công kích và bị coi là lỗi thời. Ông Pak Seok-hong nhấn mạnh sự sai lầm của hệ thống giáo dục đó: việc quá nhấn mạnh vào học tiếng Anh và toán đã chiếm chỗ của các môn học như đạo đứclịch sử. Ông thấy đất nước "đang biến thành vương quốc đầy súc vật": người trẻ chửi người già trên tàu, những đứa trẻ tự tử để khỏi bị bắt nạt... Sự hòa hợp, kính trọng người cao tuổi và lòng trung thành với Tổ quốc - những đức tính đó nay đã phai nhạt trong giới trẻ Hàn Quốc. Pak Seok-hong nói: "Chúng ta đã xây dựng được nền kinh tế mạnh mẽ, nhưng đạo đức của dân tộc đang trên bờ vực của sự sụp đổ. Chúng ta phải khôi phục lại nó và các Seowon (học viện Nho giáo) là nơi chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời".[7]

Hiện nay, số lượng học sinh Hàn Quốc đến các học viện Nho giáo để học tập ngoại khóa ngày càng tăng, lên tới hàng trăm ngàn học sinh mỗi năm. Tại đây, học sinh được dạy những lễ giáo đạo đức từ lâu đã không còn xuất hiện tại trường học, từ việc ăn tối, uống trà đến việc thưa chuyện lễ phép với cha mẹ. Theo ông Pak Sung-jin - giám đốc điều hành của Hiệp hội Seowon quốc gia Hàn Quốc, có khoảng 150 học viện Nho giáo ở khắp Hàn Quốc đã mở trở lại các chương trình ngoại khóa tương tự. Ông tin rằng người Hàn Quốc đương đại cần từ bỏ cách nghĩ thiển cận coi Nho giáo là "lỗi thời" và cần nghiêm túc học hỏi lại nhiều giá trị tinh thần, cách đối nhân xử thế từ xã hội xưa.[7]

Đại diện cho học giả Hàn Quốc, giáo sư An Bỉnh Chu, Đại học Thành Quân Quán đã nêu lên lời cảnh báo: “Ngày nay, xã hội­ đầy tiếng kêu cứu phản ánh nỗi lo lắng về sự hoang tàn của nhân tâm. Môi trường bị ô nhiễm, luân lý bị suy đồi, con người phơi trần nỗi khát khao truy cầu lợi ích và dục vọng. Nội tâm con người hoang tàn, giá lạnh. Quan hệ giữa người và người chỉ còn là cạnh tranh vì lợi ích. Tất cả loài người đang đứng trước nguy cơ diệt vong“. Và chính từ những báo động trên, ông đã nêu lên nên trở lại những nguyên lý đạo đức cuộc sống mà Lý Hoảng (1501-1570), đại sư Nho gia Hàn Quốc đã từng nhắc nhở trong vấn đề tâm học đạo đức. Ở hội nghị quốc tế “Nho giáo với xã hội tương lai” ở An Đông - Hàn Quốc (10-2001), các giáo sư Pháp, Nga, Mỹ, Anh v.v... đều có ý muốn nghiên cứu tư tưởng Nho giáo nhằm tìm con đường giải quyết những bế tắc trong quan hệ con người, xã hội và đặc biệt là gia đình ở phương Tây trong giai đoạn hiện tại. Họ đều đề cao đạo đức “Nhân”, “Lễ”, "Nghĩa" của Nho giáo[8]

Chính phủ Trung Quốc đã chi hàng triệu USD cho hai chương trình nghiên cứu và biên soạn Nho tạng tại Đại học Nhân dânĐại học Bắc Kinh. Bộ Nho tạng tinh hoa của Đại học Bắc Kinh với tổng số 500 tập dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015. Hai chương trình biên soạn Nho tạng nói trên là một hoạt động quy mô lớn chưa từng có để hiệu chỉnh và kết tập điển tịch Nho học lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Đồng thời đây cũng là một lần tổng kiểm kê di sản điển tịch Nho học trên quy mô toàn thế giới. Tại Hàn QuốcNhật Bản, hai đại học hàng đầu là Đại học SeoulĐại học Tokyo cũng đều đã thành lập các trung tâm biên soạn Nho tạng riêng với kế hoạch hoạt động quy mô lớn. Trong xu hướng nghiên cứu Nho giáo đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới hiện nay, nghiên cứu kinh điển Nho gia có vị trí đặc biệt quan trọng.[9]

Nội dung cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Học thuyết về quản lý quốc gia và làm lợi cho dân của Nho giáo là một phần của truyền thống văn hóa Trung Quốc rất sâu sắc. Nó đã thiết lập cho mình những lý tưởng đạo đức và hệ thống giá trị tiêu chuẩn xác lập nền tảng cho xã hội Đông Á trong hàng ngàn năm. Nho giáo giúp các xã hội này có tính tổ chức cao, duy trì trật tự xã hội, giúp gìn giữ các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội ở một mức khá cao, giúp xã hội văn minh và ổn định lâu dài. Nho giáo tiến hành tất cả những điều đó không phải bằng vũ lực mà bằng chủ trương giáo dục toàn diện từ vua quan đến nhân dân để mỗi người đều tự giác thực hiện tùy theo vai trò của mình, đó cũng là lý do tại sao những nước sùng đạo Nho đều rất coi trọng giáo dục. Sách Đại Học có câu: "Làm vua thì hết mình thực hiện đức nhân. Làm bề tôi thì hết mình thực hiện đức kính. Làm con thì hết mình thực hiện đức hiếu. Làm cha thì hết mình thực hiện đức từ. Cùng người trong nước quan hệ với nhau phải hết mình thực hiện đức tín."[10]

Trong thế giới quan Nho giáo, cả 3 yếu tố Quốc gia - Gia đình - Cá nhân đều có liên hệ chặt chẽ với nhau. Nho giáo xem cá nhân là yếu tố căn bản nhất cấu thành nên gia đình và xã hội. Mỗi cá nhân có đức hạnh tốt thì gia đình, xã hội sẽ tốt và ngược lại.

Cái căn bản của thiên hạ là quốc gia
Cái căn bản của quốc gia là gia đình
Cái căn bản của gia đình là thân mình vậy.[11]

Sách Đại Học viết "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Người trong gia đình, gia tộc mình mà không giáo dục được thì sao có thể giáo dục được người khác... Một nhà thực hiện nhân ái có thể dấy lên cả nước một phong trào nhân ái. Một nhà thực hiện khiêm nhường, có thể dấy lên cả nước một phong tục khiêm nhường. Còn nếu một người tham lam tàn bạo, tất dấy lên cả nước phạm thượng, làm loạn... Nếu bản thân mình che giấu những hành vi không hợp với đạo trung thứ thì sao có thể giáo dục được người khác làm theo đạo trung thứ. Cho nên muốn trị nước tốt, trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình."[12]

Một hình vẽ trong sách Nhị thập tứ hiếu. Đạo hiếu là đức tính được nhà Nho coi là nền tảng cho đạo đức xã hội

Từ thời nhà Hán, Nho giáo đã trở thành trung tâm cho việc quản lý xã hội, duy trì đạo đức tại Trung Hoa trong suốt hơn 2000 năm. Năm 1397, Minh Thái Tổ ra lệnh mỗi làng phải dán một tờ ghi sáu điều Đạo Nho để dân noi theo: "Phải hiếu thảo với cha mẹ, phải kính trọng người già, phải thờ phụng tổ tiên, phải dạy con nên người, phải yên ổn làm ăn". Năm 1670, vua Khang Hi nhà Thanh cũng ra một sắc lệnh gồm 16 điểm, dạy dân phải hiếu lễ, cần kiệm, nộp thuế đúng kì... và ra lệnh các hương chức và kẻ sĩ trong làng cứ nửa tháng một lần đọc và giảng cho dân nghe. Những kẻ bất hiếu, ăn cắp ăn trộm, cưỡng hiếp gian dâm... phải ghi tên vào một cái bảng treo trước cổng làng để nhân dân lấy đó làm răn.

Nhờ đạo Nho, các triều đình ít phải can thiệp vào đời sống của dân, cho các làng tự lập hương ước mà gần như tự trị. Một học giả Châu Âu khen người Trung Hoa tổ chức xã hội giỏi hơn người La Mã và mọi đế chế khác. Các kẻ sĩ ở mỗi làng, tổng, huyện (một vị trưởng lão trong làng, một thầy đồ hay một vị khoa bảng)... được dân tin, giúp chính quyền được nhiều việc cai trị, giáo dục, hòa giải các vụ kiện, trị bệnh, giữ an ninh. Họ được dân coi trọng hơn cả các quan lại, mà quan lại cũng phải nể họ. Vì vậy, Trung Hoa đất đai mênh mông mà số quan lại khá ít (cuối đời Thanh, Trung Quốc có 450 triệu dân mà chỉ cần 100.000 quan lại), triều đình không tốn nhiều lương bổng mà vẫn duy trì được xã hội ổn định suốt hàng trăm năm.

Đặc biệt là cứ mỗi lần đất nước bị họa vong quốc thì lại có hàng trăm kẻ sĩ Nho giáo sẵn sàng liều mình chống ngoại xâm, nếu chẳng may thất bại thì họ liền tuẫn quốc chứ không chịu sống nhục. Đã vậy, không chỉ nam giới liều thân hộ quốc nơi tiền tuyến mà phụ nữ ở hậu phương cũng một lòng chung thủy để người nam nhi an tâm ra đi gánh vác mệnh nước, nếu chồng hy sinh họ sẵn sàng tuẫn tiết để giữ lòng son. Đó là đặc điểm của những dân tộc thấm nhuần đạo Khổng. Trong lịch sử Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản... có hàng trăm tấm gương như vậy (Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Lê Tuấn Mậu, Văn Thiên Tường, Dương gia tướng,...). Đó là nguồn gốc tinh thần chống ngoại xâm bền bỉ của các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng của Nho giáo.

Theo Tommy Koh, Giám đốc Viện nghiên cứu chính sách Singapore, dưới ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, tất cả các xã hội Đông Á đều không ưa chủ nghĩa cá nhân cực đoan, không thích tự do báo chí theo kiểu lá cải, thổi phồng công luận, mặc cho báo chí thoả mãn cả những thị hiếu tầm thường, lảng tránh hoặc xem nhẹ chức năng định hướng cần thiết đối với dư luận xã hội. Không phải Đông Á phản đối tự do báo chí, song nếu báo chí được phép tự do đến mức phá vỡ những ranh giới của đạo đức và lẽ phải, trở thành diễn đàn của những kẻ bất lương... thì không thể nhân danh tự do mà chấp nhận được. Thái độ này nằm trong logic chung của các giá trị gia đình, cộng đồng, đạo đức và trách nhiệm. Văn hoá Nho giáo và cả Phật giáo đều không chấp nhận lý lẽ của việc con cái kiện tụng cha mẹ, trừ những trường hợp hãn hữu khi cha mẹ không còn xứng đáng. Với các nền văn hoá này, mọi chuyện thuộc quan hệ cha mẹ - con cái đều cần phải xử lý trong khuôn khổ giá trị huyết thống. Vượt ra ngoài khuôn khổ này, quan hệ cha con sẽ không còn. Thực tế cho thấy, trong các xã hội Đông Á, một khi quan hệ huyết thống đã bị đưa ra Tòa án để xét xử, thì dẫu mọi chuyện có được giải quyết ổn thoả, tình nghĩa cũng chẳng còn hoặc chẳng còn là bao.[13]

Lễ nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Nho giáo rất xem trọng Lễ nghi vì nó là biểu hiện của một xã hội văn minh và có trật tự. "Lễ" là những quy tắc mang tính hình thức được xã hội thừa nhận để bày tỏ sự tôn trọng đối với người khác, với cộng đồng hoặc với những định chế xã hội và để nhận được sự tôn trọng của xã hội. Việc giữ Lễ là một cách tu thân và chứng tỏ con người biết tuân thủ những nguyên tắc đạo đức trong quan hệ với người xung quanh. Một xã hội không biết giữ Lễ là xã hội hỗn loạn, kém văn minh và suy đồi. Lễ giáo phai nhạt cũng là biểu hiện các mối quan hệ giữa con người trong xã hội đã xấu đi, trật tự xã hội đã suy yếu. Lễ nghi sẽ tạo ra một xã hội hài hòa trong đó mọi người đều tự tiết chế trong mối quan hệ giữa người với người, không để những cảm xúc tiêu cực biến thành hành động mạo phạm, bất kính với người khác. Hữu Tử nói: "Tác dụng của lễ đạt được sự thống nhất, hài hòa mới là đáng quý. Phương pháp trị nước của những bậc vua hiền thời cổ đại có đúng đắn là ở chỗ này: việc lớn việc nhỏ đều tuân thủ nguyên tắc hài hòa. Nhưng có điều không nên làm: chỉ biết hài hòa là quý, rồi trong mọi việc chỉ biết hài hòa, không lấy lễ nghĩa để tiết chế thì việc gì cũng không xong.[14]". Mỗi xã hội, mỗi thời đại đều có những nghi thức của riêng nó nhưng chung quy không xã hội văn minh nào có thể bỏ đi những lễ nghi mà chỉ thay đổi đối tượng, mục đích hoặc hình thức.

Nho giáo chủ trương lễ nghi phải phù hợp với địa vị xã hội, công lao, đức độ, tài năng, tuổi tác của người hành lễ và người nhận lễ. Ví dụ như "Nếu cha là quan đại phu, con là kẻ sĩ, khi cha chết thì dùng lễ của quan đại phu mà chôn cất cha, dùng lễ của kẻ sĩ thờ cúng cha."[15] hoặc "Khi cử hành tế lễ ở tông miếu, phải biết sắp xếp bài vị đúng thứ tự, theo đẳng cấp thứ bậc tước vị đã được ông cha quy định, nhằm phân biệt rõ công lao, đức độ, tài năng. Khi mọi người cùng uống rượu thì người ít tuổi, thứ bậc thấp mời người nhiều tuổi, thứ bậc cao trước. Mục đích là đem lễ nghĩa về chữ hiếu quán triệt đến người ít tuổi."[16]. Tuy nhiên cũng có những quy tắc chung mà từ quân vương đến thứ dân đều phải tuân thủ như "Phép để tang ba năm thực hiện từ thứ dân cho đến thiên tử (vua). Để tang cha mẹ phải là ba năm, không phân biệt giàu nghèo sang hèn, tất cả đều như nhau (bởi con người trong 3 năm đầu đời đều "đói không thể tự ăn, rét không thể tự mặc", tất cả đều phải nhờ do cha mẹ khổ công nuôi nấng)".[15]

Lễ phải bắt nguồn từ sự tôn trọng chân thành của người hành lễ đối với người nhận lễ thì lễ mới có giá trị. Khổng Tử nói: "Một người không có lòng nhân sao có thể hành được lễ ?[17]". Trái với tập quán của người đời thích những lễ nghi phô trương để chứng tỏ sự giàu sang, quyền lực của bản thân, khi được hỏi về gốc của lễ, Khổng Tử trả lời: "Vấn đề của ngươi hỏi thật quá lớn! Lễ nói chung đi kèm với xa hoa lãng phí thì không bằng tiết kiệm. Nghi thức mai táng mà cầu kỳ, lòe loẹt thì không bằng trong lòng thật sự đau buồn.[18]".

Trong các loại lễ nghi, hai lễ nghi phổ biến nhất, từ đấng quân vương cho đến kẻ thứ dân ai cũng thực hiện, được Nho giáo rất xem trọng là tang lễ và việc cúng tế tổ tiên. Tăng Tử nói: "Phải cẩn thận làm tốt tang lễ cho cha mẹ khi qua đời; thành tâm, thành ý khi cúng tế tổ tiên. Được như vậy, dân chúng được cảm hóa, phong tục đạo đức của dân chúng ngày một tốt đẹp và thuần hậu.[19]". Quan niệm này ăn sâu vào văn hóa các dân tộc Đông Á đến mức ngày nay tang lễ và cúng tế tổ tiên vẫn là các lễ nghi quan trọng nhất, được tổ chức chu đáo nhất. Việc không tổ chức các lễ nghi này, không tham dự hoặc làm qua loa có thể bị xem là bất kính.

Quan hệ xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nho giáo, trong xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản là: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè. Để thực hiện tốt 5 mối quan hệ này cần có 3 đức tính: trí, dũng, nhân.[20]

Trong các mối quan hệ xã hội, con người phải đối xử tốt với người khác, "mình không muốn bị người khác đối xử thế nào thì cũng không nên đối xử với người khác như vậy"[21]. Người chỉ biết làm việc vì lợi ích của mình nhất định sẽ chuốc lấy nhiều oán hận[22]. Đối với người lãnh đạo thì càng phải ghi nhớ và thực hành điều này, như sách Đại Học viết "Người quân tử phải hiền hòa, nhân đức, yêu thích điều dân yêu thích, ghét điều dân ghét. Đó mới gọi là làm cha mẹ của dân.[23]". Nhân chi sơ, tính bổn thiện vì vậy mỗi người hãy đối nhân xử thế phù hợp với tính thiện trời ban cho mình, xử thế phải hết sức cẩn thận, chu toàn, thành thật. Sách Trung Dung viết "Phải hết sức răn mình cẩn thận về những điều không ai nhìn thấy, e sợ những việc không ai nghe thấy. Không gì dễ hiện ra bằng điều giấu giếm, không gì dễ lộ ra bằng điều nhỏ nhặt. Cho nên người quân tử khi xử thế một mình, từ lời ăn tiếng nói đến việc làm cụ thể càng phải cẩn thận, chu đáo hơn bao giờ hết.[24]". Đa phần xung đột đều bắt nguồn từ sự hiểu lầm, khi bị người khác hiểu lầm thì không nên oán giận họ vì sẽ làm xung đột càng trầm trọng hơn. Khổng Tử nói: "Người không hiểu ta mà ta chẳng oán giận họ, như vậy không phải là người quân tử ư?[25]", "Không sợ người không hiểu ta mà chỉ sợ ta không hiểu người.[26]". Khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột, nếu biết khoan dung, tha thứ cho những lỗi lầm của người khác; những thiệt hại, khổ đau người khác gây ra cho mình thì thù hận sẽ chấm dứt. Ngược lại nếu tìm mọi cách trả thù thì thù hận kéo dài không bao giờ chấm dứt. Khổng Tử nói "Bá Di, Thúc Tề, hai người này thường cho qua những thù hận cũ nên người oán hận họ rất ít.[27]". Trong quan hệ vua tôi, Khổng Tử chủ trương "Vua sử dụng bề tôi phải theo lễ, bề tôi phụng thờ vua phải theo trung.[28]".

Trong mọi hoàn cảnh, con người cần kiềm chế cảm xúc, làm chủ bản thân, không biểu hiện cảm xúc ra ngoài một cách thái quá, đó gọi là trung hòa. Biết trung hòa cảm xúc thì con người ta mới cư xử đúng mực. Sách Trung Dung viết "Khi tình cảm như: vui mừng, hờn giận, đau thương, khoái lạc chưa biểu hiện ra thì gọi là trung; biểu hiện ra rồi nhưng phù hợp, đúng mức thì gọi là hòa. Trung là điều cơ bản lớn nhất trong thiên hạ. Hòa là chuẩn tắc phổ biến nhất trong thiên hạ. Trung hòa mà đạt đến tột cùng thì mọi cái trong trời đất đều ở vị trí thỏa đáng, vạn vật sẽ sinh sôi nảy nở.[29]"

Nho giáo quan niệm Trung dung là sự ôn hòa, cân bằng, không thái quá, không thiên lệch về bên này hoặc bên kia. Trong đối nhân xử thế, Trung dung là không quá cương cũng không quá nhu, không thái quá cũng không bất cập. Trong chính trị, Trung dung là không quá khích, cực đoan; không cực tả cũng không cực hữu, không nhảy từ thái cực này sang thái cực kia: "Lời nói và việc làm của người quân tử thì phù hợp với chuẩn tắc trung dung, còn kẻ tiểu nhân thì phản lại trung dung. Người quân tử luôn giữ được trạng thái trung hòa, không để thái quá hay bất cập. Kẻ tiểu nhân thì không hề lo sợ, nể nang hay e dè ai hết, nên cách nói năng của và hành động của kẻ tiểu nhân không thái quá thì cũng bất cập.[30]". Đạo Trung dung không chỉ dành cho nhà cầm quyền, người có học thức, bậc quân tử mà phổ biến khắp thiên hạ, ai ai cũng có thể hiểu và thi hành kể cả những người ngu dốt, nhưng để đạt đến mức độ cao sâu thì thánh nhân cũng chưa làm nổi: "Đạo sở dĩ không được thực hành, ấy là vì người thông minh có trí tuệ thì nhận thức và thực hành thái quá, người kém hiểu biết thì nhận thức bất cập...[31]... Đạo của người quân tử vừa to lớn bao la, vừa vô cùng nhỏ bé. Những người ngu dốt kém cỏi cũng có thể hiểu và làm theo được, nhưng đạt tới chỗ cao sâu nhất thì đến thánh nhân cũng có điều chưa thể làm nổi.[32]".

