Kazakhstan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Kazahstan)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Қазақстан Республикасы
Qazaqstan Respublïkası
Республика Казахстан
Respublika Kazakhstan
Quốc kỳ Kazakhstan Quốc huy Kazakhstan
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Kazakhstan của tôi
Vị trí của Kazakhstan
Thủ đô Astana
51°10′B, 71°30′Đ
Thành phố lớn nhất Almaty
Ngôn ngữ chính thức tiếng Kazakh, tiếng Nga
Chính phủ Cộng hòa
 -  Tổng thống
Thủ tướng
Nursultan Nazarbayev
Daniyal Akhmetov
Độc lập
 -  Tuyên ngôn  
Diện tích
 -  Tổng số 2,717,300 km² (hạng 9)
 -  Nước (%) 1,7%
Dân số
 -  Ước lượng 2005 15.185.844 (hạng 61)
 -  Mật độ 5,6 /km² (hạng 182)
GDP (PPP) Ước tính 2005
 -  Tổng số $132,7 tỷ đô la Mỹ (hạng 56)
 -  Theo đầu người 8.700 đô la Mỹ (hạng 92)
HDI (2003) 0,761 (trung bình) (hạng 80)
Đơn vị tiền tệ Tenge (KZT)
Múi giờ (UTC từ +5 đến +6)
 -  Mùa hè (DST)  (UTC từ +5 đến +6)
Tên miền Internet .kz
Mã số điện thoại +7

Cộng hoà Kazakhstan (tiếng Kazakh: Қазақстан Республикасы, Qazaqstan Respublïkası; tiếng Nga: Республика Казахстан, Respublika Kazakhstan) là một quốc gia trải rộng trên phần phía bắc và trung tâm của lục địa Á-Âu. Diện tích của Kazakhstan là 2,717,300 km², rộng lớn hơn cả Tây Âu. Kazakhstan là quốc gia có diện tích đứng hàng thứ chín thế giới. Nước này có một phần nhỏ lãnh thổ nằm ở bờ phía tây sông Ural, thuộc phần châu Âu.

Kazakhstan giáp Nga về phía bắc, Trung Quốc về phía đông nam, hai nước Trung ÁUzbekistanKyrgyzstan về phía nam. Kazakhstan cũng có đường bờ biển với 2 biển là biển Aran và biển Caspian.

Trước khi độc lập, Kazakhstan được biết đến với tên gọi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Kazakh, một nước nằm trong Liên Xô. Ngày nay, Kazakhstan là một thành viên của Cộng đồng các quốc gia độc lập (viết tắt theo tiếng Nga là SNG).

Kazakhstan là quốc gia rộng thứ chín trên thế giới, nhưng về dân số chỉ xếp thứ 62 cho nên Kazakhstan là một trong những quốc gia có mật độ dân cư thưa thớt nhất trên thế giới: trung bình 6 người/km². Dân số theo thống kê năm 2006 của Kazakhstan là 15,300,000 người, giảm xuống từ 16,464,000 người vào năm 1989 do sự di cư của cộng đồng người Nga và người Đức Volga. Đại bộ phần địa hình của Kazakhstan là bán hoang mạc.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

[sửa] Thời kỳ cổ-trung đại

Kazakhstan bắt đầu có dân cư từ thời kỳ Đồ Đá, điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp đã tạo điều kiện cho những người dân du mục đến đây sinh sống. Cùng với sự xâm chiếm của đế chế Mông Cổ vào đầu thế kỉ 13, cấc quận hành chính đầu tiên đã được thành lập dưới đế chế Mông Cổ, thậm chí về sau trở thành các lãnh thổ độc lập của người Kazakh Khanate (hay còn gọi là Ak Horde). Những thành thị trung cổ đầu tiên là Alie-Ata và Turkestan đã được phát hiện phía bắc Con đường tơ lụa nổi tiếng, nơi ngày nay chính là Kazakhstan.

