Everton F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Everton F.C.
Everton FC logo.svg.png
Tên đầy đủ Everton Football Club
Biệt danh The Toffees, The Blues,
The People's Club, The School of Science.
Thành lập 1878 với tên St. Domingo F.C.
Sân vận động Goodison Park
Liverpool
England
Sức chứa sân 40.569
Chủ tịch Anh Bill Kenwright
Quản lý Hà Lan Ronald Koeman
Giải đấu Premier League
[[Premier League 2016-2017]] Thứ 7
Website [Trang chủ Trang chủ của câu lạc bộ]
Sân khách
Khác
Mùa giải hiện nay

Everton F.C. / Ɛvərtən / là một câu lạc bộ bóng đá ở Liverpool, Anh, hiện đang thi đấu tại Premier League, một trong những chuyến bay hàng đầu của bóng đá Anh. Câu lạc bộ đã tham gia vào giải đấu hàng đầu với kỷ lục 114 mùa giải và giành chức vô địch giải vô địch 9 lần, và FA Cup năm lần.

Thành lập năm 1878, Everton là thành viên sáng lập của The Football League năm 1888 và đã giành chức vô địch giải vô địch đầu tiên của họ hai mùa sau đó. Sau 4 lần vô địch giải Ngoại hạng và hai trận thắng FA Cup, Everton đã trải qua giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai ngay sau khi hồi phục những năm 1960, khi mà câu lạc bộ giành hai chức vô địch giải đấu và một FA Cup. Giữa những năm 1980 là thời kỳ thành công bền vững gần đây nhất của họ, với hai Giải vô địch Liên đoàn, FA Cup, và Cúp Cúp Cúp Châu Âu năm 1985. Cúp FA gần đây nhất của câu lạc bộ là FA Cup năm 1995.

Những người ủng hộ của câu lạc bộ được biết đến với cái tên Everton. Everton có một sự ganh đua quyết liệt với hàng xóm của mình là Liverpool, và cả hai bên đều thi đấu trận Merseyside. Câu lạc bộ này đã được đặt tại Goodison Park ở Walton, Liverpool, từ năm 1892, sau khi chuyển từ Anfield sang một hàng trong số tiền thuê. Màu sắc nhà của câu lạc bộ là áo sơ mi màu xanh hoàng gia với quần short trắng và vớ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Everton được thành lập dưới cái tên St Domingo FC vào năm 1878 để các thành viên của nhà thờ St Domingo Methodist New Connexion ChapelBreckfield Road North, Everton có thể chơi môn cricket chơi môn thể thao năm này vào mùa hè. Ở trận đấu đầu tiên, câu lạc bộ đã giành chiến thắng 1-0 trước Everton Church Club. Câu lạc bộ được đổi tên thành Everton vào tháng 11 năm 1879 khi những người bên ngoài hội muốn tham gia.

Câu lạc bộ là thành viên sáng lập của Liên đoàn Bóng đá năm 1888-89 và đã giành chức vô địch giải vô địch đầu tiên trong mùa giải 1890-1991. Everton đã giành cúp FA lần đầu tiên vào năm 1906 và League Championship một lần nữa vào năm 1914-15. Sự bùng nổ của Thế chiến thứ nhất vào năm 1914 đã làm gián đoạn chương trình bóng đá trong khi Everton là vô địch, đó là điều mà sẽ lại xảy ra vào năm 1939.

Mãi cho đến năm 1927, thời kỳ thành công đầu tiên của Everton bắt đầu. Năm 1925, câu lạc bộ đã ký Dixie Dean từ Tranmere Rovers. Trong những năm 1927-1928, Dean lập kỷ lục ghi bàn cho các mục tiêu của giải đấu hàng đầu trong một mùa giải với 60 bàn thắng trong 39 trận đấu, đó là một kỷ lục vẫn còn. Anh đã giúp Everton giành chức vô địch giải Ngoại hạng Thứ 3 trong mùa giải đó. Tuy nhiên, Everton đã được chuyển tới Sư đoàn 2 năm sau đó trong lúc hỗn loạn nội bộ tại câu lạc bộ. Câu lạc bộ nhanh chóng hồi phục và đã được thăng cấp lần đầu tiên, trong khi ghi được một số kỷ lục của các bàn thắng trong Sư đoàn thứ hai. Trở lại chuyến bay hàng đầu năm 1931-32, Everton đã không còn thời gian để khẳng định lại vị trí của họ và giành chức vô địch giải vô địch League thứ tư ngay từ cơ hội đầu tiên. Everton cũng giành chức vô địch FA Cup lần thứ hai vào năm 1933 với chiến thắng 3-0 trước Manchester City trong trận chung kết. Kỷ nguyên kết thúc vào năm 1938-39 với giải vô địch League thứ năm.

Sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai lại chứng kiến ​​sự đình trệ của giải đấu, và khi cuộc thi chính thức bắt đầu vào năm 1946, đội Everton đã bị chia rẽ và đánh bại so với đội trước chiến tranh. Everton đã xuống hạng lần thứ hai vào năm 1950-51 và đã không được thăng chức cho đến năm 1953-54, khi họ kết thúc như là người chạy bộ trong mùa thứ ba của họ ở Sư đoàn thứ hai. Câu lạc bộ đã có mặt trên thị trường kể từ đó.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

U14 Priemer League:2012,2013,2014

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 7 tháng 11 năm 2015.[1]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Tây Ban Nha TM Joel Robles
2 Pháp TV Morgan Schneiderlin
3 Anh HV Leighton Baines
4 Cộng hòa Ireland TV Darron Gibson
5 Anh HV John Stones
6 Anh HV Phil Jagielka (Đội trưởng)
7 Cộng hòa Ireland TV Aiden McGeady
8 Costa Rica TV Bryan Oviedo
9 Bờ Biển Ngà Arouna Koné
10 Anh Wayne Rooney
11 Bỉ Kevin Mirallas
12 Anh TV Aaron Lennon
14 Scotland Steven Naismith
15 Anh TV Tom Cleverley
16 Cộng hòa Ireland TV James McCarthy
Số áo Vị trí Cầu thủ
17 Bosna và Hercegovina TV Muhamed Bešić
18 Anh TV Gareth Barry (Đội phó 3)
19 Tây Ban Nha Gerard Deulofeu
20 Anh TV Ross Barkley
21 Anh TV Leon Osman (Đội phó)
22 Cộng hòa Nam Phi TV Steven Pienaar
23 Cộng hòa Ireland HV Séamus Coleman
24 Hoa Kỳ TM Tim Howard
25 Argentina HV Ramiro Funes Mori
27 Anh HV Tyias Browning
28 Uruguay Leandro Rodríguez
30 Anh HV Mason Holgate
32 Anh HV Brendan Galloway
35 Anh Conor McAleny
38 Anh HV Matthew Pennington

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
29 Anh HV Luke Garbutt (cho Fulham mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2016)
Brasil HV Felipe Mattioni (cho Doncaster Rovers mượn đến tháng 1 năm 2016)

Cầu thủ xuất sắc nhất năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Cầu thủ đoạt danh hiệu
2006 Tây Ban Nha Mikel Arteta
2007 Tây Ban Nha Mikel Arteta
2008 Anh Joleon Lescott
2009 Anh Phil Jagielka
2010 Cộng hòa Nam Phi Steven Pienaar
2011 Anh Leighton Baines
2012 Hà Lan John Heitinga
2013 Anh Leighton Baines
2014 Cộng hòa Ireland Séamus Coleman

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “First Team”. Everton F.C. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]