Để giữ được đạo Trung dung, con người vừa phải sống hòa đồng với mọi người vừa phải có tư duy độc lập, luôn giữ chính kiến của mình, luôn giữ đạo Trung dung, không bị lôi cuốn theo đám đông, không bị hoàn cảnh lung lạc. Đây là sức mạnh chân chính của người quân tử:

"Người quân tử sống hòa khí với mọi người, nhưng không buông trôi theo thói tục của người đời. Giữ trọn đạo Trung dung, không hề thiên lệch bên nào, khi quốc gia yên ổn cũng như khi loạn lạc, có chết cũng không thay đổi chí hướng của mình, đấy mới là sức mạnh chân chính.[33]". Khổng tử nói "Người quân tử phải theo đạo mà đi, không được nửa đường thì bỏ dở. Người quân tử chỉ một lòng theo đạo Trung dung mà thôi. Còn như phải trốn đời ở ẩn nơi rừng sâu núi thẳm cũng không hối hận, chỉ có thánh nhân mới làm được như vậy."[34]".

Trong xã hội có nhiều hạng người: người giàu, người nghèo, người lãnh đạo, người thừa hành... Nho giáo khuyên con người nên làm việc theo chức trách, có cách sống phù hợp với hoàn cảnh và địa vị xã hội của mình. Ai làm như vậy sẽ luôn thấy thoải mái, không so đo mình với người khác cũng không nảy sinh bất mãn. Sách Trung Dung viết: "Người quân tử nên dựa vào địa vị hiện tại của mình mà làm việc, không nên ham những cái ngoài bổn phận của mình... Người quân tử ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể điềm nhiên tự tại, bình tĩnh tự đắc, không kêu ca phàn nàn.[35]". Con người nên gắng làm tốt công việc hiện tại của mình chứ không cần phải theo đuổi, cầu cạnh chức tước, địa vị. Việc thăng tiến là điều tự nhiên nếu người đó làm tốt. Kẻ tiểu nhân ngược lại luôn theo đuổi hư danh, địa vị ngoài khả năng của mình. Sách Trung Dung viết "Khi ở địa vị cao, không lăng mạ chèn ép người dưới; khi ở địa vị dưới, không nịnh bợ cầu cạnh người trên; lúc nào cũng giữ bản thân ngay thẳng, chẳng cầu mong xin xỏ người khác, được như vậy thì trên không oán trời, dưới không trách người, luôn ở địa vị ổn định để chờ mệnh trời. Còn kẻ tiểu nhân buộc phải mạo hiểm để theo đuổi chức vụ, địa vị ngoài khả năng của mình.[36]". Nếu hoàn cảnh sống, chức tước, địa vị không được như ý thì phải xem lại bản thân mình chứ không nên trách trời, oán người hay đổ lỗi cho nhà nước. Khổng Tử nói:

"Phép bắn cung cũng giống như đạo người quân tử vậy. Khi bắn mũi tên không trúng đích, phải trở lại tìm nguyên nhân ở chính bản thân mình.[36]"... người có chức lớn tất có địa vị, danh tiếng xứng đáng và hưởng thọ lâu dài... người có đức lớn, nhất định được trời ban cho chức vụ để làm việc có ích cho đời.[37]".

Theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì con người sống trong xã hội không nên tranh chấp vì danh lợi. Điều đáng để mọi người thi đua là sống sao cho hợp đạo lý, đối xử nhau sao cho có tình có lý, có lễ nghĩa. Khổng Tử nói: "Người quân tử không việc gì phải tranh đua. Nếu có việc đáng tranh đua thì chỉ có ở cuộc thi bắn cung. Khi đọ tài bắn cung cũng phải giữ lễ, vái chào lẫn nhau trước rồi sau đó mới bắn cung. Bắn cung xong ngồi nâng chén chúc mừng lẫn nhau. Đây là điều đáng tranh đua của người quân tử.[38]". Khi chưa có chức vụ, địa vị thì "Không sợ buồn vì không có chức vụ địa vị, chỉ buồn vì không có tài đức để làm tròn chức vụ địa vị ấy. Không sợ người khác không biết mình, mà phải cầu mong làm sao có năng lực làm cho người khác hiểu mình.[39]".

Trong tất cả mọi mối quan hệ xã hội như với cha mẹ, với cấp trên, với bạn bè, Nho giáo rất đề cao sự thành thật. Người thành thật sẽ được mọi người tin cậy. Con người trước hết phải thành thật với bản thân mới có thể thành thật với mọi người. Theo sách Trung Dung "Muốn bản thân thành thật cũng có cách của nó: nếu không hiểu rõ thế nào là đức thiện, tính thiện thì cũng không thể bồi dưỡng cho mình có lòng thành thật với bản thân.[40]". Theo Nho giáo, có một số người vốn dĩ tự nhiên đã thành thật, một số khác phải rèn luyện bản thân để trở nên thành thật: "Thành thật tự nhiên vốn là đạo trời. Còn tự mình nỗ lực đạt đến thành thật là đạo người. Bậc thành thật tự nhiên không phải cố gắng cũng tự nhiên thích hợp với đạo, không phải suy nghĩ cũng hiểu được đạo, cứ ung dung mà hợp với đạo trung dung, đó là bậc thánh nhân. Còn người tu tập để đạt tới thành thật thì phải chọn lấy điều thiện mà kiên trì theo đuổi. Muốn vậy, phải học tập cho sâu rộng, hỏi han cho kỹ lưỡng, suy nghĩ cho thận trọng, phân biệt cho sáng tỏ, thực hành cho thấu đáo."[40]. Muốn đạt đến thành thật thì "Đối với việc nhỏ mà dám bỏ công sức học hỏi, suy nghĩ, xem xét và thi hành đạo lý thì cũng xem như đã đạt đến thành thật. Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay. Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói. Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người."[41]. Theo sách Trung Dung, người đã đạt đến đức thành thật cao cả thì "dẫu không biểu hiện ra mà vẫn sáng rõ, dẫu không động mà vẫn biến hóa, dẫu không làm mà cũng thành công.[42]". Việc nịnh hót người khác, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, đem oán hận giấu kín trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo bị Nho giáo đánh giá là hành vi xấu. Khổng Tử nói:

"Dùng những lời lẽ hay ho để nịnh hót, làm vừa lòng người và tỏ vẻ hiền lành, như vậy không phải là người có lòng nhân.[43]"... "Những người dùng lời lẽ trau chuốt ngọt xớt, giả bộ hiền lành, cung kính thái quá, loại người này theo Tả Khâu Minh là rất đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là rất đáng sỉ nhục. Đem oán hận giấu kín ở trong lòng nhưng bề ngoài vẫn giả bộ hữu hảo với người, loại người như vậy Tả Khâu Minh cũng cho là đáng sỉ nhục. Khâu ta cũng cho là đáng sỉ nhục.[44]:

Tuy nhiên, người đời lại thích những lời ngọt ngào, giả dối. Sự thật thì khó nghe và dễ làm mất lòng người. Khổng Tử nói "Nếu không có mồm mép nói dễ nghe như Chúc Đà và vẻ đẹp như công tử Triều nước Tống thì đời nay khó mà tránh được người ta ghét bỏ, xa rời.[45]". Vì vậy phải làm sao giữ được sự thành thật mà vẫn không làm mất lòng người, không bị đánh giá là thô lỗ, thiếu tế nhị. Đó là nghệ thuật ứng xử cần khổ công rèn luyện. Khổng Tử nói "Chất phác mà bỏ qua văn vẻ thì thô tục. Văn vẻ mà bỏ qua chất phác thì phù phiếm. Văn vẻ và chất phác hài hòa với nhau mới là người quân tử.[46]". Nếu làm được như vậy có thể sống ngay thẳng giữa cuộc đời. Khổng Tử nói "Con người ta sống được là nhờ ngay thẳng. Kẻ không ngay thẳng tuy nhiên cũng sống được, nhưng chẳng qua nhờ may mắn mới tránh được tai họa đó thôi.[47]".

Khi đánh giá người khác, đừng đánh giá qua lời nói mà hãy đánh giá qua hành động của người đó. Khổng Tử nói: "Nhìn kỹ cách người ta làm, xét người ta làm vì cái gì, rồi xét kỹ người ta có vui lòng mà làm hay không. Như vậy người ta không có cái gì có thể giấu được, làm sao mà giấu được ?[48]". Mỗi người hãy chứng tỏ bản thân mình bằng việc làm chứ không phải bằng lời nói. Như vậy mới là người quân tử. Tử Cống hỏi: "Thế nào là người quân tử ?". Khổng Tử nói: "Trước hết thực hành lời mình nói đã, sau mới nói ra."[49]. Năng lực mỗi người khác nhau nên không thể đòi hỏi kết quả giống nhau được. Chỉ cần người đó toàn tâm, toàn ý với công việc là được. Khổng Tử nói: "Thi bắn cung, không nhất thiết phải xuyên qua bia, bởi vì sức lực của mỗi người không giống nhau, đây là quy tắc bắn cung thời cổ.[50]".

Trong xã hội không ai hoàn hảo. Từ người lãnh đạo cao nhất cho đến người dân bình thường đều có thể mắc sai lầm. Sai lầm của người lãnh đạo nếu không bị chỉ ra có thể biến thành sai lầm của tập thể hoặc cả một quốc gia. Sai lầm có thể bị che giấu khiến nó ăn sâu vào đời sống xã hội, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì thế muốn xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, tránh được những hậu quả tiêu cực do sai lầm của con người gây ra thì sai lầm của cá nhân hoặc cộng đồng phải được phơi bày ra ánh sáng để người mắc sai lầm, những người khác và các thế hệ tương lai thấy để sửa sai và tránh lặp lại. Ở đâu thiếu minh bạch, ở đó cái xấu, cái ác sẽ sinh sôi nảy nở và ngày càng lớn mạnh. Khổng Tử nói: "Dám mạnh dạn đấu tranh, phê bình, chỉ trích tệ hại, thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan.[51]". Tuy nhiên việc phê bình, góp ý người khác cũng cần tinh tế để ý kiến đóng góp được tiếp thu mà người nghe cũng không khó chịu hoặc cảm thấy bị xúc phạm. Phải biết kết hợp giữa khen và chê vì ai cũng có ưu điểm và nhược điểm. Nếu chỉ thấy nhược điểm của một người rồi tìm mọi cách phê bình, chỉ trích mà lờ đi ưu điểm của người đó là cách đối xử thiếu tế nhị thậm chí là ác ý. Tử Du nói: "Phụng thờ vua nếu chỉ biết luôn can gián vua thì sẽ chuốc lấy nhục nhã. Đối đãi với bè bạn, nếu cứ luôn luôn góp ý kiến cho bạn thì bạn sẽ xa mình.[52]".

Nho giáo cũng phê phán tệ bè phái, chia rẽ trong xã hội, xem tinh thần đoàn kết là một phẩm chất đạo đức của người quân tử còn óc bè phái là đặc tính của kẻ tiểu nhân. Khổng Tử nói: "Người quân tử đoàn kết rộng rãi với mọi người, chứ không phải chỉ câu kết phe cánh. Kẻ tiểu nhân chỉ biết câu kết phe cánh, chứ không biết đoàn kết rộng rãi với mọi người.[53]".

Thuật lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nho giáo chủ trương: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua". Đây là một tư tưởng rất mới mẻ trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành. Vua không có quyền coi nhân dân là của riêng mà phải lo cho dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương chính trị của Nho giáo vào thời kỳ đó rất táo bạo nhưng rất hợp lý, làm cho nền quân chủ thời đó cũng như các nền chính trị thời nay cũng không thể nào bắt bẻ được.

Nho giáo xem nhân dân là yếu tố quyết định đối với sự tồn vong của chế độ chính trị. Nếu một nhà nước nhận được sự ủng hộ của nhân dân thì vững bền, nếu mất lòng dân thì sụp đổ. Sách Đại Học viết:

"Kinh Thi có câu: Khi nhà Ân chưa để mất lòng dân thì còn xứng đáng để thụ mệnh thiên tử. Nên soi vào tấm gương của nhà Ân để biết rằng, giữ được thiên hạ không phải là dễ. Đây là muốn nói đạo trị dân: nếu được lòng dân là được nước, mất lòng dân là mất nước.[23]".

Muốn giữ được lòng dân, giữ vững chế độ thì người lãnh đạo phải có đức thiện vì "có đức thiện mới có được mệnh trời, nếu không có đức thiện thì sẽ mất mệnh trời ngay[54]". Chính vì thế "Làm người cai trị quốc gia không thể không cẩn thận. Nếu để sơ suất một phân ly, không noi theo khuôn phép, tất sẽ bị nhân dân loại bỏ ngay.[23]"... lãnh đạo phải có sự chuẩn bị thì mới thành công, không chuẩn bị sẽ thất bại. Nếu chuẩn bị thì nói không vấp váp, làm không khó khăn. Nếu có phép tắc thì hành động không mắc sai lầm, việc hành đạo luôn thông suốt.[55]". Khổng Tử nói: "Quản lý, lãnh đạo một quốc gia có nghìn cỗ xe phải xử lý nghiêm túc, cẩn thận, chu đáo tất cả mọi công việc, phải đặc biệt giữ điều tín với dân, tiết kiệm chi tiêu, yêu mến dân, sử dụng sức dân trong thời gian thích hợp.[56]". Người lãnh đạo cẩn thận trong mọi việc nhưng cũng cần quyết đoán để không đánh mất thời cơ. Quý Tử Văn làm việc gì đều nghĩ đi nghĩ lại rất nhiều lần. Khổng Tử nghe vậy nói "Nghĩ hai lần là đủ rồi".[57]

Nho giáo xem tư cách, đạo đức con người luôn quan trọng hơn tài sản. Ở tầm vóc quốc gia, nhân nghĩa mới thật sự là lợi ích chứ không phải của cải vật chất. Người lãnh đạo phải coi trọng nhân nghĩa, đặt nhân nghĩa lên trên cái lợi trước mắt thì xã hội mới ổn định. Xã hội ổn định thì quốc gia phát triển, quốc khố mới được sung túc. Sách Đại Học viết:

"Người nhân dùng của cải của mình để hoàn thiện phẩm đức. Kẻ bất nhân dùng sinh mệnh của mình để vơ vét thêm của cải. Chưa từng có bậc vua nào yêu điều nhân mà dân chúng lại không yêu điều nghĩa. Chưa từng có người nào hiểu điều nghĩa mà lại làm việc không hết lòng... Điều này nói lên rằng: người trị quốc không nên xem tài sản là vốn quý, mà nên xem nhân nghĩa là vốn quý.[58]".

Người lãnh đạo quốc gia hoặc tổ chức luôn là tấm gương để cấp dưới và dân chúng noi theo. Người lãnh đạo có đạo đức tốt thì cấp dưới, nhân dân mới noi gương tu dưỡng đạo đức. Ngược lại, thượng bất chính, hạ tất loạn - Cấp trên không quang minh chính đại, không tuân thủ nguyên tắc, vi phạm luật pháp, có hành động vô đạo thì cấp dưới và quần chúng cũng bắt chước làm bậy. Sách Đại Học có đoạn viết "Nếu người trên có hiếu với cha mẹ, tôn trọng bậc huynh trưởng, thật lòng thương xót kẻ côi cút cô đơn góa bụa, thì nhân dân cũng tự mà noi theo như vậy. Người quân tử phải nắm vững đạo noi theo khuôn phép này.".[59]... "Vua Nghiêu, vua Thuấn dùng nhân ái để quản lý thiên hạ, nhân dân theo đó mà làm thiện. Vua Kiệt, vua Trụ dùng bạo lực để quản lý thiên hạ, dân chúng cũng theo đó mà làm loạn. Ra lệnh cho dân chúng thực hành nhân ái nhưng mình lại tàn bạo, thì dân nhất định chẳng nghe theo. Người quân tử, trước hết nên yêu cầu mình làm thiện và tránh làm ác, sau đó mới răn dạy người khác.[60]". Người lãnh đạo có đạo đức thì không cần ban thưởng, mọi người đều tín nhiệm, tin theo khiến thiên hạ thái bình, vô sự. Khổng Tử nói: "Cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận. Tự mình giống như sao Bắc Đẩu vậy, ở cố định một nơi còn các sao khác đều chầu quay quanh nó.[61], không cần ban thưởng mà dân chúng vẫn cảm thấy như được động viên, được cảm hóa, đua nhau làm theo điều thiện; không cần phẫn nộ mà dân chúng vẫn đã kính sợ hơn cả hình phạt bằng búa rìu... người quân tử giữ mình một cách thành thật, thì tự nhiên thiên hạ sẽ thái bình vô sự.[62]". Đó là nghệ thuật lãnh đạo chân chính có thể áp dụng từ tổ chức nhỏ nhất cho đến cấp độ quốc gia. Khổng Tử nói: "Nếu gào thét và nghiêm sắc mặt để giáo hóa dân chúng đó là hạ sách, là điều ngọn vậy.[63]".

Vua Hạ Kiệt bị Nho giáo coi là bài học điển hình cho việc mất nước vì tàn bạo

Chính vì vậy Nho giáo là một học thuyết chính trị đề cao Nhân trị. Dù hình thức chính trị, tổ chức nhà nước, hệ thống luật pháp có hoàn hảo đến mức nào mà người lãnh đạo thiếu đạo đức, không vì dân thì dân cũng chịu khổ, xã hội hỗn loạn. Dù hình thức chính trị lỗi thời, tổ chức nhà nước không chặt chẽ, luật pháp thiếu sót mà nhà cầm quyền có phẩm hạnh tốt, biết tôn trọng và hết lòng vì dân thì dân vẫn tin tưởng, xã hội ổn định. Sách Đại Học có câu:

"Đức là gốc, tài sản là ngọn. Nếu như bỏ gốc mà lấy ngọn, thì sẽ tranh lợi với dân, cướp bóc dân. Nếu ở trên phản lại lòng dân, chỉ biết phát ra những mệnh lệnh trái lẽ, chỉ lo tích tụ tài sản châu báu ngọc ngà, thì dân chúng sẽ đối xử lại bằng những điều phản nghịch, khiến cho triều đình ngày một khánh kiệt".[54]".

Việc cai trị bằng nhân nghĩa, bằng cách giáo dục quần chúng để họ tự giác sẽ tốt hơn dùng hình pháp ép buộc người dân tuân thủ luật pháp. Khổng Tử nói: "Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân thì dân sẽ hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, sẽ cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ tư tưởng.[64]". Khi quan hệ giữa con người trong xã hội tốt đẹp thì không cần đến sự can thiệp của luật pháp. Khổng Tử nói: "thẩm tra xét xử công án thì năng lực của ta cũng như người khác thôi. Điều mà ta mong muốn tâm đắc là người ta đừng có đi kiện tụng nữa. Phải để cho những kẻ giấu giếm sự thật không dám khua môi múa mép, không dám cậy thế đè người, ức hiếp hãm hại người hiền; khiến cho dân chúng hoàn toàn tâm phục. Thế mới gọi là hiểu được cái gốc của đạo lý.[65]. Đây là quan niệm cai trị mang tính nhân bản của Khổng Tử tuy rằng trên thực tế đến ngày nay lý tưởng của ông nhân loại vẫn chưa thực hiện được bao nhiêu. Để thi hành Nhân trị khiến dân kính trọng, trung thành với nhà nước và tự động viên nhau làm điều tốt thì nhà cầm quyền phải "Có thái độ nghiêm túc, đoan chính đối với mọi việc của dân chúng thì dân chúng kính trọng. Hiếu thuận với cha mẹ, hiền từ với già trẻ, gái trai thì dân chúng sẽ trung thành. Sử dụng cất nhắc người tốt, giáo dục người không có năng lực thì dân chúng sẽ tự động viên, cổ vũ nhau làm điều tốt.[66]".

Người lãnh đạo phải thấm nhuần đạo Trung dung mới không đưa ra những chính sách, những quyết định mang tính bất cập hoặc thái quá gây hại cho quốc gia. Khi còn ở nước Trần, Khổng Tử nói "Về đi! Về đi! Những học trò của quê hương ta, chí hướng thì rất cao xa mà việc làm thì rất giản lược, không câu nệ tiểu tiết; về văn chương đều có thể có thành tích khả quan. Nhưng họ chẳng biết xem xét, sửa mình theo đạo Trung dung.[67]".

Thuật lãnh đạo của Nho giáo đề cao những lãnh đạo biết quý trọng tài năng, biết dùng người. Lãnh đạo thiếu tài năng nhưng biết dùng người vẫn thành công. Ngược lại, lãnh đạo dù tài năng nhưng không biết dùng người cũng thất bại. Sách Đại Học viết "Một vị đại thần dù chẳng có tài gì khác, nhưng có tấm lòng quảng đại, bao dung; thấy người khác có tài năng, hiền đức, đại thần đó kính phục từ trong tâm, thì vị đó có thể dung nạp người hiền tài, nên có thể che chở con cháu, xã tắc và nhân dân của ta. Đại thần đó đối với ta rất có ích lắm thay! Còn kẻ làm tôi thấy người khác có tài năng thì đem lòng đố kỵ, ghen ghét; làm điều khó dễ, khiến cho người ấy không được vua biết tới, không thành công trong mọi việc, thì loại người này hết sức nguy hiểm cho con cháu, xã tắc và nhân dân của ta![68]".

Nho giáo xem hiền tài là nguyên khí quốc gia, vì vậy "Phát hiện người có tài đức mà không đề bạt cất nhắc hoặc không trọng dụng, đây là khinh rẻ người có tài đức vậy. Phát hiện kẻ bất lương làm sai trái mà không bãi chức, bãi chức rồi mà không đuổi ra nơi xa xôi hẻo lánh, đây gọi là dung túng cho kẻ bất lương vậy. Ưa thích cái mà mọi người ghét bỏ, ghét bỏ cái mà mọi người ưa thích, thế gọi là làm trái bản tính con người, tai họa nhất định giáng xuống kẻ ấy. Cho nên, làm người quân tử cần nhớ kỹ đạo lý lớn này: phải dựa vào trung tín mới được thiên hạ, còn nếu kiêu ngạo, phóng túng thì nhất định mất thiên hạ.[69]".

Nho giáo chủ trương người lãnh đạo phải biết lắng nghe ý kiến mọi người rồi chọn ra quan điểm đúng đắn nhất để thi hành. Sách Trung Dung có câu: "Vua Thuấn là người có trí tuệ cao siêu nhất: ngài ham hỏi han, lại để tâm suy xét cả những lời thiển cận bình thường. Có ai bày tỏ làm điều gì xấu thì vua bỏ qua cho, ai nêu lên được điều gì tốt thì vua tán dương phát huy triệt để. Trong số những ý kiến ấy, vua Thuấn nắm chắc hai thái cực, chọn lấy cái đúng đắn, hợp lý để lãnh đạo, quản lý dân chúng.[70]". Người lãnh đạo mà tự ý làm càn, chuyên quyền độc đoán hay bảo thủ thì nhất định gặp tai họa. Khổng Tử nói "Kẻ ngu dốt ngoan cố, tự phụ mà hay tự ý làm càn; kẻ ty tiện mà lại hay chuyên quyền độc đoán; kẻ sống trong thời đại ngày nay mà lại muốn quay về theo lễ chế ngày xưa, ba hạng người như vậy nhất định sẽ gặp tai họa."[71].

Trong quan hệ cấp trên với cấp dưới thì quan điểm của Khổng Tử là "Người bề trên đối với kẻ dưới không khoan dung rộng lượng, chấp hành lễ không nghiêm túc kính cẩn, cử hành tang lễ không đau buồn, thương xót, làm sao ta có thể chịu được ?[72]". Ngược lại người dưới cũng phải biết chọn cành mà đậu, chọn chúa mà thờ, chọn người mà hợp tác. Ai phụng sự, hợp tác với kẻ bạo ngược, tàn ác, vô đạo một ngày nào đó sẽ trở thành nạn nhân của kẻ đó. Khổng Tử nói: "Cư trú ở nơi có nhân đức mới tốt. Chọn nơi không có nhân đức để ở, làm sao có thể nói là người có đức trí được ?[73]".

Điều quan trọng nhất trong việc cai trị thiên hạ là lễ nhạc, luật lệ và văn tự. Nếu nắm vững ba điều này thì ít phạm sai lầm[74]. Sách Trung Dung đưa ra 9 nguyên tắc lớn trong đạo trị quốc là [75]:

  • Tu dưỡng bản thân thì đạo đức được xác lập.
  • Tôn trọng hiền tài thì không bị mê hoặc, ngu tối.
  • Yêu quý thân tộc thì chú bác, anh em không oán hận.
  • Kính trọng đại thần thì công việc ít phạm sai lầm.
  • Săn sóc quần thần thì kẻ sĩ tận lực báo đáp.
  • Quan tâm đến dân thì dân chúng thực hiện tốt mọi điều bề trên đề ra.
  • Khuyến khích bách nghệ phát triển thì vật dụng, hàng hóa buôn bán đủ đầy, sung túc.
  • Trọng đãi người nước ngoài đến nước mình làm ăn sinh sống thì bốn phương quy thuận.
  • Vỗ về chư hầu thì khắp thiên hạ sẽ kính phục.

Nho giáo là một học thuyết chính trị với lý tưởng an bang định quốc nhưng không hề mang tính bảo thủ. Nho giáo khuyên người cầm quyền luôn tự đổi mới cách cai trị của mình cho hợp thời và khuyến khích dân chúng đổi mới để ngày càng văn minh, tiến bộ hơn. Sách Đại Học viết "Trên chậu tắm của vua Thành Thang có khắc mấy chữ: Mỗi ngày nếu có thể làm cho mình được mới hơn, thì ngày nào cũng nên tự đổi mới. Nên khuyến khích nhân dân đổi mới."[76].

Đối với người có chí hướng làm quan, tiến thân lập nghiệp, Khổng Tử khuyên: "Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách. Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp lại một bên đừng làm; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận. Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách; làm không để xảy ra điều gì phải hối hận thì quan tước, bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi.[77]".

Đại thần Triệu Phổ thời Bắc Tống đã khuyên Tống Thái Tổ: "Chỉ cần đọc nửa bộ Luận ngữ là có thể cai trị thiên hạ (半部 “论语” 治天下). Câu nói ấy phản ánh tác dụng và ảnh hưởng đối với đạo trị quốc của văn hoá Nho gia trong lịch sử Trung Quốc. Vì thế trong suốt cuộc đời, Tống Thái Tổ luôn thực hành nhân nghĩa thương dân, khoan dung với kẻ thù, là sự trái ngược tích cực với những nhà thống trị khác như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dạng Đế... Tống Thái Tổ cũng cho cải cách khoa cử, tăng cường đãi ngộ cho văn nhân để tuyển dụng người tài vào triều làm quan, tránh tình trạng quan chức bị cha truyền con nối bởi việc lũng đoạn của sĩ tộc. Nhờ vậy, Nhà Tống do ông đặt nền móng đã kéo dài đến 320 năm.

Vua Khang Hi là một ví dụ tiêu biểu. Dù là người Mãn, Ông rất quan tâm tới truyền thống văn hóa cổ của người Hán, đã học qua các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, Sử ký, Hán thư, Tư trị thông giám... Khang Hi xem những tư tưởng cơ bản của Nho giáo như Tam cương ngũ thường, trung hiếu tiết nghĩa là nền tảng trị quốc. Việc áp dụng mạnh tư tưởng đó giúp ông thống nhất quốc gia, khiến mâu thuẫn dân tộc Mãn-Hán tương đối hòa dịu, nhờ thế mà thiết lập được sự thịnh trị dài trên 130 năm của nhà Thanh, được đời sau khen ngợi là "Khang Càn thịnh thế".

Chữ hiếu và xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ của Nhật Bản mô tả Dương Hương (杨香), cô gái 14 tuổi đã dám đánh hổ cứu cha. Cô được các nhà Nho xếp vào một trong Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo)

Người biết hiếu thuận với cha mẹ, kính trọng người lớn tuổi hơn mình thì khó lòng làm những chuyện phản loạn, đại nghịch bất đạo. Do vậy hiếu đễ là gốc của đạo nhân. Hữu Tử nói: "Người biết hiếu thuận với cha mẹ, có nết đễ với người lớn tuổi hơn mình mà lại thích cãi cọ, va chạm, xung đột mạo phạm cấp trên là hiếm thấy. Người không mạo phạm cấp trên mà lại thích làm loạn là không có. Người quân tử là người chuyên tâm nắm vững cái gốc của tu thân. Nắm vững được cái gốc của tu thân thì đạo lập thân xử thế tự nhiên phát sinh ra trong lòng mình. Hiếu đễ là cái gốc của đạo nhân.[78]". Chính vì thế xã hội muốn ổn định, dân chúng nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của nhà nước, không manh tâm bạo động phá hoại trật tự xã hội thì trẻ em ngay từ nhỏ phải được giáo dục yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ và anh chị em trong nhà. Trong chương đầu Khai tông minh nghĩa của Hiếu Kinh, thuật lại lời Khổng Tử nói với Tăng Tử:

Này đây, HIẾU là căn bản của ĐỨC, do giáo dục mà sinh ra. Hãy ngồi trở xuống, ta nói cho ngươi biết. Thân thể, hình hài, tóc tai, da thịt là do cha mẹ sinh ra không được gây hư hại là nết đầu của chữ Hiếu. Sau lo lập thân, hành đạo để lại tiếng thơm cho đời sau là nết cùng của chữ Hiếu. Này đây, chữ Hiếu lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, kế đến thờ vua, sau rốt là lập thân.".[79]

Khổng Tử nói: "Khi người cha còn sống thì quan sát chí hướng của người con, khi người cha chết thì quan sát hành vi của người con. Nếu ba năm sau khi cha mất, người con không thay đổi những quy tắc của đạo làm con đối với cha, đó là người con có hiếu vậy.[80]". Tăng Tử tóm lược: "Hiếu đạo có 3 điều: Đại hiếu là tôn kính cha mẹ, thứ đến là không làm gì gây tai tiếng cho cha mẹ, sau cùng là nuôi dưỡng cha mẹ".[81] Mạnh Tử bàn về chi tiết chữ “Hiếu” như sau: “Việc phụng sự cha mẹ của người con hiếu là: Cư xử hết lòng kính trọng, dưỡng nuôi cố làm đẹp lòng, bệnh đau tận tâm lo lắng, ma chay hết sức xót thương, tế lễ nghiêm trang rất mực”.[82]

Việc kính trọng cha mẹ được đặt lên hàng đầu trong quan niệm về đạo hiếu của Nho gia vì như Khổng Tử nói: "Ngày nay, thấy ai có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, thì người ta gọi là có hiếu. Nhưng đến như giống chó ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ trong khi nuôi dưỡng, thì nuôi cha mẹ và nuôi chó ngựa có gì khác nhau?[83] Cha mẹ lúc còn sống, phải theo lễ mà đối xử phụng sự. Cha mẹ chết, phải theo lễ mà an táng, cúng tế, đó mới là hiếu.[83] Chứ còn như có việc gì cần làm, con cái làm thay cho cha mẹ, có gì ngon thì mời cha mẹ ăn, đây chắc gì đã là có hiếu?[83]". Để thể hiện sự kính trọng đối với cha mẹ thì "Phụng dưỡng cha mẹ phải nhẹ nhàng khuyên giải, can ngăn. Nếu cha mẹ không chịu nghe thì vẫn phải cung kính, không được trái ý nguyện của cha mẹ, đừng để cha mẹ bận tâm gây nên oán hận.[84]". Đạo hiếu còn thể hiện qua những điều đơn giản như "Cha mẹ già còn sống không được đi chơi xa, nếu có đi phải nói rõ nơi nào cụ thể... Tuổi tác của cha mẹ không thể không nhớ kỹ trong lòng. Một là vì cha mẹ trường thọ mà vui mừng, hai là biết lo toan chuẩn bị hậu sự khi cha mẹ về già.[85]".

Sách Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo) đã khái quát:

Người tai mắt đứng trong trời đất,
Ai là không cha mẹ sinh thành,
Chữ hiếu niệm cho tròn một tiết,
Thì suy ra trăm nết đều nên,
Chẳng xem thuở trước Thánh Hiền,
Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu.

Vai trò của gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ 2.500 năm trước, Khổng Tử đã thấy rõ vai trò của gia đình như một tế bào của xã hội. Nếu mỗi gia đình được yên ấm thì mỗi thành viên của nó mới có điều kiện tu dưỡng bản thân, đạo đức mới được đề cao, xã hội mới được thịnh trị. Ngược lại, nếu mỗi gia đình lục đục thì con người sẽ bị tha hóa, kỷ cương xã hội sẽ dần rối loạn.

Hình vẽ trong Hiếu Kinh của Nho giáo kể về đạo thờ phụng cha mẹ vào thời Tống

Vua Tề Cảnh Công đã hỏi Đức Khổng về cách cai trị, Ngài đáp: "Phải làm sao cho mọi người làm tròn chức vụ của mình. Vua ở cho hết phận vua, tôi ở cho hết phận tôi, cha ở cho hết phận cha, con ở cho hết phận con." Vua Cảnh Công khen rằng: "Ngài nói phải thay! Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dẫu là ta có lúa thóc đầy kho, có chắc được ngồi yên mà ăn được không?"[86]

Sách Đại Học đề cao tầm quan trọng của gia đình đối với quốc gia xã hội: "Nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều nhân hậu. Nếu trong một nhà mà mọi người đều lễ nhượng thì lần ra cả nước đều lễ nhượng. Một người mà tham lam, trái ngược, lần ra cả nước đều rối loạn. Cái cơ là như vậy đó. Bởi đó, người xưa có truyền lại rằng: Một lời làm hại cả công việc, một người làm yên cả nước."[87] hay "Một nhà hòa thuận mới có thể giáo dục cả nước hòa thuận.[88]"

Do vậy, Nho giáo quy định rất rõ tôn ti trật tự và vai trò trong gia đình:

  • Người đứng đầu gia đình là người có trách nhiệm lớn lao nhất trong sự duy trì, phát triển gia đình. Trong gia đình nhiều thế hệ, vị trí người gia trưởng thuộc về người cụ, người ông hay người cha thuộc ngành trưởng. Tôn ti trật tự gia đình này tuân thủ các quy định về trưởng - thứ, nam - nữ, nội - ngoại hết sức chặt chẽ tạo nên chế độ gia trưởng tông tộc bền vững. Chính vì vậy người đứng đầu gia đình phải có đạo đức tốt vì "tự bản thân mình không tu dưỡng tốt thì không lấy gì chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc được[89]". Việc chỉnh đốn gia đình (tề gia) là việc không dễ dàng vì "... con người ta đối với người mình thân thích thì thường có sự thiên lệch... Cho nên ưa thích ai lại biết được khuyết điểm của người ấy, khi ghét bỏ ai lại biết được ưu điểm của người ấy, người làm được như vậy là hiếm có trong thiên hạ[89]".
  • Nho giáo coi trọng nguồn gốc con người, coi gia đình gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự, quên mất tổ tiên là tội lỗi với tổ tiên. Do đó, việc ghi chép gia phả, cúng tế tổ tiên, họp mặt họ tộc... là việc đặc biệt quan trọng, không được bỏ bễ.
  • Nho giáo đề cao chữ Hiếu, đề cao lễ nghĩa, tiết hạnh, bảo vệ gia đình, gia tộc, tông tộc. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, cha mẹ mất thì phải chôn cất chu đáo, cư tang để đền đáp ân nghĩa.
  • Trong hôn nhân, Nho giáo đề cao tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn. Người vợ phải biết Tam tòng, tứ đức, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành vi "Bất nhân, bất nghĩa").
  • Nho giáo coi trọng trinh tiết, đối với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân hoặc sống thử, đạo Nho rất phê phán, xem đó là hành động vô đạo đức, làm nhục gia quy. Nhiều người thời hiện đại phê phán tư tưởng này là "cổ hủ, chà đạp quyền tự do", nhưng nếu suy nghĩ sâu xa thì quy định này đảm bảo sự bền vững của mỗi gia đình cũng như xã hội: con gái biết quý trọng trinh tiết nên không lo bị Sở Khanh lừa gạt, con trai thì có ý thức giữ gìn bản thân không sa đọa vào nữ sắc, nạn mại dâm không thể lan tràn, bệnh hoa liễu và nạo phá thai được giảm thiểu tối đa (điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh y học thời xưa còn lạc hậu).
  • Trái với cách nghĩ của nhiều người cho rằng Nho giáo "chà đạp phụ nữ", thực sự chính Nho giáo đã bảo vệ quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của người phụ nữ trong một xã hội luôn bị thiên tai, dịch bệnh đe dọa (đàn ông không được ngoại tình, đánh mắng vợ vì lo sợ bậc trưởng thượng và gia tộc của anh ta phê phán, người mẹ già không lo bị con cái bỏ rơi, kẻ cưỡng hiếp phụ nữ bị luật pháp trừng trị rất nghiêm khắc). Ngược lại, Nho giáo cho rằng người phụ nữ cũng phải tu dưỡng bản thân, rèn luyện những mỹ đức như Công-Dung-Ngôn-Hạnh, chăm sóc gia đình chu đáo, làm đẹp lòng họ tộc, có như vậy gia đình và dòng tộc mới được yên ấm.
  • Ở quy mô rộng, xây dựng gia đình êm ấm không chỉ là để cho bản thân và các thành viên khác có hạnh phúc mà còn là việc quan trọng để xây dựng xã hội thịnh trị. Do vậy, các triều đình luôn có những phần thưởng nhằm tuyên dương những gia đình mẫu mực, lấy họ làm gương cho xã hội. Những người phụ nữ thực hiện xuất sắc Tam tòng tứ đức được phong danh hiệu "Liệt nữ". Làng xã nào có nhiều tấm gương về đạo Hiếu sẽ được phong tặng danh hiệu “Làng hiếu thảo”. Những phần thưởng này có giá trị không kém gì việc đỗ đạt Khoa bảng, là niềm tự hào không chỉ của mỗi gia tộc mà còn của cả địa phương đó. Sách Đại Học có đoạn "Muốn trị quốc tốt trước hết phải chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Bởi vì người trong gia đình, gia tộc mình giáo dục không được, mà lại có thể giáo dục được người khác thì đây là điều không thể có. Cho nên người quân tử không cần ra khỏi nhà mà vẫn giáo dục tốt dân một nước.[90]". Đối với bậc quân vương thì "Bậc vua hiền xử sự ở địa vị một người làm cha, làm con, làm anh, làm em đề trở thành tấm gương cho cả gia tộc noi theo, thì nhân dân mới noi theo. Như vậy là muốn nói trị quốc tốt trước hết là ở chỗ chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình[88]".

Tại những nơi Nho giáo có ảnh hưởng, việc thờ cúng tổ tiên, chăm sóc phần mộ tổ tiên, viết gia phả dòng họ, cúng giỗ theo nghi lễ rất được chú trọng. Việc cúng giỗ, các buổi họp họ hay các dịp mừng thọ là để bày tỏ lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, cầu mong tiên tổ phù hộ cho con cháu có được thành công trong cuộc sống, nhắc nhở lại lịch sử và chiến công của tổ tiên, cũng là dịp khen thưởng động viên cho những thành viên gương mẫu, tài năng trong dòng họ.

Gia phả dòng họ Nguyễn Đông Tác (bản sao chép năm Nhâm Thân(1932). Soạn Gia phả được xem là việc làm thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu với tổ tiên, cũng là công cụ hữu ích để giáo dục thế hệ sau

Gia phả họ Đặng (Đặng Tộc Đại Tông Phả) do Yên Quận công Đặng Đình Thự biên tập năm 1683 khái quát tầm quan trọng của gia phả[91]:

"Vì sao phải lập phả? Vì rằng mọi vật sinh thành đều có gốc ở trời, con người sinh ra đều có cội nguồn từ tổ tiên. Các đời tổ tiên xa dần thì con người dễ quên. Cổ lễ đặt ra tôn tổ, kính tông là để con cháu nhớ họ hàng vậy. Các đời truyền xa dần, sự tích mờ nhạt đi thì ai còn biết được công đức của tổ tông? Mỗi nhà lẽ nào lại không có phả riêng để ghi lại sao?
Sợ rằng cuốn phả cũ của gia tiên không được tu bổ thì nề nếp tốt đẹp của tổ tông không được kế thừa, còn ai biết được cội nguồn của gốc nhân nền nghĩa? Điều đáng sợ chính là con cháu phóng đãng, lãng quên không biết noi theo đức hạnh của tổ tiên. Ta không muốn tiếng tăm của gia đình như ngọc lành mang vết, cho nên trình bày khái lược công đức to lớn của các cụ thủy tổ tiếp đến công nghiệp của liệt tổ liệt tông, chính là để làm gương cho con cháu muôn đời, để con cháu hàng ngàn năm sau vẫn còn ngợi ca công lao vất vả cũng như khí tiết giản dị, cương nghị của tổ tiên. Những con cháu thành đạt có thể chiêm ngưỡng mà noi theo; những con cháu hư hỏng cũng biết mà lấy đó làm răn"

Có thể nói Nho giáo đề cao gia đình hơn bất cứ một học thuyết nào khác. Quan hệ gia đình theo Nho giáo là quan hệ đặc biệt chặt chẽ, phải được tái sinh, tái lập, và mở rộng theo trách nhiệm nghĩa vụ, và đồng thời giữ gìn trật tự kỷ cương. Chúng ta thường nghe nói "Nước có quốc pháp, nhà có gia phong", là câu nói răn dạy con người sống có phép tắc, đồng thời còn là biểu tượng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc là nguyên khí tinh thần độc lập, tự cường của một dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn hóa[92]

Hiện nay, mô hình gia đình ở Đông Á chuyển mình mạnh mẽ từ truyền thống sang hiện đại. Sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường tới gia đình đã làm cho lối sống, nếp sống, chuẩn mực của gia đình truyền thống đã bị mai một. Bên cạnh đó, nhiều hiện tượng tiêu cực về đạo đức, văn hoá gia đình đã xuất hiện như: cha mẹ vô trách nhiệm với con cái, con cái vô lễ ông bà cha mẹ, anh em bất hoà, vợ chồng mâu thuẫn, ngoại tình… khiến các giá trị gia đình bị suy thoái nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội. Trước nguy cơ các nét đẹp về trật tự và đạo đức của gia đình truyền thống bị mất mát, khuynh hướng nuối tiếc các tập quán gia đình tốt đẹp mà Nho giáo đã tạo dựng, hy vọng phục hồi trở lại các trật tự gia đình "cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ"… cũng trở nên ngày một mạnh mẽ. Nhiều nghiên cứu gần đây đã khẳng định đạo đức gia đình Nho giáo vẫn còn nhiều điều hữu ích cần được nuôi dưỡng trở lại để giáo dục trẻ em, tạo dựng gia đình nề nếp, góp phần làm lành mạnh xã hội[93].

Vai trò của cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một buổi lễ khen thưởng những học sinh giỏi và những gương sống tốt tại Miếu thờ Khổng Tử tại Đài Loan

Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội đồng thời là một học thuyết đạo đức với lý tưởng đào tạo ra con người kiểu mẫu được gọi là quân tử. (Khổng Tử dùng từ "quân tử" để chỉ người giàu phẩm chất đạo đức: "Quân tử sở tính Nhân nghĩa lễ trí", phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Tu thân là tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức bản thân. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Đạo ở đây là con đường để hoàn thiện chính mình, hoà hợp đất trời để trở về bản ngã "bổn thiện").

Nho giáo đặc biệt coi trọng con người, coi con người cùng với Trời và Đất là “Tam tài”. Con người có vai trò tham phối với Trời Đất, góp phần vào sự hóa dục (vạn vật) của Trời Đất (Trung dung). Vì vậy từ Khổng Tử, Nho giáo đã coi trọng cõi người, quan hệ giữa người và người, việc tu dưỡng thành người. Nhân tính và đạo đức là linh thiêng, không có đạo đức thì con người chẳng khác gì cầm thú và các vật vô tri. Đã là người thì phải học, phải tu dưỡng, đặc biệt người cầm quyền phải biết lo giáo hóa, phải làm cho thuần phong mỹ tục trở nên tốt đẹp. Học thuyết chính trị - đạo đức mà trung tâm là tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, được xây dựng trên cơ sở khuynh hướng nhân bản đó.[94]

Nho giáo xem đạo đức của con người quan trọng hơn tài sản. Chỉ có đạo đức mới có thể làm nên giá trị chân chính của một con người. Khổng Tử nói "Người quân tử quan tâm đến đạo đức, kẻ tiểu nhân khao khát ruộng vườn nhà cửa. Người quân tử quan tâm đến phép tắc, kẻ tiểu nhân mong cầu ân huệ.[95]".

Sách Đại Học (một trong những kinh điển của Nho giáo) thuộc Tứ thư có ghi: "Phàm những thánh nhân muốn phát huy tính thiện của con người đến khắp thiên hạ, trước hết phải lãnh đạo tốt nước mình. Muốn lãnh đạo tốt nước mình, trước hết cần chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc mình. Muốn chỉnh đốn tốt gia đình, gia tộc thì phải tu dưỡng tốt bản thân mình. Muốn tu dưỡng tốt bản thân mình thì phải làm cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính. Muốn cho tâm tư mình ngay thẳng, đoan chính thì phải có ý nghĩ thành thật. Muốn có ý nghĩ thành thật thì phải có nhận thức đúng đắn. Mà con đường nhận thức đúng đắn là nghiên cứu đến nơi đến chốn, lĩnh hội được cái nguyên lý của sự vật...[96] Muốn tu dưỡng phẩm cách đạo đức, trước hết phải giữ cho lòng mình ngay thẳng. Một khi lòng mình chẳng được ngay thẳng thì có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hay, có ăn gì cũng không biết mùi vị. Đạo lý tu dưỡng phẩm đức trước hết cần phải giữ lòng mình ngay thẳng là vậy... Từ thiên tử đến bình dân, ai ai cũng phải lấy tu dưỡng phẩm đức làm gốc. Một cây mà gốc đã mục nát rồi thì ngọn còn tốt tươi là điều không thể có. Ai xem nhẹ cái căn bản quan trọng, lại đi coi trọng cái chi tiết thứ yếu, xưa nay chưa từng thành công bao giờ.".[97]

Khi đã nhận thức đúng đắn, sâu sắc và toàn diện thế giới, con người được giải phóng khỏi sự vô minh đi kèm với nó là những cảm xúc tiêu cực để hướng tới sự hoàn thiện trí tuệ và đạo đức, hướng tới Chân Thiện Mỹ. Đó chính là cái gốc của tu thân làm nền tảng để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Những kẻ trong lòng đầy những cảm xúc tiêu cực, những định kiến do hiểu biết hạn hẹp, phiến diện; đầy những suy nghĩ xấu xa về người khác; những kẻ thiếu lòng bao dung, không biết tha thứ cho sai lầm, nhược điểm của người khác, không biết thông cảm cho khó khăn của người khác, thiếu khả năng chấp nhận sự khác biệt không thể nào đánh giá khách quan thế giới xung quanh, không thể tự hoàn thiện bản thân, hướng tới Chân Thiện Mỹ mà dễ nảy sinh hành động cực đoan hại người hại mình. Quan điểm này của Nho giáo cũng tương đồng với triết lý của nhà Phật về từ bi và trí tuệ, sự phá chấp, sự giác ngộ cũng như quan điểm của triết học phương Tây hiện đại về lý tính và tự do.

Đức Khổng Tử nêu lên ngũ thường (ngũ luân) với thuyết chính danh và chữ "Nhân" để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Ngũ thường: ngũ là năm; thường là bình thường, thông thường, vĩnh hằng. Ngũ thường nghĩa là năm phẩm chất đạo đức thông thường của con người. Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, không nên để rối loạn. Ngũ thường gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

  • Nhân: Là tính thiện sẵn có của con người, là tình yêu thương đồng loại, khoan dung độ lượng. Theo Luận ngữ, Nhân là sự phô bày rất thực tiễn và ngoại tại các phẩm tính của con người. Khổng Tử nói: "Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân".
    • Nhân là đức tính quan trọng nhất trong ngũ thường. Khổng Tử nói "Muốn tu thân phải tuân theo đạo lý. Muốn tuân theo đạo lý, phải thực hiện nhân. Nhân tức là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân dân của mình. Đó là điều lớn nhất trong chữ nhân."[98]. Người đã mong muốn làm điều nhân thì không thể làm điều gì xấu[99]. Chỉ người có đức nhân mới có thể đánh giá người khác một cách khách quan, không bị những cảm xúc tiêu cực bóp méo nhận thức về con người và xã hội. Khổng Tử nói: "Chỉ có người có đức nhân mới có thể hay yêu người và hay ghét người.[100]". Người thích điều nhân sẽ coi điều nhân trên hết, ghét điều bất nhân, trong thực tế sẽ luôn làm điều nhân, không bao giờ chịu ảnh hưởng xấu của điều bất nhân[101].
    • Nhân là phẩm chất đạo đức đầu tiên mà người đạo đức phải có. Khổng Tử nói: "Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng danh quân tử được. Người quân tử không bao giờ xa rời đạo nhân dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Dù cho ở hoàn cảnh bức bách khốn cùng, phải phiêu bạt nơi đất khách quê người cũng không bao giờ xa rời đạo nhân.[102]". Để trở thành con người nhân đức thì phải không ngừng tu dưỡng bản thân. Theo Khổng Tử: "Ta chưa thấy người nào đạt đến điều nhân mà không tốn sức tốn công rèn dũa. Người không mất sức mà đạt đến nhân, đại khái cũng có thể có, nhưng ta chưa gặp bao giờ.[103]". Người có đức nhân, luôn mong muốn làm điều nhân đức sẽ không lấy của cải vật chất làm thước đo mình và mọi người, không thất chí trong hoàn cảnh khó khăn. Khổng Tử nói: "Kẻ sĩ lập chí vì đạo nhân mà cảm thấy nhục nhã khi ăn đói, mặc rách, người như vậy không đáng để cùng bàn luận đạo nhân.[104]". Để đánh giá người có đức nhân hay không hãy nhìn vào sai lầm của người đó. Khổng Tử nói: "Sai lầm người ta mắc phải có quan hệ đến loại người. Loại người như thế nào thì sẽ phạm sai lầm như thế ấy. Xem sai lầm của một người đã phạm, có thể biết người đó có đức nhân hay không.[105]".
  • Nghĩa: Là cư xử cho hợp lẽ phải, đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều "thiện" hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. Nghĩa là cơ sở để con người hành động. Người có đạo đức chỉ làm những việc hợp nghĩa. Chuyện gì không hợp nghĩa thì không làm. Khổng Tử nói "Người quân tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa thì làm.[106]". Ông cũng cho rằng "... Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí.[107]". Tinh thần trọng nghĩa khinh tài của Nho giáo được thể hiện trong câu nói của Khổng Tử "Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi.[108]". Một số người cho rằng quan niệm coi trọng đạo nghĩa hơn lợi ích vật chất là điểm lạc hậu của Nho giáo kiềm hãm sự phát triển kinh tế. Đó là sự ngộ nhận vì Nho giáo không phản đối làm giàu mà chỉ phản đối làm giàu bằng mọi giá, thấy lợi quên nghĩa cũng như nền văn minh phương Tây với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính vị lợi cao độ cũng không hề chấp nhận việc làm giàu gây hại cho người khác hoặc cho cộng đồng; gây ô nhiễm môi trường; vi phạm đạo đức, nhân quyền và các quy tắc xã hội.
  • Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hộipháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan. Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành loạn nghịch. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ.[109]".
  • Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. Người có trí không phung phí tiền bạc vào những chuyện mê tín dị đoan, xa hoa, vô ích. Khổng Tử nói "Tang Văn Trọng dựng riêng một ngôi nhà để nuôi một con rùa lớn, quanh cột nhà chạm núi non, xà nhà có khắc hình rong biển. Con người như vậy sao gọi là người trí ?[110]". Bậc trí giả tùy thời mà sống, thời trị thì ra giúp nước, thời loạn thì lánh xa chính trị để gìn giữ thiên lương và bảo toàn sinh mạng. Khổng Tử nói: "Ninh Vũ Tử, khi nước nhà yên ổn thái bình được tiếng là người có đức trí, khi nước nhà loạn lạc bị mang tiếng là ngu đần. Trí như Ninh Vũ Tử thì người khác có thể theo kịp, chứ còn giả ngu đần như Ninh Vũ Tử thì thiên hạ không có cách nào đuổi kịp.[111]".
  • Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Khổng Tử nói: "Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được ?[112]". Để giữ được chữ tín thì phải cẩn thận trong lời nói, không hứa hẹn những điều vượt quá khả năng của mình vì như Khổng Tử nói "Người xưa không để khinh suất khi nói ra, bởi sợ xấu hổ vì không thực hiện được lời mình đã nói.[113]".

Những phẩm chất đạo đức này đều có liên hệ với nhau. Hữu Tử nói: "Giữ được chữ tín là đã tiếp cận với nghĩa, có như vậy lời hứa mới thực hiện được. Giữ được cung kính là đã tiếp cận với lễ, có như vậy mới tránh xa được điều sỉ nhục.[114]". Khổng Tử cho rằng "... Người có đức nhân luôn yên tâm làm điều nhân. Người có đức trí ham muốn làm điều nhân.[115]".

Khổng Tử chia con người thành ba hạng:

  • Thánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao minh triết.
  • Quân tử: Người có đạo đức, cao nhã, luôn phấn đấu để làm điều chân chính.
  • Tiểu nhân: Kẻ "hèn mọn", hành động không màng tới đạo đức.

Khổng Tử nói: "Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời, nên không sợ, (mà còn) khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không ung dung".

Bia tiến sĩ tại Văn Miếu Hà Nội. Những người học giỏi đỗ đạt được khắc tên tuổi, quê quán lên bia đá để lưu danh vào lịch sử, qua đó biểu dương tinh thần học tập và làm gương cho đời sau

Muốn trở thành quân tử tức là người có trí tuệ và đạo đức, trí dũng song toàn thì phải học tập không ngừng suốt cả đời. Học được điều gì thì phải thường xuyên ôn tập[116]. Nho giáo đặc biệt coi trọng học vấn, xem học vấn mang mục đích tự thân để nâng cao phẩm giá con người, để hướng tới Chân Thiện Mỹ chứ không phải là thứ dùng để mưu cầu danh lợi. Chỉ có học vấn mới nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của con người, giúp con người tư duy và hành động đúng đắn. Khổng Tử nói: "Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình". "Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh suất.". Học thì phải thông qua Văn. Văn là kiến thức được lưu truyền dưới dạng thành vǎn hoặc ở dạng truyền ngôn, bất thành văn. Do đó vai trò của người thầy là rất quan trọng, đặc biệt là ở tư cách đạo đức.

Sách Trung Dung đã tổng kết lại những điều mà người quân tử, mẫu người tài đức vẹn toàn theo quan điểm Nho giáo, nên làm:

"Người quân tử vừa ra sức coi trọng đạo đức vốn có của mình, vừa ra sức chăm lo học tập; vừa phấn đấu đạt đến tầm rộng lớn của đạo, vừa nắm hết chỗ tinh vi tận cùng của đạo. Muốn có được đạo đức cao minh, phải thông hiểu đạo lý trung dung, ôn tập những kiến thức đã nắm chắc, từ đó mà thu hoạch thêm những kiến thức mới; trung hậu, chất phác, giản dị lại ham chuộng lễ nghi nghiêm túc. Khi ở ngôi cao thì không kiêu ngạo, khi làm kẻ dưới thì chẳng dám gây điều trái nghịch, bất chấp lễ nghĩa. Khi nước có đạo, người quân tử có thể ra giúp nước, nghĩ mưu kế để khiến nước nhà hưng thịnh. Khi nước không có đạo, người quân tử có thể dựa vào trí sáng suốt của mình, tránh cho mình khỏi bị tai ương họa hại.[117]". Vậy nên "người quân tử nhất cử nhất động đều làm gương cho thiên hạ đời đời noi theo, mọi hành vi đều trở thành phép tắc cho thiên hạ đời đời ngưỡng mộ, mọi lời nói đều trở thành khuôn vàng thước ngọc cho thiên hạ đời đời học tập. Kẻ ở xa nghe nói thì đem lòng ngưỡng vọng. Người ở gần thì nhìn mãi không biết chán."[118]
"Đạo người quân tử là che đậy đức hạnh đi, không để lộ ra ngoài, nhưng nó càng ngày càng tỏa sáng thêm. Đạo của kẻ tiểu nhân thì sặc sỡ, cố để lộ ra ngoài, nhưng nó mỗi ngày một mất dần, mỗi ngày một lu mờ đi. Đạo người quân tử bình dị nhưng không làm cho người ta chán, tuy giản dị nhưng có văn nhã, tuy ôn hòa nhưng có lý lẽ. Nếu hiểu đạo lý muốn đi xa phải bắt đầu từ nơi gần, hiểu phong tục được sinh ra là có nguồn gốc, hiểu rõ sâu kín nhất vẫn có ngày hiện lộ ra, được như vậy là có thể tiến vào cõi chí thiện của thánh nhân rồi.[119]".

Không những phải có đầy đủ phẩm chất đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mà con người còn phải luôn thành thật với chính mình, biết tiết chế, kiểm soát hành vi và ý nghĩ của mình. Sách Đại Học viết: "Thành ý khiến cho ý niệm được thành thật. Muốn cho ý niệm được thành thật, trước hết mình không được lừa dối mình... người quân tử khi ở một mình cũng cần phải giữ mình hết sức cẩn thận, tự kiểm tra, chất vấn và làm chủ bản thân... Tài sản có thể làm đẹp nhà cửa. Đức hạnh có thể làm đẹp bản thân. Tâm tư quảng đại thì cử chỉ, thái độ thong dong, thoải mái. Cho nên, người quân tử lúc nào cũng phải làm cho ý niệm của mình được thành thật."[120]. Ai làm được như vậy sẽ ít phạm sai lầm. Khổng Tử nói "Người biết ràng buộc gìn giữ mình mà phạm sai lầm là rất ít thấy.[121]".

Trong mối quan hệ với mọi người, con người cần giữ phép lịch sự, trang trọng mà thành thật, cần tránh kết giao với kẻ tiểu nhân để không bị lây nhiễm thói xấu và để tự bảo vệ mình không bị kẻ khác hãm hại. Người quân tử có sai lầm cũng không ngại sửa chữa. Khổng Tử nói: "Người quân tử nếu không có thái độ trang trọng thì không giữ được uy nghiêm, có học tập cũng không củng cố được thành quả đã học. Làm người phải lấy trung tín làm chính. Không kết giao bạn bè với người chẳng như mình. Có sai lầm không sợ sửa chữa.[122]". Người có đạo đức không bao giờ bị cô lập, nhất định có bè bạn gần gũi thân thiết[123].

Cách sống thanh cao của con người mà Nho giáo khuyến khích là không màng danh lợi, làm việc hết lòng, lời nói thanh nhã, luôn tu tâm dưỡng tính, gần gũi với người có đạo đức. Khổng Tử nói: "Người quân tử có chí học đạo, không theo đuổi việc ăn uống no say mà cầu được thoải mái và sống cuộc đời an nhàn, làm việc với tinh thần mẫn cán, lời nói hết sức cẩn thận, luôn gần gũi người có đức để không ngừng sửa chữa khuyết điểm của mình. Làm được như vậy, có thể nói là người ham học và học đạt kết quả tốt.[124]". Mgười quân tử cũng phải giữ tư cách đạo đức của mình; luôn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người; luôn tĩnh tâm để đánh giá khách quan con người và cuộc đời; thắng không kiêu bại không nản; nghèo hèn không bất mãn, không bi quan yếm thế, không buông xuôi, không quy lụy; giàu sang không kiêu căng khinh người. Đó là sức mạnh tinh thần chân chính của người quân tử. Tử Cống hỏi: "Nghèo hèn mà không nịnh bợ người, giàu có mà không kiêu căng khinh người, như vậy đã được chưa ?". Khổng Tử nói: "Có thể được, nhưng không bằng nghèo hèn mà vẫn lạc quan, giàu có mà lại chuộng lễ nghĩa.".[125]

Để giữ được sự tín nhiệm của mọi người, con người hàng ngày phải tự xét xem mình đã làm việc hết lòng và giữ chữ tín với mọi người chưa. Tăng Tử nói: "Tôi mỗi ngày tự xét mình ba điều. Mưu việc cho người khác đã dốc hết sức lực, tâm trí chưa? Cùng kết giao với bạn bè đã thật giữ điều tín chưa? Tri thức thầy truyền cho đã ôn tập cẩn thận, chu đáo chưa?"[126]. Con người phải không ngừng tự vấn lương tâm, trừ bỏ những suy nghĩ, ý định xấu xa ngay khi vừa nhen nhóm chứ không để nó biến thành hành động để mọi người đều tôn kính tin theo. Sách Trung Dung viết "người quân tử tự xét nơi lương tâm của mình, nếu thấy có ma tà quỷ ám, có đến làm điều ác, thì tự biết hổ thẹn. Người quân tử khi sửa mình mà thấy điều bất cập thì chỉ mình biết, chứ người bình thường không thể nhìn thấy được... Cho nên người quân tử chưa hành động mà vẫn được người ta tôn kính, chưa nói ra mà người ta đã tin theo.[127]". Không những vậy "Nhìn thấy người hiền tài liền nghĩ đến noi gương phấn đấu kịp bằng họ, nhìn thấy người chẳng hiền tài thì phải tự kiểm tra lại mình.[128]". Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được điều này. Khổng Tử có lần cảm thán "Hết rồi, chẳng còn gì nữa! Ta chưa từng thấy người nào có thể phát hiện sai lầm của mình, lại còn biết tự kiểm điểm sai lầm của mình từ tâm can.[129]".

Để có thể hoàn thiện bản thân, đạt đến tầm cao trí tuệ và đạo đức, mỗi cá nhân phải nỗ lực không ngừng với một nghị lực lớn lao. Nhiễm Cầu thưa "Không phải con không thích đạo của thầy, mà là sức lực của con không đủ đấy thôi.[130]". Khổng Tử nói "Nếu sức lực không đủ, nửa đường sẽ phải bỏ dở. Như vậy ngươi đã tự vạch ra mốc giới hạn để hạn chế mình, về cơ bản là không muốn tiến lên nữa.[130]".

Người có đạo đức và trí tuệ cao hơn quân tửthánh nhân. Quân tử là người thực hành các đạo lý do thánh nhân truyền dạy còn thánh nhân là người thông hiểu đạo lý trời đất; người có thể soạn ra cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ. Sách Trung Dung viết:

"Chỉ có bậc chí thánh trong thiên hạ mới có đủ: Tài trí thông minh, nhìn xa thấy rộng, đủ sức để cai trị thiên hạ. Có lòng khoan dung độ lượng đủ để bao dung dân chúng và vạn vật. Tính tình cương nghị quyết đoán đủ để cầm nắm việc chính sự. Thái độ đoan chính ngay thẳng để mọi người kính nể. Văn chương điển lý tinh tế, xét đoán minh bạch đủ để phân biệt phải trái. Đạo đức của bậc chí thánh rộng lớn, sâu xa vô bờ bến, bao la rộng lớn như trời cao, sâu như vực thẳm. Hễ xuất hiện, dân chúng không ai không mến phục. Hễ nói ra, dân chúng không ai không tin cậy. Hễ hành động, dân chúng không ai không thích thú, hài lòng... Chỉ có bậc thánh nhân có đức thật cao cả mới có thể soạn ra được cương lĩnh, biện pháp lớn để quản lý thiên hạ, xây dựng bồi đắp cái gốc lớn cho thiên hạ, thông hiểu hết đạo lý trời đất nuôi dưỡng vạn vật. Bậc thánh nhân chỉ dựa vào sức mình, không nương nhờ ai cả. Nhân ái của bậc thánh nhân cao cả thuần khiết, trí tuệ xiết bao uyên bác thâm thúy, thiên tính đàng hoàng cao rộng như trời. Nếu không phải là người vốn đủ thông minh, thánh trí, thông đạt thiên đức, thì ai có thể hiểu được đạo thành thật cao cả này?[131]".

Giáo sư Vũ Khiêu đã nhận xét: "Nho giáo đã nhận thức được thực tế là những người trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử khuyên người cầm quyền phải "tu thân" để làm tấm gương cho người dưới. Với việc đề cao tu thân, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng ngời về đạo đức Nho giáo của các vị vua, các anh hùng hào kiệt. Theo Nho giáo, người làm quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu để cảm hóa lòng người, để cai trị. Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi ích của vua quan. Thiết nghĩ, ngày nay tư tưởng nêu trên vẫn còn nguyên giá trị. Người cán bộ trong bộ máy nhà nước phải có đức, đó là điều kiện đầu tiên để dân tin yêu, kính phục. Nho giáo coi những người làm quan mà hà hiếp dân là độc ác, để dân đói rét là nhà vua có tội. Nho giáo đã đề cao việc cai trị dân bằng đạo đức, bằng nhân nghĩa, bằng lễ giáo. Muốn thực hiện được đường lối đức trị, người cầm quyền phải luôn "tu, tề, trị, bình"".[132]

Trong Nho giáo, "nhân, lễ, nghĩa, trí, tín" được đặt ra trong quan hệ của con người với chính bản thân mình để tu thân, còn chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác (với xã hội) để làm cho xã hội ổn định, phát triển. Những quan niệm này của Nho giáo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời sự của nó. Trong điều kiện hiện nay, khi mối quan hệ của con người với con người càng được mở rộng, khi xã hội đang có những biểu hiện xuống cấp về mặt đạo đức, tệ quan liêu, hối lộ, tham nhũng đang diễn biến phức tạp, thì tư tưởng về đạo làm người trong mối quan hệ với xã hội của Nho giáo lại càng có ý nghĩa, góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi người để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn[133]

Nền giáo dục Nho giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo trị quốc của Nho giáo rất xem trọng hiền tài chính vì thế các triều đại quân chủ tôn sùng Nho giáo chủ trương tuyển dụng nhân tài cho đất nước qua các kỳ Khoa bảng (科榜). Các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kỳ thi cử này, phần lớn được tuyển chọn làm quan chức cho triều đình.

Các tân khoa nhận áo mũ vua ban

Trước thế kỷ 5, cách tuyển chọn quan chức chủ yếu là theo cửu phẩm trung chính chế, tức là chủ yếu dựa vào hoàn cảnh xuất thân, vì thế, con em của các nhà quý tộc luôn được chọn vào các bậc quan cao, gây lũng đoạn chính sách địa phương. Chế độ khoa cử đã đánh đổ điều này, thúc đẩy một số đông người từ tầng lớp bình dân chuyển lên tầng lớp trên, từ đó đảm bảo được sự đổi mới của đội ngũ quan lại. Một là tầng lớp nhà nho kinh điển bước vào hệ thống quan lại để thực hiện lý tưởng "trị quốc bình thiên hạ", mặt khác, do xuất thân ở tầng lớp dưới của xã hội, họ có thể hiểu được nỗi khổ của nhân dân và những cái xấu tốt, lợi hại trong việc cai trị, trong một mức độ có thể giảm bớt những sự hư hỏng, hạn chế hủ bại của chế độ. Do đã tiếp thu giáo dục văn hoá có hệ thống, nắm vững những tri thức lý luận về phương pháp quản lý quốc gia, được bồi dưỡng đạo đức tương đối tốt, đội ngũ quan lại có trình độ tương đối cao, có lợi cho việc nâng cao hiệu suất hành chính.

Chế độ khoa cử bắt đầu từ nhà Tuỳ, định kỳ tiến hành những cuộc thi, thông qua những cuộc thi mà tuyển chọn quan chức, biện pháp này cũng gọi là “khai khoa cử sĩ” (mở khoa thi, chọn quan lại), kết thúc vào đời Thanh, tồn tại trong xã hội Đông Á hơn 1400 năm, nó đã có ảnh hưởng to lớn với sự phát triển của xã hội Đông Á. Chế độ khoa cử có tính cạnh tranh bình đẳng nhất định về trình độ, có ích cho sự thống nhất và phổ cập văn hoá, cho việc ổn định và củng cố sự thịnh trị của các vương triều nên nó rất được coi trọng, bất kỳ hành vi gian lận nào đều bị trừng phạt rất nghiêm khắc. Nhiều triều đình còn cho dựng bia đá, chép sách lưu danh Tiến sĩ để nêu gương muôn thuở.

Những người đố đạt được triều đình ban thưởng rất hậu và cho làm quan, gia đình dòng họ thì tự hào vì đã làm rạng rỡ tông môn. Người không đỗ đạt thì ở nhà dạy học, bốc thuốc, trở thành những người truyền bá văn hoá, tạo thành một xã hội có phong tục tốt đẹp và truyền thống hiếu học.

Lễ Tế Khổng Đại Điển tại đền thờ Khổng Tử ở Đài Loan năm 2013

Do giáo dục được coi trọng, người có kiến thức và văn hóa được xã hội tôn trọng. Từ xưa đến nay, dù là quý tộc hay dân thường, dù giàu hay nghèo thì đều tìm mọi cách đưa con cháu đi học để thành người có đạo đức và tri thức. Địa vị của người thầy rất cao, dân gian có nhiều cách nói về tôn trọng người thầy, ví dụ như “Tôn sư bất luận quý tiện bần phú” (bất kể giàu nghèo sang hèn đều phải tôn trọng người thầy), “nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày làm thầy, cả đời làm cha)... Từ thường dân đến hoàng đế đều rất tôn trọng người thầy, thể hiện trong mọi mặt cuộc sống xã hội. Hiện nay, một số nước như Trung Quốc chọn ngày 10/9, Đài Loan chọn ngày 28/9, Việt Nam chọn ngày 20/11... làm Ngày Nhà giáo để thể hiện sự tôn trọng đối với nghề giáo. Ví dụ, Ngày Nhà giáo tại Đài Loan là một ngày lễ rất lớn, được tổ chức ở hầu khắp các đền thờ Khổng Tử, lễ này còn được gọi là Tế Khổng Đại Điển (祭孔大典), được chỉ đạo tổ chức bởi hậu duệ đứng đầu dòng họ Khổng của Khổng Tử (người này được chính quyền Đài Loan tặng chức vụ danh dự "Đại thành chí thánh tiên sư phụng tự quan" và cấp ngân sách cho việc tế tự Khổng Tử). Trong buổi lễ luôn có phần trao giải thưởng cho các nhà giáo có nhiều cống hiến quý giá cho nền giáo dục.

Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại. Ông tin rằng giáo dục có sức mạnh thay đổi thế giới chẳng kém gì quyền lực chính trị. Có người hỏi ông tại sao không ra làm quan, tham dự hoạt động chính trị. Khổng Tử trả lời: "Sách Kinh Thi có nói: Chỉ có hiếu thuận với cha mẹ, thân ái với anh em, đem tinh thần này phổ biến ra nơi chính trường. Như vậy cũng là đã tham dự chính trị rồi, sao cứ phải ra làm quan mới là tham dự chính trị ?[134]". Trên thực tế chính trị gia dùng quyền lực của mình bắt xã hội đi theo con đường họ cho là đúng với mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp hơn nhưng cái họ tạo ra có khi là thứ tồi tệ hơn. Không quyền lực chính trị nào đủ mạnh, không bộ máy nhà nước nào đủ hiệu quả để có thể buộc cả xã hội phải sống theo những tiêu chuẩn do người lãnh đạo đề ra. Khi người dân từ chối sống theo cách nhà nước áp đặt, họ sẽ dùng mọi biện pháp gian dối để đối phó, để sống theo cách phù hợp với họ. Đạo đức xã hội suy đồi. Trong khi đó chính giáo dục sẽ khiến dân chúng giác ngộ và tự thay đổi cho tốt đẹp hơn. Mỗi người tốt hơn thì xã hội tốt hơn.

Triết lý giáo dục của Nho giáo chủ trương giáo dục toàn diện để tạo ra con người hoàn thiện, tài đức vẹn toàn chứ không phải đào tạo thiên lệch để tạo ra loại người chuyên làm một công việc nào đó. Khổng Tử nói: "Người quân tử không thể giống như khí cụ là chỉ có một tác dụng.[135]". Quan niệm giáo dục này tương đồng với quan niệm giáo dục khai phóng của phương Tây. Điều này trái ngược với ngộ nhận của nhiều người cho rằng nền giáo dục Nho giáo có mục đích tạo ra những người cai trị quốc gia còn người học chỉ có mong muốn duy nhất là làm quan. Đó là hiện tượng do cách tuyển dụng quan lại thông qua khoa cử của các triều đình quân chủ tạo ra chứ không bắt nguồn từ triết lý giáo dục Nho giáo.

Nho giáo là một hệ thống quy tắc đạo đức nên quan điểm giáo dục Nho giáo luôn đề cao Đức dục. Đức dục phải được đặt lên trên Trí dục. Trẻ em cần phải học đạo đức trước rồi mới học kiến thức về tự nhiên và xã hội. Khổng Tử nói: "Tuổi trẻ muốn nên người, ở nhà cần phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài phải tôn kính người hơn tuổi mình, hành vi phải cẩn thận, lời nói phải giữ điều tín, yêu thương rộng rãi mọi người, biết gần gũi người có đức nhân. Làm được vậy rồi, nếu còn dư năng lực, thời gian thì học tập tri thức.[136]". Học phải đi đôi với hành. Người có học nếu không sống có đạo đức theo những gì đã được dạy thì việc học có ích gì? Khổng Tử nói: "Ta cả ngày dạy Nhan Hồi học. Nhưng từ trước đến nay, Nhan Hồi chưa hề thắc mắc một ý nào trái với ý ta, nó giống như một kẻ ngu đần vậy. Nhưng ta đã quan sát điều ăn nết ở riêng của trò Hồi, phát hiện thấy trò Hồi phát huy hết mức những điều ta đã giảng. Nhan Hồi đâu phải là kẻ ngu đần![137]". Nhà Nho đánh giá một người có giáo dục tốt hay không trước hết là qua tư cách đạo đức người đó (còn kiến thức có thể học sau), như Tử Hạ nói:

"Biết tôn trọng người hiền tài thay cho tôn trọng nữ sắc, biết đối đãi với cha mẹ tận tâm tận lực, biết thờ vua với tinh thần liều chết quên mình, giao lưu cùng bạn bè biết nói lời tín thật. Những người như vậy tuy không được học vẫn xem như là người đã có học rồi.[138]".

Phương pháp học tập mà Nho giáo đề cao không phải là học thuộc lòng, tầm chương trích cú mà là nghiên cứu, nghiền ngẫm thấu đáo để thấu hiểu đạo lý nhân sinh, nguyên lý của vạn vật. Khổng Tử nói: "Học mà không suy nghĩ sẽ chẳng có thu hoạch gì, chỉ suy nghĩ mà không học sẽ rất nguy hiểm.[139]". Học phải có sự trao đổi, tranh luận để đi đến chân lý, học phải đi đôi với hành và phải luôn luôn kiên trì, nỗ lực. Sách Trung Dung có đoạn "Trừ khi không chịu học, đã học mà chưa hiểu thì chưa dừng lại, nếu đã chịu hỏi mà chưa rõ, đã chịu suy nghĩ mà chưa tìm ra giải pháp, đã tranh luận mà chưa ra nhẽ, đã chịu làm theo mà chưa tốt, thì đều chưa dừng lại. Người khác làm một lần, mười lần mà có thể đạt được, mình hãy bỏ công một trăm lần, một nghìn lần. Nếu chịu làm theo phương pháp này, thì dù cho có ngu độn đến mấy cũng trở thành thông minh, dù cho có nhu nhược đến mấy cũng trở nên cứng rắn.[140]". Phương pháp này có thể áp dụng với mọi môn học trong mọi thời đại mà không lo bị lạc hậu. Thực chất, những nhược điểm của nền giáo dục Nho giáo tại một số nước châu Á như giáo điều, tầm chương trích cú, mang tính hình thức không phải bắt nguồn từ triết lý đào tạo của Nho giáo mà bắt nguồn từ nội dung khoa cử chuộng cổ văn do chính quyền quân chủ đặt ra, nếu áp dụng nội dung thi mới thì nhược điểm này sẽ không còn. Không những vậy, người học còn phải thường xuyên ôn luyện những điều đã học, tự suy ngẫm để tìm ra những chân lý mới mà thầy chưa dạy. Đây gọi là học một hiểu mười. Ai làm được vậy có thể làm thầy. Khổng Tử nói: "Ôn tập những tri thức đã học mà có thêm hiểu biết mới, như vậy là có thể làm thầy được rồi.[141]". Trong việc học tập phải luôn có thái độ cầu thị, không giấu dốt, sẵn sàng tiếp thu chân lý. Chỉ như vậy mới có thể không ngừng tiến bộ. Khổng Tử nói: "Trò Do ! Ta dạy ngươi đạo lý như thế nào được gọi là biết, ngươi đã hiểu chưa ? Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế cũng là người thông minh có hiểu biết rồi vậy.[142]". Tinh thần học tập của Nho giáo có thể khái quát trong câu nói của Khổng Tử "Buổi sáng biết được chân lý thì dù cho buổi chiều có chết cũng cam tâm.[143]".

Việc bãi bỏ chế độ khoa cử, bên cạnh mặt tích cực là tiếp thu kiến thức khoa học công nghệ, song cũng đã tạo nên sự bại hoại đạo đức tác phong trong xã hội. Trong chế độ khoa cử, tầng lớp thân sĩ luôn nghĩ đến “trị quốc bình thiên hạ”, “thiên hạ hưng vong sĩ phu hữu trách”. Họ trọng nghĩa khinh lợi, hành vi cầu nhân, cầu trí của họ có tác dụng gương mẫu trong xã hội. Nhưng sau khi chế độ khoa cử bị bãi bỏ, việc thi cử bị buông lỏng ky cương, dẫn tới nạn gian lận học vấn, bằng cấp trở nên phổ biến. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ cận đại, địa vị của thương nhân dần được nâng cao, chế độ tư bản ngày càng khuyến khích tư lợi, trở thành tiêu chuẩn hành vi trong xã hội. Thân phận của thân sĩ không còn được coi trọng, những quan niệm giá trị “trọng nghĩa hơn lợi” truyền thống ngày càng bị thay thế bằng lối sống “vì lợi quên nghĩa”, do đó, sự hủ bại trong hệ thống quan lại càng nghiêm trọng thêm, quan hệ xã hội ngày càng bị đảo lộn, ảnh hưởng của nó ở Trung Quốc và Đông Á đến nay còn thấy rõ.

Ảnh hưởng tại các quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử Trung Quốc ghi lại nhiều tấm gương các Nho sĩ tận tâm với đất nước như vậy. Tiêu biểu là thừa tướng Văn Thiên Tường, người lãnh đạo Nam Tống chống lại sự xâm chiếm của Mông Cổ. Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách và thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung thần nghĩa sĩ", tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Sau khi bị bắt, vua Mông Cổ ra sức đem cả quyền thế và vũ lực để ép ông đầu hàng nhưng ông vẫn không khuất phục. Sau khi bị hành quyết, mọi người đã phát hiện có một tờ giấy quấn quanh đai lưng của thi thể ông, tờ giấy đã được viết thay cho lời trăn trối:

"Chức vụ tôi là Tể tướng, mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Xin được nói: Khổng Tử nói muốn có nhân đức phải giữ nghĩa, tôi giữ nghĩa đến cùng nên có nhân. Đọc sách thánh hiền, học được chuyện gì? Đó là làm gì cũng đừng để ngày nay, ngày sau phải hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút".

Bài "Chính khí ca" cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng của ông, được Văn Thiên Tường làm khi đang ở trong nhà tù của quân Nguyên, bốn câu kết là:

Thánh hiền khuất lâu rồi
Khuôn phép vẫn không mất
Hiên gió mở sách coi
Gương xưa soi trước mặt.

Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ phu Nho giáo đời sau, nhất là hai câu thơ:

人生自古誰無死
留取丹心照汗青
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Con người xưa nay ai không chết?
Hãy để lòng son chiếu sử xanh

Sau khi nhà Thanh sụp đổ vào năm 1911, Nho giáo tại Trung Quốc bị bài xích, coi là tàn dư lạc hậu của chế độ phong kiến. Học giả Trần Trọng Kim, tác giả cuốn Nho giáo có nhận xét về sự suy yếu của Nho học ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20 như sau:

Xưa ta học đạo Nho, ta tưởng nước Tàu là nước gốc đạo ấy, tất là người Tàu dù sao cũng còn giữ được cái căn bản nhân nghĩa, lễ trí, ngờ đâu cái nền học cũ đã bị tiêu diệt mất hết cả, chỉ thấy rặt những sự đa trí xảo lừa dối. Nhất là những nơi thành-thị lớn gần miền bể, người ta đắm đuối vào cuộc sống vật chất hèn kém, không thấy gì là lễ nghĩa liêm sỉ cả. Các công chức thì bất cứ việc gì cũng có mánh khóe để ăn hối lộ và những thanh niên phần nhiều xem ra rất xa hoa phù-phiếm, và hầu hết muốn bắt chước sự hành động cử chỉ của người Âu, người Mỹ... Dù sao cái cảm tưởng của một người ở phương xa đã từng theo đạo Nho và chỉ biết nước Tàu nói trong sách cổ, thì thật là một cảm tưởng rất ngao ngán cho giống người học một đường làm một nẻo.[144]

Tại Đài Loan vẫn duy trì Nho giáo đặc biệt trong quan hệ truyền thống gia đình, họ tộc và mối quan hệ công sở, đặc biệt thời Quốc dân đảng theo xu hướng bảo thủ nắm độc quyền lãnh đạo chính trị ở đảo này. Cuối thập niên 1980, Đài Loan cho thi hành dân chủ, nhưng truyền thống Nho giáo khá đậm nét trong văn hóa (Quốc dân đảng coi trọng văn hóa dân tộc, đối lập là đảng Dân tiến coi trọng hội nhập). Ngược lại tại Hồng Kông thì văn hóa tự do phương Tây chiếm ưu thế.

Đến cuối thế kỷ 20, Nho giáo bắt đầu được quan tâm trở lại, nhiều người Trung Quốc muốn phục hưng lại Nho giáo để làm phương châm khôi phục lại đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Năm 1989, trên tờ "Nga Hồ Nguyệt san" trong bài "Ý nghĩa hiện thực và các vấn đề cấp thiết của phục hưng Nho học Trung quốc đại lục", Tưởng Khánh đã chỉ ra rằng: "Vấn đề lớn nhất trước mắt của Trung Quốc đại lục là vấn đề phục hưng Nho học" và tuyên xưng "Nho học lý luận phải là chủ nghĩa, cần được khôi phục lại địa vị cao nhất như trong lịch sử, là tư tưởng chính thống của tinh thần và sinh mệnh của dân tộc Trung Hoa"[145]

Theo Dror Poleg, Thạc sĩ về Lịch sử kinh tế của Trường Kinh tế London, làm việc tại Trung Quốc: thực tế là di sản Nho giáo đã được sử dụng có hệ thống để biện minh cho những hạn chế về tự do cá nhân, từ Tokugawa của Nhật Bản, thông qua Lý Quang Diệu của Singapore, và cho đến thế kỷ 21 của Trung Quốc.

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu (1818 - 1891), người đã có công kết hợp tư tưởng đạo đức Nho giáo với giáo dục khoa học kỹ thuật, tạo nên nền giáo dục Nhật Bản hiện đại

Ở Nhật Bản, Nho giáo bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ 5. Tại Nhật, chữ Trung của Nho giáo là đức mục được đề cao nhất – ngưòi Nhật gọi nó là "Trung thành tâm" (忠誠心chùseishin), và quan hệ bề tôi với chủ ấy gọi là "Quan hệ chủ tòng" (主従関係shujù kankei). Người Nhật ai cũng biết đến câu chuyện về 47 Ronin trong sự kiện Akô thời Nguyên Lộc (1748). Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã hy sinh bản thân báo thù cho chủ: Ôshi thấy đám tang mẹ đã gạt nước mắt ra đi không về chịu tang, rồi đuổi vợ đi để che mắt kẻ thù. Một võ sĩ khác - Hara, đã chia tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ. Bà mẹ của Hara đã cư xử như một liệt nữ Nhật Bản: bà thắt cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của người con trai. Câu chuyện ấy được ghi trong Trung thần tàng (忠臣蔵Chùshingura), được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say mê. Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội đến nay vẫn còn tiếp tục được phát huy trong xã hội Nhật Bản hiện đại.[146]

Đến giữa thế kỷ 19, đứng trước họa thực dân phương Tây, tại Nhật Bản xuất hiện các ý kiến chỉ trích nền giáo dục Nho học tại nước này. Fukuzawa Yukichi trong bài Thoát Á luận đã chỉ trích lối thi cử chú trọng cổ văn nhưng coi thường kiến thức thực tế của Trung Hoa và Triều Tiên. Ông cho rằng 2 nước này "suốt hàng nghìn năm không hề thay đổi và vẫn quyến luyến với những phong tục tập quán cũ kĩ, khi bàn luận về giáo dục thì lên tiếng giữ gìn nền giáo dục Nho học, chỉ biết trích dẫn những lời giáo huấn “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”, chỉ coi trọng hình thức bên ngoài giả tạo mà coi thường chân lí và nguyên tắc, mê tín hủ lậu không biết khoa học là gì, lại còn kiêu căng tự phụ"[147][148][149] Tuy nhiên, theo TS. Lê Ngọc Thúy, Khoa Sư Phạm, Trường Đại học Cần Thơ, hình tượng ‘‘ Đông Á bệnh phu’’ nói chung cũng có hạn chế: nó bắt đầu từ cái nhìn "sùng bái một chiều về nền văn minh vật chất phương tây cũng như cái nhìn phủ nhận một chiều về những giá trị thực sự của dân tộc mình, đi tới nguy cơ đánh mất chính mình trong những công cuộc “văn minh Âu hóa” đầy rẫy bi kịch. Ánh hào quang của các tiêu chí phương tây tuy có nhiều giá trị gợi mở nhưng cũng không ít hiểm họa mà đáng sợ nhất là tinh thần sùng bái vật chất, là kiểu sống nhân danh “đấu tranh sinh tồn”, “chủ nghĩa tinh hoa”, chủ nghĩa dân tộc cực đoan vốn có quan hệ khá nhiều với các chính sách xâm lược thực dân, chế độ phát xít".[149]

Triều đình và những trí thức Nhật Bản, một mặt thấy được chỗ bất cập của Nho giáo trong thời kỳ mới, mặt khác họ vẫn muốn sử dụng giá trị Nho giáo làm công cụ giáo dục đạo đức, nhất là giáo dục lòng trung thành, xây dựng một nước Nhật Bản theo chủ trương “Nước giàu binh mạnh”.[149] Nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi nhận xét rằng “Ở Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên lúc này đều có những khẩu hiệu tương tự nhau như Hòa hồn dương tài (Tinh thần Nhật và kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo tây khí (đạo lý phương đông và thực hành phương tây), Trung thể tây dụng (Thể chất Trung Hoa và công dụng phương tây)",[149] tất cả đều nhằm mục tiêu: học hỏi kỹ thuật phương Tây nhưng vẫn duy trì được nền tảng đạo đức Nho giáo trong xã hội. Yoshiharu Tsuboi xác nhận cộng đồng Đông Á “có cùng một vấn đề đã đặt ra cho Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản là làm sao bảo vệ được dân tộc và bản sắc dân tộc chống xâm lược phương Tây mà vẫn giữ gìn các giá trị truyền thống đặt trên cơ sở Nho giáo".[149]

Năm 1880, tại Nhật Bản, cải cách Minh Trị thực thi nền giáo dục mới nhằm chú trọng học hỏi kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây. Bên cạnh đó, triều đình Nhật vẫn khuyến khích nhân dân không được quên nền tảng đạo đức Nho giáo xưa, tuyên dương tinh thần thượng võ cổ truyền vốn có của người Nhật.[150] Trong vấn đề điều hành xã hội, triều đình Minh Trị không học theo Tây Âu mà vẫn tiếp tục duy trì tư tưởng Nho giáo với nền tảng trị quốc mà giới tinh hoa thấm nhuần "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín"; cách gạn lọc này được gọi là "hồn Nhật Bản, tài Tây Âu".[151]

Theo chủ trương đó, năm 1885, Mori Arinori (Sâm Hữu Lễ 森有礼, 1847 - 1889), Văn Bộ khanh (Bộ trưởng Giáo dục) đã ban bố quy chế giáo dục đạo đức Nho giáo cho học sinh. Sau đó, Nam tước Motoda Nagazane/Nguyên Điền Vĩnh Phu 元田永孚 (1818 - 1891), Thị giảng Cung Nội tỉnh công bố bộ sách ghi những lời chỉ dụ về giáo dục của Thiên hoàng gọi là Sắc chỉ giáo dục (教育勅語). Trong đó phần đầu ghi lại những lời dạy của các Thiên hoàng trong lịch sử xác lập quan hệ giữa đạo đức và quốc gia: Lòng trung hiếu của thần dân là "tinh hoa của quốc thể", là "ngọn nguồn của giáo dục"… Tiếp theo trình bày 12 đức mục: Hiếu với cha mẹ, Hoà vợ chồng, Tôn trọng pháp luật, Tinh thần xả thân khi quốc gia hữu sự… Tinh thần ấy về cơ bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo truyền thống[146]

Theo quan điểm của Motoda Nagazane, giáo dục cần chú trọng đến truyền thống và đạo đức trước khi dạy về khoa học và thế giới, ông chủ trương phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc Nhật Bản. Theo ông, việc hội nhập với văn hoá phương Tây chỉ tạo ra một môi trường mà theo đó, nhiều người Nhật Bản đã quên mất các tập tục của cha ông và kết quả trực tiếp là đánh mất truyền thống dân tộc. Ông cho rằng, cải cách giáo dục cần phải "tập trung vào học tập luân lý theo Khổng giáo dựa trên cơ sở những lời dạy của tổ tiên”[152]

Triều đình Thiên hoàng tập trung phổ biến, truyền bá tư tưởng Nho giáo cho các học sinh. Sắc lệnh giáo dục năm 1880 quy định nhà trường đối với môn lịch sử phải đặt trọng tâm vào thể chế kiến quốc, tức "Chủ nghĩa hoàng gia là trung tâm". Năm 1890, Thiên hoàng Minh Trị đích thân ban bố "Sắc chỉ giáo dục", lấy việc "phò tá hoàng vận", "chí trung chí hiếu" làm căn bản, mỗi học sinh phải thuộc lòng "Sắc chỉ" của Thiên hoàng và "Di huấn của Hoàng tổ Hoàng tông". Một đoạn trong "Giáo viên Tiểu học cần biết" soạn thảo năm 1881 có ghi:

…Phàm dạy môn lịch sử trước tiên là phải bồi dưỡng chí khí Trung quân Ái quốc… Trách nhiệm của giáo viên là phải dạy cho học sinh hiểu rõ việc trung thành với hoàng gia, yêu quốc gia…

—"Giáo viên Tiểu học cần biết"[153]

Công cuộc cải tổ của Thiên hoàng Minh Trị đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhật Bản đã có một nền giáo dục có xu hướng mới, nhưng họ vẫn không quên đi văn hóa cổ truyền của đất nước, vẫn đề cao tinh thần đạo đức và chủ nghĩa dân tộc của người Nhật Bản, đề cao truyền thống dân tộc theo tinh thần Khổng giáo nguyên thuỷ.[150] Các tư tưởng Nho giáo ngày nay vẫn là một thành tố rất quan trọng trong cấu trúc xã hội Nhật Bản hiện đại, nó tạo nên đức tính cần kiệm, tôn trọng các quy tắc xã hội, tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể, lòng trung thành và tôn kính bề trên của người dân nước này.

Nhà nước Nhật Bản từ thời cải cách Minh trị kết hợp cả Thần giáo (thuyết duy tâm, được cho là nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa quân phiệt Nhật), Khổng giáo (du nhập từ Trung Quốc) và văn minh phương Tây. Chính thể là quân chủ nhị nguyên, đề cao vai trò Hoàng đế. Sau 1945, Nhật Bản có một Hiến pháp mới, Thần đạo không còn là quốc giáo, Nho giáo cũng giảm vai trò, tuy nhiên đảng Dân chủ tự do theo xu hướng bảo thủ nắm quyền liên tục vẫn tiếp thu các truyền thống cũ với văn hóa phương Tây. Đối lập là Đảng Xã hội có xu hướng quốc tế hơn, cởi mở hơn với văn hóa bên ngoài và tư duy bình đẳng.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Nho giáo Việt Nam
Khuê Văn Các ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, xây dựng năm 1076 nhằm đào tạo Nho sĩ phụng sự đất nước
Tượng thờ Khổng Tử ở điện Đại thành thuộc Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, khắc năm 1729[154]

Nho Giáo ở Việt Nam cũng để lại dấu ấn rất lớn trong quá trình giáo dục và lịch sử dựng nước ở các triều đình phong kiến thời trung đại. Tín ngưỡng truyền thống Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích). Ba tôn giáo đã trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo chăm lo tổ chức xã hội, Đạo giáo chăm lo thể xác con người, Phật giáo chăm lo đời sống tâm linh con người. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Phật Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt.[155]

Lịch sử Việt Nam ghi lại tên tuổi của nhiều bậc nhà Nho tài đức: Chu Văn An (1293-1370); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1409-1595), Nguyễn Thiếp (1723-1804)... học trò của họ, dẫu có quyền lực rất cao đi nữa cũng không bỏ rơi lễ nghĩa, đạo đức với thầy. Sử chép rằng, Chu Văn An đã dâng sớ xin vua chém 7 tên gian thần, vua không nghe, tức khắc ông từ quan về quê. Một hôm, học trò ông là Phạm Sư Mạnh, đang làm quan to ở triều, về thăm thầy (tức Chu Văn An), dọc đường qua khu chợ đang họp, Phạm Sư Mạnh sai lính thét dân dẹp đường, làm huyên náo. Biết được sự việc, Chu Văn An giận học trò mình quên Lễ Nghĩa với dân, bèn đóng cửa nhà không cho Phạm Sư Mạnh gặp mặt. Vị quan lớn triều đình đã phải quỳ trước cửa cả buổi thầy mới tha lỗi. Nho giáo đã tạo nên những người thầy can trực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước. Nho giáo thịnh hành nhất vào thời Lê sơ, với nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền.

Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành. Văn Miếu - Quốc Tử Giám lập năm 1076 có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Nơi đây còn lưu giữ nhiều tấm bia ghi lại tên tuổi các Nho sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi Khoa bảng Việt Nam cùng nhiều bài văn bia nêu lên triết lý giáo dục: mở đầu là ca ngợi công đức của các minh quân, ca ngợi đạo Nho và bậc thánh nhân quân tử; phần tiếp theo nói về việc mở khoa thi và liệt kê họ tên, quê quán những người thi đỗ đại khoa; phần cuối là những lời bình về ý nghĩa của việc tuyên dương đạo Nho, trách nhiệm và nghĩa vụ của người đỗ đạt trước giang sơn đất nước.

Nhiều hoàng đế, danh nhân Việt Nam đã để lại những bài thơ ca ngợi tầm quan trọng của Nho giáo tại đây, ví dụ như:

Giáo hoá lan tràn khắp nước ta,
Đạo Thánh đứng đầu cả bách gia,
Nghe nói Bắc phương văn vật thịnh,
Thảo nào Văn Miếu vẫn nguy nga.
Thời trung đạo ấy tới Viêm đô,
Trăm thủa đề cao nhất đạo Nho,
Triều Lý vẫn còn lưu dấu cũ,
Kinh thành riêng để một quy mô.

Một số câu đối như:

Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc.
Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thánh huấn phải ghi lòng.
Sĩ phu có nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nước nhà tôn sùng.
Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc y quan, nơi thanh danh văn vật.

Một số mặt tiến bộ của Nho giáo tại Việt Nam:[156]

  • Tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học. Từ đó các kiến thức học tập được tích lũy, có điều kiện để duy trì và phát triển. Ngoài ra còn tạo cho con người biết đạo ăn ở, biết quan tâm đến người khác, biết sống có văn hóa và đạo đức.
  • Tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử. Bất kể xuất thân ra sao (nông dân, người thợ, lính tráng...) nếu học giỏi đỗ đạt thì có thể ra làm quan giúp nước (ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không thể có được chức vị). Từ đó tạo nên một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ". Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình. Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học tập cần cù.
Tranh vẽ nhà Nho Chu Văn An (1293-1370) trên miếu thờ tại Hà Nội.

Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã ghi khắc sâu đậm vào dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm, chữ "Lễ" luôn nhắc nhở người dân rằng phải học lễ độ, thân ái, hòa thuận với mọi người, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già và phải có trên dưới rõ ràng. Còn chữ "Văn" nhắc nhở con người phải học hành để thành người tài đức. Câu này được phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam.

Tuy nhiên Nho giáo Việt Nam còn có những mặt hạn chế. Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ nói đến "trí dục" và "đức dục" mà không xét đến mặt "thể dục" là mặt cũng rất cần cho sự phát triển toàn diện con người. Những kiến thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập (bởi ở thời của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển). Do vậy, người học tuy thấm nhuần tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng kiến thức về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại không phát triển. Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên Nho sĩ. Khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa có đức", ngược lại nếu không tiếp thu được những tinh hoa tri thức phương Tây mà chỉ bắt chước lối sống, du nhập văn hóa hạ cấp của phương Tây với tâm lý tự ti mặc cảm thầm kín; mô phỏng các hình thức chính trị phương Tây mà không hiểu rõ triết lý, ưu nhược điểm và điều kiện tồn tại của những hình thức đó hoặc tiếp thu những học thuyết chính trị cực đoan mang tính nổi loạn, vô chính phủ, kích động bạo lực, đề cao sức mạnh phá hủy của đám đông thiếu trí tuệ, gây chia rẽ xã hội; xem thường Nho giáo vì cho rằng nó lỗi thời, không phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại thì không những không khắc phục được hạn chế vốn có mà những giá trị đạo đức của nền Nho học, những giá trị văn hóa dân tộc cũng bị đánh mất. Đạo đức suy đồi, văn hóa thui chột thì xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Đó là bi kịch của những nước bị cưỡng ép phương Tây hóa thiếu định hướng và thiếu chiều sâu như Việt Nam, Trung Quốc tương phản với Nhật Bản do chủ động phương Tây hóa một cách có ý thức, có chọn lọc, có hệ thống nên vừa tiếp thu được hệ thống tư tưởng tiến bộ, tri thức khoa học, công nghệ tiên tiến của phương Tây để hiện đại hóa quốc gia mà vẫn bảo tồn được nền tảng đạo đức xã hội, sự đoàn kết quốc gia và bản sắc dân tộc do Nho giáo hun đúc nên trong hàng ngàn năm.

Nhược điểm nghiêm trọng hơn nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật nên vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để được giàu sang, sung sướng. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề mang tầm khu vực, học để kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế, thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên họ ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nước khác cũng chịu ảnh hưởng của Nho giáo.[157]

Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách Nho học như “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, “Tứ thư đại toàn” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “Thuyết ước” (tóm lược học thuyết) và “Ước giải” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “Tính lý đại toàn” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “Tiết yếu”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “Tứ thư thuyết ước” của Chu Văn An, thì ở triều Lê - Trịnh có “Tứ thư ước giải” của Lê Quý Đôn, triều Nguyễn có “Tứ thư trích giảng” của Nguyễn Văn Siêu; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “Tính lý tiết yếu” của Bùi Huy Bích, thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Chính điều này đã lược bớt rất nhiều điều, làm mất rất nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú và súc tích của học thuyết khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại. Bên cạnh đó, Nho giáo Việt Nam đã pha trộn với tư tưởng của Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác. Nhưng hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Họ không biết bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia ... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáo điều.[157]

Trong thời kỳ hiện đại, nhiều nhà Cách mạng Việt Nam nổi bật như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, và tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm... đều xuất thân từ những gia đình nhà Nho có truyền thống khoa bảng hoặc dạy học. Tuy nhiên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đều lựa chọn dân chủ phương Tây, Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa cộng sản.

Nhà sử học Pháp, ông Pierre Brocheux tin rằng nhà cách mạng Hồ Chí Minh là một người theo Khổng giáo, ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng Giáo, một truyền thống Đông Á với các dòng tư tưởng châu Âu, từ Mác-xít đến Lênin-nít, và cố gắng đưa vào thực tế tính nhân bản và tính công bằng xã hội theo kiểu Khổng Giáo.[158] Tổng kết 30 năm tiếp thu các dòng tư tưởng của mình, nhà cách mạng Hồ Chí Minh đúc kết:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Marx có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách thích hợp với điều kiện của nước ta… Khổng Tử, Giêsu, Karl Marx, Tôn Dật Tiên chẳng phải có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ ở một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất tốt đẹp như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ.”[159]

Theo lời của Linh Mục Vũ Ngọc Long, cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Vậy nếu Nho Giáo đã hun đúc cụ thành một con người trung với nước, hiếu với dân, thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã làm cho cố tổng thống trở thành một con người kính mến Thiên Chúa và yêu thương mọi người.[160]

Theo ông Nguyễn Đức Sự, bước sang thế kỷ XIX, trước sự phát triển và thâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào các nước châu Á lạc hậu, cùng sự lan toả trên phạm vi toàn thế giới của nền văn minh phương Tây, chế độ phong kiến Việt Nam thời Nguyễn và hệ tư tưởng của nó là Nho giáo trở nên lỗi thời. Do đó, nhà nước phong kiến triều Nguyễn đã trở thành lực cản sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nó đẩy xã hội Việt Nam vào cảnh nghèo nàn, lạc hậu, không đủ sức chống lại sự xâm lăng của chủ nghĩa đế quốc. Còn Nho giáo, do là hệ tư tưởng nhằm bảo vệ cái chế độ phong kiến suy tàn ấy nên tất nhiên nó có tính phản động, đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử. Lúc này, Nho giáo đã bộc lộ rõ rệt những nhược điểm và yếu kém của nó. Các nhà chủ trương cải cách ở Việt Nam, đứng đầu là Nguyễn Trường Tộ, đã phê phán những mặt lạc hậu và yếu kém của Nho giáo không những trên phương diện chính trị, như tổ chức nhà nước, củng cố quốc phòng, mà cả trên phương diện kinh tế, tài chính, nhất là trên phương diện văn hoá, giáo dục. Như vậy, ở thế kỷ XIX, Nho giáo đã cản trở sự phát triển của xã hội Việt Nam không những trên phương diện chính trị - văn hoá, mà cả trên phương diện kinh tế - xã hội. Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, xã hội Việt Nam đã trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với đó, văn hoá phương Tây và hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam. Đồng thời, nền giáo dục Nho học bị bãi bỏ. Nho giáo ở Việt Nam tiếp tục suy tàn và đổ vỡ. Tuy nhiên, thực dân Pháp thống trị vẫn muốn duy trì ở Việt Nam những quan hệ phong kiến và những yếu tố của hệ tư tưởng phong kiến để củng cố chế độ thuộc địa. Vì thế, thực dân Pháp đã sử dụng Nho giáo vào việc cai trị dân bản xứ[161].

Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương do Trường Chinh khởi thảo chủ trương đập tan những quan niệm sai lầm của Nho giáo gây ảnh hưởng tai hại ở Việt Nam làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng[162]. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam suy sụp hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của chế độ quân chủ. Từ đây, Nho giáo không còn là hệ tư tưởng chính thống của tầng lớp lãnh đạo xã hội. Nho giáo không còn tồn tại nữa nhưng nó vẫn ảnh hưởng lâu dài trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người và người, trong phong tục tập quán và cả trong những nghi thức thờ cúng, tín ngưỡng cổ truyền của người Việt[163].

Từ cuối thế kỷ 20, việc Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập thế giới đã làm nảy sinh những nguy cơ lớn đối với Văn hóa Việt Nam. Nguy cơ bên trong là sự xói mòn và băng hoại giá trị văn hoá truyền thống. Nguy cơ bên ngoài là việc văn hoá, lối sống phương Tây xâm lấn văn hoá bản địa, tạo ra sự tiêu diệt bản sắc văn hoá dân tộc. Nếu dân tộc Việt Nam bị "hoà tan" bởi văn hóa ngoại lai, đó sẽ là một thảm hoạ lớn và cũng là một loại diệt vong, ghê gớm không kém gì họa mất nước. Trước nguy cơ đó, nhiều người Việt Nam tìm cách hướng về bảo lưu các giá trị truyền thống, tạo ra những cơ hội cho Nho giáo tái sinh. Nho giáo là thành phần quan trọng hàng đầu đã kiến tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam, do đó bảo vệ truyền thống văn hóa Việt Nam sẽ là điều không thể thực hiện được nếu gạt bỏ những gì thuộc về Nho giáo[164]. Tuy nhiên cũng có ý kiến cần bài trừ những mặt tiêu cực Nho giáo. Trong những tàn dư đó có chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, đồng thời cũng mang theo những “bệnh hoạn” của chế độ phong kiến. Nó đã để lại dấu ấn rõ rệt ở tác phong gia trưởng, ở quan niệm tôn ti đẳng cấp trong các cơ quan xí nghiệp, ở sự thiếu bình đẳng trong quan hệ nam nữ và quan hệ gia đình, ở sự rập khuôn, giáo điều trong công tác nghiên cứu và công tác tổ chức, ở sự coi thường công tác chuyên môn mà chỉ lo tiến thân bằng con đường quan chức…[165].

Theo nhận định của Hồ Sĩ Quý (Viện Thông tin KHXH Việt Nam), "thời gian gần đây ở Việt Nam, trong xu hướng chung của việc thực hiện tư tưởng giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống, nhiều yếu tố văn hoá Nho giáo đã được khôi phục và đề cao, thậm chí trong các trường học, khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn" đã được coi như một phương châm ứng xử nền tảng của giáo dục. Mặc dù thực hiện thì chưa được bao nhiêu, nhưng trong tư tưởng, cả xã hội đều thấy các giá trị văn hoá truyền thống mà trong đó những nét tích cực của văn hoá Nho giáo là một bộ phận, đang cần phải được tôn vinh và khôi phục như là một trong các phương thức để ứng xử với các dạng văn hoá ngoại sinh, ngoại lai đang du nhập từ làn sóng toàn cầu hóa. Những giá trị mà Phan Ngọc khái quát, trên những nét lớn là phù hợp với tâm lý chung của cả cộng đồng trên con đường tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh."[13]

Triều Tiên và Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung Lý Hoảng, một trong Nhị đại Nho gia của Hàn Quốc trên tờ 1.000 won
Học viện Khổng tử tại thành phố Andong, Hàn Quốc trên tờ 1.000 won

Nho giáo đã trở thành quốc giáo ở Triều Tiên từ triều đại Chósun. Trong xã hội hiện đại ngày nay ở Triều Tiên cũng như Hàn Quốc (2 nửa của vương quốc Triều Tiên trước kia), tư tưởng Nho giáo vẫn có ảnh hưởng rất lớn.

Giống như Trung Quốc và Việt Nam, Nho học đã tạo ra một lớp trí thức được đánh giá cao trong xã hội Triều Tiên thời Trung Cận đại (Khoa bảng). Vì thế nếu một cá nhân nào đó đi thi và đỗ Tiến sĩ được cả huyện làm đại lễ, đỗ Cử nhân được làm Trung lễ để đón tiếp. Sự kiện thi đỗ được coi trọng hơn là được thăng chức, điều này đã được ghi trong Hương ước Hải Châu như sau: "Nếu như đỗ Tiến sĩ cập đệ thì làm đại lễ, đỗ Cử nhân thì làm trung lễ. Còn lại các loại lễ như lễ đội mũ cho con trai, lễ thăng quan chức lên một bậc đều làm tiểu lễ... và tặng vật cho người đỗ Tiến sĩ là 5 sấp vải bông, đỗ Cử nhân tặng 3 sấp vải bông".

Tư tưởng Nho giáo ở Triều Tiên biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ, quan hệ vợ chồng, anh em, quan hệ với bạn bè người thân. Trong các mối quan hệ này, quan hệ và trách nhiệm đối với cha mẹ là cao nhất. Con không được bất hiếu với cha mẹ, nếu như vi phạm phải chịu hình phạt cao nhất. Bản Mật Dương hương ước soạn năm 1648 đã ghi: "Làm con cốt ở sự thành thật, thành thật là cái gốc của sự hiếu kính". Khi cha mẹ còn sống phải có trách nhiệm phụng dưỡng chu đáo, khi cha mẹ qua đời phải lo tang tế theo đúng lễ tục. Cha mẹ là đấng tối thượng, những người làm con phải luôn ghi nhớ để chăm sóc và phụng dưỡng suốt đời. Ý thức này khiến cho con người sống nhân bản hơn, có giá trị giáo dục cao. Tư tưởng Nho giáo còn thể hiện ở tinh thần "Tôn kính trưởng thượng" - tôn trọng và kính nể bậc trên, người cao tuổi. Tư tưởng Nho giáo đề cập trong Hương ước Triều Tiên còn dạy dân có tính trung tín, đôn hậu với bạn bè người thân, cư xử với nhau có tình nghĩa trước sau.[166]

Theo các học giả Triều Tiên-Hàn Quốc, khi gia đình và đạo đức gia đình được chấn chỉnh và phát huy sẽ khiến cho thuần phong mỹ tục được trở nên tốt đẹp; như thế cũng sẽ góp phần làm ổn định xã hội. Trong lời tựa cho "Hương ước Tây Nguyên", tác giả đã viết: "Người trong một Hương (Huyện) khi khó khăn phải giúp đỡ lẫn nhau, khi có bệnh tật phải cứu giúp nhau, khi có việc phải ra ngoài thì phải hỗ trợ nâng đỡ nhau. Vả lại, khiến cho con em chịu sự giáo dục của gia đình, của trường làng, trường huyện, để đôn đốc nâng cao ý nghĩa của hiếu đễ, khiến cho xã tắc thịnh trị đến muôn đời, phong tục tốt đẹp, thuần lương cũng từ đó mà ra". Tác giả của Lễ An hương lập ước điều cũng viết trong bài tựa như sau: "Bậc đại phu trong làng lấy đức để hành đạo, làm kẻ sĩ tất phải tu chính trong gia đình, làm rạng rỡ nơi làng xóm, sau đó có thể chấn hưng được quốc gia... Huống chi, cái tốt cái xấu có thể xen nhau, Hiếu Đễ Trung Tín nếu bị chậm hoặc không được thi hành thì khiến cho cái xấu, cái ác có thể quay về. Như thế thật là đại hoạ cho xã tắc."

Như vậy, những nhà Nho Triều Tiên đã mang tư tưởng Nho giáo của Trung Hoa để áp dụng vào việc dạy cho dân có những phong tục đẹp theo quan niệm Nho gia. Nho giáo được coi là một chuẩn mực để định ra những giá trị đạo đức và các hành vi ứng xử cho dân. Tư tưởng Nho giáo được các nhà Nho Triều Tiên tiếp thu và phát triển theo xu hướng dân tộc, coi trọng tình cảm gia đình, yêu kính cha mẹ, thương yêu anh em, nhân hậu với người thân, quý trọng tình bằng hữu, hoà mục với xóm làng, trọng nghĩa lý, biết cứu giúp người trong khó khăn hoạn nạn, ứng xử đúng với vị trí của mình.[166]

Truyền thống Nho giáo của người Hàn Quốc trong Tết Trung thu: người con làm lễ dâng rượu cho cha

ở Hàn Quốc và Triều Tiên, vấn đề học vấn được giải quyết một cách đáng khâm phục chính bởi truyền thống Nho giáo hiếu học. Người Hàn Quốc và Triều Tiên, cũng như­ các nước đạo Khổng, luôn tuân thủ nếp sống cần kiệm, nghị lực đeo đuổi học vấn “học không biết mỏi, dạy không biết chán”. Từ truyền thống hiếu học của mình, người Hàn Quốc có đức tính tôn sư trọng đạo rất cao. Ai đó từng dạy học sinh Hàn Quốc đều thấy rõ tinh thần đó. Dân tộc Triều Tiên có một câu cách ngôn giáo dục đáng kính là: “Không được giẫm lên, dù chỉ là cái bóng của thầy”. Lực lượng lao động được đào tạo một cách nghiêm túc và hiếu học là nguyên nhân chính tạo nên sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong thế kỷ 20[8]

Từ năm 1910, Nho giáo đã không còn là quốc giáo, hệ tư tưởng chính thức của Nhà nước tuy nhiên nó vẫn có ảnh hưởng các mối quan hệ gia đình, thái độ chính trị, phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề và nhiều các khía cạnh khác của cuộc sống ở Triều Tiên. Tại Hàn Quốc ngày nay, Nho giáo vẫn ảnh hưởng rất sâu đậm. Trong quan hệ vợ chồng dù không còn khắt khe như thời phong kiến nhưng trách nhiệm của người đàn ông đối với kinh tế vẫn là chính, đa số phụ nữ sau khi lấy chồng đều ở nhà chăm lo việc nhà, nuôi dạy con cái, họ chấp nhận bỏ việc để ở nhà làm hậu phương cho sự nghiệp của chồng. Họ vẫn nêu cao đức hạnh "dâu thảo, vợ hiền" thực hiện "Nghĩa vợ chồng" như một bộ luật bất thành văn.[167]

Vấn đề chữ Hiếu vẫn được nêu cao và được coi là truyền thống tốt đẹp của người dân Hàn Quốc. Đời sống người Hàn Quốc càng khá giả thì việc cúng giỗ tổ tiên chẳng những không mất đi mà lại càng trang trọng, càng giống như phương thức mà các qúy tộc thời xưa đã làm. Tết Trung thu ở Hàn Quốc không phải là Tết thiếu nhi như ở Việt Nam mà là ngày lễ lớn, người Hàn Quốc dù ở xa cũng trở về đoàn tụ gia đình để lễ bái ông bà cha mẹ, cúng lễ và quỳ lạy trước phần mộ tổ tiên. Về phía nhà nước, Chính phủ quy định kỳ nghỉ dài ngày trong dịp lễ này và Tổng thống Hàn Quốc luôn có bài phát biểu chúc Tết Trung thu nhằm nhắc nhở người dân cần ghi nhớ truyền thống của tổ tiên.[168]

Ảnh hưởng lên các tôn giáo khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối thế kỷ 17 trở đi toàn bộ văn học được gọi là Han Kitab đã phát triển trong các tín đồ Hồi giáo ở Trung Quốc những người đã truyền tư tưởng Hồi giáo đến Khổng giáo. Đặc biệt là các tác phẩm của Lưu Trí (劉智) như "Thiên Phương điển lễ" (天方典禮) tìm cách hài hòa Hồi giáo với không chỉ Nho giáo mà còn với Đạo giáo và được coi là một trong những thành tựu tột đỉnh của các nền văn hóa Hồi giáo Trung Quốc.[169]

Đạo giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đông Á, Phật giáo phải đối diện với Nho giáo và Đạo giáo. Sự va chạm gần tiến đến sự dung hợp và kéo dài từ thế kỉ 1 đến thế kỉ 13, khi Tam giáo đã làm xong quá trình thấm quyện vào nhau, tự điều chỉnh, hình thành các xu hướng mới – và ba phái đều xác định được vai trò xã hội của mình, phân công phân vùng với nhau trong đời sống văn hóa xã hội. Nho giáo chi phối cách tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội, giáo dục thi cử, có tác dụng quyết định đến luân lý. Phật giáo và Đạo giáo chi phối trong đời sống hàng ngày và sinh hoạt kinh tế nông nghiệp. Người dân tin ở Trời, bái Thần linh và thờ cúng tổ tiên, Đức Phật cùng với những bậc thánh hiền của Nho giáo.[170]

Cả Phật giáo và Đạo giáo đều khuyến thiện, mà “thiện” thì tức là hiếu với cha mẹ, tôn kính bề trên và trung với vua với nước, yêu thương, cứu giúp, tránh không làm điều tham lam độc ác với người khác. Nói cách khác, làm điều thiện cũng có nghĩa là tôn trọng thể chế và quy phạm đạo lí của Nho giáo.[170]

Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyết “tam phụ” hay thần học “tam phụ”: Thiên chúa là Cha do Alexandre de Rhodes khởi xướng chịu ảnh hưởng của tư tưởng tam cương (ba mối ràng buộc): quân thần, phụ tử, phu phụ của Nho giáo. Trong phép giảng tám ngày A.Rhodes viết: “Bây giờ ta phải có ba đấng bề trên gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta; đấng giữa là vua chúa trị nước; đấng trên tức đức chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống, được ở. Vì chúng ta có cha mẹ, thì mới được thân xác thịt này sinh ra mà chớ… Vua Chúa cũng gọi là cha cả và nước cùng các dân. Chẳng có vua chúa, thì nước ở an lành chẳng được… Ắt thật thượng phụ là cha cả, chúa cả trên hết mọi sự, có thưởng có phạt trọng.[171].

Tư tưởng tam cương, ngũ thường còn được Công giáo vận dụng để hướng dẫn tín đồ sống đạo theo tín lý đề cao hôn nhân một vợ một chồng. Thư của giám mục Hermosilla (Liêm) viết: “Các quân tử cứ lẽ tự nhiên đã suy đến sự ấy đã kể phép nhất phu, nhất phụ trong ba giềng mối can hệ nhất trong thiên hạ quen gọi là tam cương… Ví bằng người ta cẩn thận giữ cho phải miễn trong việc nhất phu, nhất phụ thì các việc khác liền được an.”.[171]

Tại Việt Nam, một thời gian dài cho đến tận đầu thế kỷ XX kinh, bổn, giáo lý... được soạn, in bằng chữ Hán - Nôm (chữ Nho). Tín đồ được xem là có hiểu biết trong xứ, họ đạo, làng Công giáo cho đến trước năm 1945 là những người biết chữ Nho, những người Nho học. Họ học chữ Nho từ các “thầy đồ” ở làng lương. Họ được phép mang đồ lễ tặng thầy, chỉ không được thờ cúng, bái lạy Khổng Tử. Các xứ, họ đạo, làng Công giáo nào có người Công giáo biết chữ Nho thì giáo dân phải học người đó, không được học thầy đồ là lương dân. Một trong những họ (hội đoàn) ra đời sớm là hội Nho gia tập hợp những thầy đồ là tín đồ Công giáo. Chính vì vậy mà Công giáo đã để lại cho Việt Nam một di sản Hán - Nôm quen gọi là Nôm đạo khá đồ sộ.[171]

Tư tưởng Nho giáo thể hiện ở một số công trình kiến trúc Công giáo và cả trong những câu đối ở nhà thờ Công giáo. Nhà thờ chính toà Phát Diệm (Kim Sơn - Ninh Bình) mặt bằng kiến trúc theo hướng Bắc - Nam. Giữa ao hồ dựng tượng chúa Giêsu làm vua nhìn về hướng Nam, hai tay giang rộng. Hướng Nam là hướng của Thánh nhân theo quan niệm: Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ (Thánh nhân nhìn về hướng nam nghe thiên hạ giãi bày). Nhà thờ đá trong khu quần thể nhà thờ chính toà tạc biểu tượng lưỡng nghi/âm dương phía mặt sau hình sư tử và phượng hoàng. Chấn song phương đình là hình thân trúc. Trúc là biểu hiện tính ngay thẳng của người quân tử.[171]

Giá trị của Nho giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tác phẩm Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê nhận xét: "Khổng Tử chủ trương vua phải là người có tài, đức; nhưng thời ông, sự truyền tử đã có từ lâu đời, không thể bỏ được; ông chỉ có thể cải thiện chế độ, đào tạo những kẻ sĩ có tài, để giúp quý tộc và lần lần thay họ mà trị nước. Những kẻ sĩ đó đều được tuyển trong dân chúng, và từ nhà Hán, nhà Đường trở đi, chế độ quân chủ Trung Hoa có tính cách sĩ trị, không còn giai cấp quý tộc cha truyền con nối nắm hết các chức vụ lớn ở trong triều, ngoài quận nữa. Đó là một tiến bộ rất lớn, người phương Tây phải khen. Ông lại giảm bớt quyền chuyên chế của vua bằng cách đề cao nhiệm vụ, tư cách của sử quan, gián quan; dạy cho vua, quan, kẻ sĩ và thường dân rằng vua phải thương dân như con, phải tôn trọng nguyện vọng của dân...; phải chăm lo cho dân đủ ăn, tài sản trong nước phải quân bình, đừng có kẻ nghèo quá, kẻ giàu quá. Suốt thời quân chủ, ông vua sáng lập một triều đại nào cũng nghĩ ngay đến vấn đề quân điền, chia đất cho dân cày trước hết. Sau cùng Khổng Tử có tinh thần nhân bản rất cao. Ông hiếu hoàn trọng trung dung, rất ghét sự tàn bạo, và đa số các vua chúa Trung Hoa theo ông."

Khổng giáo bao hàm lời dạy của các bậc hiền nhân Nho gia, mà là những chỉ dẫn về cách sống thuận theo đạo đức để con người được an vui, xã hội được vững mạnh. Những lời dạy này không được xem là những lời của Thượng đế mặc khải như Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo hoặc Hồi giáo, tùy hoàn cảnh mỗi nước mà sẽ có những cách diễn giải khác nhau song không hề xung đột với nhau về ý tưởng chung và đều hướng con người đến đạo đức mẫu mực. Do đó, không hề có cuộc chiến tranh nào vì lý do tôn giáo trong lịch sử Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản hay Triều Tiên. Đó là một điều mà các học giả phương Tây rất ca ngợi các quốc gia Đông Á.

Dân tộc Trung Hoa đã nhiều lần bị ngoại tộc (Mông Cổ, Mãn Thanh...) xâm chiếm, nhưng văn hiến của họ thì không gươm giáo nào hủy hoại được, ngược lại còn đồng hóa luôn những kẻ đã chinh phục họ, ấy là nhờ một phần lớn ở những tư tưởng sâu xa của Nho giáo đã trui rèn nên một tầng lớp Nho sĩ thông thuộc kinh sử và giàu phẩm chất đạo đức.

Nhờ Nho giáo, người Trung Quốc không ai không xem trọng giáo dục. Khi nhà Hán lập quốc, chính sách của quốc gia có tám chữ "Dựng nước an dân, giáo dục làm đầu". "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", hoàn toàn dùng giáo dục. Do vậy Trung Hoa trải qua hơn 2.000 năm, dù thịnh suy mỗi lúc khác nhau, nhưng đất nước của họ vẫn không hề lụn bại, trong khi các đế chế khác như La Mã, Ba Tư... cứ lần lượt xuất hiện rồi sụp đổ. Việc này ngay đến người ngoại quốc cũng khen ngợi. Không phải chính trị, không phải vũ lực của Trung Quốc, cũng không phải là kinh tế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, mà chính văn hiến của Trung Quốc mới là vũ khí mạnh nhất của họ, giúp đất nước họ trường tồn. Mà gây dựng nên nền văn hiến đó, công đầu thuộc về Nho giáo.

Will Durant thì khen ngợi chế độ giáo dục đạo đức sĩ phu mà Khổng Tử chủ trương. Ông viết: "Một xã hội mà nghĩ rằng phải thử dùng vào việc trị nước những người được đào tạo bằng triết học và cổ điển học, nội điều đó cũng đáng phục rồi. Chế độ ấy và tất cả nền văn minh làm cơ bản cho nó ngày nay bị lật đổ, tiêu diệt vì sức mạnh khốc liệt của sự tiến triển và của lịch sử, điều đó đáng kể là một tai họa cho nhân loại... giá Platon biết được chế độ đó chắc phải thích lắm."[172]

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét:

"Đạo Nho quy định nhất cử nhất động của cá nhân trong gia đìnhxã hội để giữ tình cảm được trung hoà. Trẻ em năm, sáu tuổi đã phải vào khuôn phép nghiêm ngặt, phải nén bản tính ham chạy nhảy, la hét, mà đứng ngay ngắn nghe chuyện đạo lý của người lớn. Tám tuổi, đã phải khăn áo chỉnh tề đứng chắp tay bên bàn thờ những ngày giỗ tết... Nhiều nhà nho có được một tư cách cao, một nhân phẩm quý phần lớn là nhờ được đào luyện trong khuôn khổ lễ nghi ấy."
Thời nay chúng ta hiểu tâm lý trẻ em một cách khác, không uốn nắn tre non mà để cho nó tự nhiên phát triển; trẻ được tự do, có khi phóng túng, tha hồ đùa giỡn, hét la. Nhiều khi những cử chỉ hỗn xược, những lời vô lễ của chúng lại được khen là tinh ranh, là ngây thơ. Trẻ muốn gì được nấy, thành những bạo chúa tí hon trong nhà. Ở trường, người ta chỉ chú trọng đến trí dục, cốt dạy thanh niên biết nhiều khoa học. Luân lý trở thành một môn học phụ và giáo sư luân lý thì bị học sinh chê là cổ hủ.
Vậy là cả nhà và trường đều không lo đào luyện tư cách thanh niên, nên phần đông nhà trí thức bây giờ xét về nhân phẩm kém xa các nhà Nho. Họ họp thành một bọn trưởng giả hãnh tiến, không phải là hạng thượng lưu được quốc dân trọng vọng như các cụ cử, cụ nghè thời trước. Ai cũng nhận thấy nhiều ông tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư tư cách không bằng một chú thợ, một anh bếp."

Phan Ngọc là người có nhiều công trình hơn cả bàn đến ưu thế của các giá trị Châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Trước sau ông đều đề cao giá trị Nho giáo, giá trị văn hoá dân tộc và tin tưởng vào ảnh hưởng tích cực của nó trong sự phát triển của xã hội hiện đại. Phan Ngọc viết:

"Khổng học tồn tại được 2.000 năm ở một phần ba nhân loại, dù có bị xuyên tạc, cũng là một giá trị của Châu Á. Không những thế, nó không chỉ là một giá trị của Châu Á mà của cả nhân loại trong giai đoạn mới này khi thế giới cần phải hiểu những giá trị của Châu Á cũng như Châu Á cần phải hiểu những giá trị của thế giới".[13]

Về những giá trị Châu Á cụ thể, trong "Bản sắc văn hoá Việt Nam", Phan Ngọc coi những giá trị ưu trội của văn hóa Châu Á là:

  • Ham học, thông minh và tháo vát, nhạy bén với mọi thay đổi.
  • Cần cù, chịu khó, thích nghi với hoàn cảnh.
  • Gắn bó với tổ quốc, họ hàng, gia đình.
  • Thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất dày vò, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình.

Phan Ngọc coi những phẩm chất nói trên là ưu thế của Nho giáo trong thời đại ngày nay. Khái quát từ thực tế các quốc gia có văn hoá Nho giáo, viện dẫn chính Khổng Tử và quan điểm của Hồ Chí Minh, Tôn Dật Tiên... nói về ưu thế của Nho giáo, Phan Ngọc đã trình bày rất ấn tượng về những phẩm chất này. Ông viết:

"Tâm thức là cái không cần học cũng biết. Việt kiều hầu như không biết gì tới Nho giáo, ngoài miệng đả kích Nho giáo kịch liệt, nhưng họ vẫn vươn lên từ những địa vị thấp kém nhất để trở thành những người làm chủ kinh tế, khoa học kỹ thuật chính nhờ truyền thống ham học mà Khổng Tử đề xướng. Số ngoại kiều ở các nước hết sức đông đảo, nhưng ngoài các nước theo văn hoá này, chỉ thấy có người Do Thái là sánh được với họ mà thôi... Những người theo Khổng giáo thích sống một cuộc sống giản dị, không bị những đòi hỏi vật chất giày vò, trái lại tìm thấy niềm vui trong cuộc sống hài hoà với mọi người chung quanh, đặc biệt họ gắn bó với gia đình, lo cho con cháu còn hơn lo cho chính mình".[13]

Nhà nghiên cứu Trần Phong Lâm cho rằng, các nhà doanh nghiệp Đông và Tây đều giống nhau ở chỗ chạy theo lợi nhuận, nhưng nhà doanh nghiệp có văn hoá Nho giáo thì vẫn chạy theo lợi nhưng không được (hoặc không dám) bỏ Nghĩa, bởi "Quân thị thần như thủ túc, tác thần sự quân như phúc tâm". Trần Phong Lâm khẳng định mạnh mẽ và tôn vinh rất cao các giá trị Đông Á mà trong đó giá trị văn hoá Nho giáo là trụ cột:

Trước sự tha hoá và lộn xộn của quan niệm giá trị toàn cầu, quan niệm giá trị Đông Á cần đảm đương lấy trách nhiệm nặng nề của thời đại là vực dậy sự băng hoại của tinh thần loài người... Nhân dân Đông Á chiếm khoảng một phần ba nhân loại đã tạo ra cho loài người những di sản vô cùng quý giá trong mọi lĩnh vực, làm cho tương lai loài người tràn đầy hy vọng. Đông Á nhất định sẽ bước vào hàng ngũ những người quyết định số phận chung của loài người... Nếu trong thời kỳ tới đây văn hoá phương Tây không tạo ra được một cuộc phục hưng văn nghệ mới thì hoàn toàn có thể sẽ xuất hiện một thế kỷ mới, trong đó văn hoá phương Đông sẽ thống lĩnh trào lưu văn hoá thế giới.[13]

Có những ý kiến chỉ trích Khổng giáo là lỗi thời, kìm hãm xã hội. Nhưng tác giả Nguyễn Văn Ngọc nhận xét:

"Các học giả Pháp, Mĩ và cả Nga nữa, nay đều thấy tác dụng của Khổng giáo đối với sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Đối với người Nhật hay đối với một số nước mà họ gọi là "Hán hóa" khác thì truyền thống đã không cản trở sự phát triển, trái lại các nước ấy đã biết biến truyền thống lễ giáo thành một thứ "mùn" để ươm trồng lên đó những cây cố tươi tốt... Liệu sau này chúng ta có sửa đổi gì được cái định kiến ngốc nghếch của chúng ta về Hán học, và nói chung về nền văn minh phương Đông mà vì "Bụt chùa nhà không thiêng", chúng ta quá coi thường. Những câu chuyện thường ngày mà chúng ta hằng quan tâm đồng thời cũng là những vấn đề đạo đức muôn thuở, ôn lại những lễ giáo cổ xưa của nhân loại lại giúp ta suy ngẫm chuyện đời nay."[173]

Học nhiều tri thức không có nghĩa là có đạo đức. Tri thức rất cần cho phát triển nhân loại nhưng thiếu đạo đức thì xã hội sẽ rối loạn, nhân loại sẽ suy đồi. Khoa học kỹ thuật tiến bộ rất nhanh trong thế kỷ 20, nên đời sống vật chất cải thiện rất nhiều. Nhưng đời sống vật chất càng tiến bộ, thì mặt trái của xã hội tiêu dùng càng bộc lộ rõ, nền đạo đức và quan hệ giữa người với người càng xấu đi, nhất là làm cho mọi người mất niềm tin với nhau. Nho giáo từ hơn 2.500 năm trước đã thấy rõ được điều này. Cổ nhân từ xưa đã có câu "Ôn có tri tân" (Nhắc lại việc cũ để ngẫm về chuyện thời nay), việc ôn lại các giá trị, lời dạy của Nho giáo vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay.[174]

Phê phán Nho giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Báo Phụ nữ Tân văn thời Pháp thuộc viết Nho giáo tồn tại trong một thời kỳ còn chế độ đại gia tộc... Những thuyết trong Nho giáo không biết tới quyền lợi của cá nhân, mà chỉ biết có họ, có làng, có "nước". Mà "nước" trong thời kỳ phong kiến vẫn khác với nước trong thời kỳ tư bản. Tờ báo cũng phê phán một người tôn sùng đạo Nho "ông vừa ao ước cho nhân dân được những quyền lợi của nhân dân ở các xứ tư sản dân trị, lại dựa... vào những thuyết rất phong kiến, trái hẳn với chế độ tư bản... Ông thuộc về hạng người thanh niên chiêm nghiệm những lý tưởng "quân tử", "chí sĩ" mà quên rằng cái thực tế mới trong xã hội mâu thuẫn hẳn với những đạo lý rất xưa ấy. Ông quá mê mệt với những danh từ "cao quý" mà không nhìn thấy cái thực tế. Nếu ông biết thoát ra ngoài những chữ hay ho mà nhận rõ cái ý bảo thủ hàm ở trong sách xưa, cái ý bảo thủ đã gây hại cho đại đa số nhân dân... Đừng có ai lợi dụng những đạo lý phong kiến để "vinh thân phì gia"." Bài báo kết luận Nho giáo là hệ tư tưởng phong kiến trung quân, không có lợi cho dân quyền, giải phóng đẳng cấp và phụ nữ, và thuyết đạo đức không phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội[175].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 11
  2. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 61
  3. ^ “Hội thảo quốc tế về Nho giáo ở Hàn Quốc 2010”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  4. ^ No Enemies, No Hatred. Xiaobo Liu,E. Perry Link, Tienchi Martin-Liao. P 189
  5. ^ Confucius Institute: promoting language, culture and friendliness, Xinhua, ngày 2 tháng 10 năm 2006.
  6. ^ Rectification of statues, The Economist, Jan 20th 2011
  7. ^ a ă “Đạo đức xuống cấp, người Hàn tìm về Nho giáo - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  8. ^ a ă “Nhận thức về giá trị văn hoá nho giáo truyền thống Hàn Quốc với x hội hiện tại”. khotailieu.com - Kho tri thức số. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  9. ^ “Nho giáo”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 17
  11. ^ “Danh ngôn”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 27-29
  13. ^ a ă â b c Vấn đề giá trị quan châu Á: Nghiên cứu so sánh châu Á và phương Tây, Hồ Sĩ Quý, Viện Thông tin KHXH Việt Nam
  14. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 116
  15. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 70
  16. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 71-72
  17. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 145
  18. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 146
  19. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 111
  20. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 74
  21. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 31-32
  22. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 171
  23. ^ a ă â Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 32
  24. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 45
  25. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 99
  26. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 121
  27. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 200
  28. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 156
  29. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 45-46
  30. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 48
  31. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 50
  32. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 59
  33. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 56
  34. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 58
  35. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 63-64
  36. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 64
  37. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 68
  38. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 148
  39. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 172
  40. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 78
  41. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 81-82
  42. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 85
  43. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 102
  44. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 201
  45. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 218
  46. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 219
  47. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 220
  48. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 130
  49. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 132
  50. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 155
  51. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 133
  52. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 178-179
  53. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 132
  54. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 33
  55. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 77-78
  56. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 105
  57. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 197
  58. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 35
  59. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 31
  60. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 28
  61. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 121-122
  62. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 93-94
  63. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 94
  64. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 123
  65. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 19
  66. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 138
  67. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 199
  68. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 33-34
  69. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 34-35
  70. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 52-53
  71. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 87-88
  72. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 162
  73. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 163
  74. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 88
  75. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 75-76
  76. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 16
  77. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 135
  78. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 101
  79. ^ Trích Chương đầu Khai tông minh nghĩa (Mở ra cái gốc để giảng cho rõ nghĩa) của Hiếu Kinh
  80. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 115
  81. ^ Quan điểm hiếu hạnh của Mâu Tử trong Lý Hoặc Luận
  82. ^ Những đứa con bất hiếu, Phụ Nữ Thủ đô, 22/03/2013
  83. ^ a ă â Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 127
  84. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 175
  85. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 176
  86. ^ Luận Ngữ, Nhan Uyên XII, II. Luận Ngữ, Đoàn Trung Còn, Trí Đức Tòng Thơ, tr.189.
  87. ^ Tứ Thư Ngũ Kinh với vấn đề giáo dục gia đình, Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
  88. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 29
  89. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 26
  90. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 27
  91. ^ Đặng Tộc Đại Tông Phả, Họ Đặng miền Trung
  92. ^ “Nho giáo va ảnh hưỏng của nho giáo trong văn hóa tinh thần ở nước ta”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  93. ^ Quan niệm của Nho giáo về gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay, Đặng Thị Hồng Hạnh
  94. ^ “Con người Việt Nam với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  95. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 170
  96. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 11-12
  97. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 24-25
  98. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 74
  99. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 165
  100. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 164
  101. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 166
  102. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 165-166
  103. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 166-167
  104. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 169
  105. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 167-168
  106. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 169-170
  107. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 142
  108. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 174
  109. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 259-260
  110. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 194
  111. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 198
  112. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 140
  113. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 177
  114. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 117
  115. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 163
  116. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 99
  117. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 87
  118. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 89-90
  119. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 92-93
  120. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 23 - 24
  121. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 177
  122. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 110
  123. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 178
  124. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 117-118
  125. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 119
  126. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 103
  127. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 93
  128. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 175
  129. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 203
  130. ^ a ă Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 215
  131. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 91-92
  132. ^ “Tư tưởng đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở nước ta hiện nay Tu”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  133. ^ “Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  134. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 139
  135. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 131
  136. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 107-108
  137. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 129
  138. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 109
  139. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 133
  140. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 79
  141. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 131
  142. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 134
  143. ^ Tứ thư, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, trang 168
  144. ^ Trần Trọng Kim. Một cơn gió bụi. Vietbooks, 2010. Tr 156
  145. ^ “Vận mệnh và tương lai của Nho giáo truyền thống ở Đông Á hiện nay”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  146. ^ a ă “Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  147. ^ 脱亜論(全文), 時事新報』1885(明治18)年3月16日
  148. ^ Thoát Á luận – Fukuzawa Yukichi, tuanvietnam, 15.01.2010
  149. ^ a ă â b c “Hình tượng « Đông Á bệnh phu » trong văn học duy tân Đông Á, Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  150. ^ a ă Minh Trị Thiên Hoàng - Người đặt nền móng cho sự 'Thần kỳ Nhật Bản', Lê Thái Dũng, Tạp chí Nhà quản lý số 27 tháng 09/2005
  151. ^ Sakaiya Taichi, Mười hai người lập ra nước Nhật, Chương I: Thái tử Shotoku, Đặng Lương Mô biên dịch, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
  152. ^ http://www.vusta.vn/vi/news/Trao-doi/Vai-tro-cua-giao-duc-doi-voi-qua-trinh-hien-dai-hoa-trong-thoi-ky-Minh-Tri-o-Nhat-Ban-17786.html
  153. ^ Thẩm Kiên, 10 Đại Hoàng đế thế giới, trang 290
  154. ^ Quyền tri phủ phủ Thuận An Nguyễn Kim Hoa (quê xã Bá Thuỷ, huyện Gia Phúc) tạo tượng Tiên thánh, đề ngày 8 tháng 8 năm Vĩnh Khánh thứ nhất (1729)
  155. ^ Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB GD 1999
  156. ^ Tham khảo Luận văn tốt nghiệp đại học K35_02(2009 - 2013) ngành sư phạm GDCD ĐHCT
  157. ^ a ă Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam, Tạp chí Triết học, Nguyễn Tài Thư, Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
  158. ^ Sách mới về Hồ Chí Minh, BBC Vietnamese Online
  159. ^ “Về cội nguồn Nho giáo của những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Truy cập 8 tháng 3 năm 2015. 
  160. ^ “Giáo xứ St. Barbara tổ chức lễ giỗ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm”. Truy cập 27 tháng 4 năm 2015. 
  161. ^ Nguyễn Đức Sự, Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Văn hóa Nghệ An
  162. ^ ĐỀ CƯƠNG VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM, Trường Chinh, 1943, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.316-321
  163. ^ Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Nguyễn Đức Sự, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/1/2011
  164. ^ “NHO GIÁO TRONG TƯƠNG LAI VĂN HÓA VIỆT NAM”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  165. ^ Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam Nguyễn Đức Sự, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/1/2011
  166. ^ a ă “Tư tưởng Nho giáo trong hương ước chữ Hán Triều Tiên, tham chiếu với hương ước Việt Nam”. Truy cập 22 tháng 12 năm 2014. 
  167. ^ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH HÀN QUỐC HIỆN ĐẠI (Phần 2), TS. Lý Xuân Chung, Trung tâm Nghiên cứu Hàn Quốc,
  168. ^ “ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH HÀN QUỐC HIỆN ĐẠI (Phần 1)”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015. 
  169. ^ Frankel, James (2009). “Uncontrived Concord: The Eclectic Sources and Syncretic Theories of Liu Zhi, a Chinese Muslim Scholar”. Journal of Islamic Studies 20: 46–54. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2011. 
  170. ^ a ă Con người Việt Nam với truyền thống văn hóa Nho giáo hóa, Trần Đình Hượu.
  171. ^ a ă â b MỐI QUAN HỆ GIỮA NHO GIÁO VÀ CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM, NGUYỄN HỒNG DƯƠNG, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Thông báo Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2008
  172. ^ Sử Trung Quốc. Nguyễn Hiến Lê. Chương 3
  173. ^ Cổ học Tinh hoa. NXB Văn học. Trang 386
  174. ^ Cổ học tinh hoa. NXB Văn học. Lời dẫn
  175. ^ Phụ Nữ Tân Văn ngày 5 Tháng Mười 1933

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]