Cuộc sống du mục truyền thống trên các thảo nguyên rộng lớn và bán hoang mạc đã tạo nên những cuộc tìm kiếm không ngớt các đồng cỏ có giá trị vô cùng to lớn đối vời nền kinh tế dựa trên chăn nuôi. Dân tộc Kazakh hình thành trên cơ sở nhiều bộ lạc sống trong khu vực vào khoảng thế kỉ 15. Khoảng giữa thế kỉ 16, người Kazakh bắt đầ phát triển ngôn ngữ, văn hóa và nền kinh tế riêng của đất nước mình. Đầu thế kỉ 17, Kazakh Khanate phân rã thành ba cộng đồng Lớn, Vừa và Nhỏ, liên kết trên cơ sở mối quan hệ huyết thống. Tuy nhiên những bất hòa về chính trị, sự liên kết lỏng lẻo về kinh tế và những cuộc chiến giữa các cộng đồng với nhau đã nhanh chóng làm suy sụp đất nước Kazakh Khanate. Những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ giữa các tiểu vương Kazakh và vua Ba Tư đã nổ ra trong nhiều thế kỉ.

[sửa] Thời kỳ cận đại

Đầu thế kỉ 19, đế chế Nga bắt đầu mở rộng tới vùng Trung Á. Đế chế Nga đã xây dựng hệ thống hành chính, quân đội và các pháo đài tại vùng Trung Á để tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng với đế chế Anh trong Trò chơi lớn (tiếng Anh : Great Game) tại vùng Trung Á. Tiếng Nga trở thành thứ tiếng chính thức tại mọi trường học và các cấp chính quyền. Người Nga nỗ lực áp đặt hệ thống chính quyền của mình lên trên sự giận dữ của người Kazakh. Những cuộc vận động dân tộc của người Kazakh đã nổ ra vào những năm 1860 kêu gọi bảo vệ văn hóa và truyền thống dân tộc trước sự Nga hóa của người Nga. Từ thập kỉ 1890, một bộ phận người Slav đến Trung Á đã thành lập thuộc địa tại vùng đất ngày nay là Kazakhstan. Họ đã xây dựng tuyến đường sắt xuyên dãy Ural từ Orenburg đến Tashkent, hoàn thành vào năm 1906. Tuyến đường sắt được giám sát và nhận được sự ủng hộ đặc biệt từ phiá Chính quyền Nhập cư ở St Peterburg. Cuộc chiến tranh giành đất đai và nguồn nước giữa người Kazakh và những người Slav mới đến đã nổ ra. Sự oán giận của người Kazakh dưới ách áp bức bóc lột của chế độ Nga hoàng đã làm bùng nổ cuộc Khởi nghĩa Trung Á năm 1916.

[sửa] Thời kỳ hiện đại

Đế chế Nga sụp đổ vào năm 1917 đã tạo điều kiện cho Kazakhstan có một thời gian độc lập. Tuy nhiên người Kazakh vẫn quyết định gia nhập Liên Xô. Năm 1920, Kazakhstan trở thành một nước cộng hòa tự trị, và năm 1936 là một nước cộng hòa Xô viết nằm trong lãnh thổ Liên Xô.

Nền nông nghiệp tập thể hóa cuối những năm 1920-1930 đã gây ra nạn đói trầm trọng ở Kazakhstan. Nhưng chính quyền Xô viết đã xây dựng một hệ thống chính quyền cộng sản vững mạnh để hội nhập Kazakhstan vào Liên bang Xô viết. Thập kỉ 1930, rất nhiều người dân đến từ các vùng khác của Liên Xô đã đến Kazakhstan.

Giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai đã đánh dấu giai đoạn công nghiệp hóa ở Kazkahstan, nhưng chủ yếu tập trung khai thác khoáng sản để phục vụ cho chiến tranh. Đến khi Stalin qua đời, Kazakhstan vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Năm 1953, lãnh đạo Xô viết Nikita Khrushchev đã đề xướng kế hoạch Virgin Lands với mục tiêu biến những đồng cỏ ở Kazakhstan thành những vùng trồng cây lương thực cho Liên bang Xô viết. Chính sách Virgin Lands sau này được hiện đại hóa và phát triển dưới thời Leonid Brezhnev.

Tình trạng căng thẳng trong xã hội Xô viết đã dẫn tới những yêu cầu phải cải cách chính trị và kinh tế, lên tới đỉnh điểm vào những năm 1980. Tháng 12 năm 1986, nhiều người Kazakh đã biểu tình ở Almaty, thành phố lớn nhất nước này để phản đối việc thay thế chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Kazakhstan Dinmukhamed Konayev bằng Gennady Kolbin, một người Liên bang Nga. Quân đội Xô viết đã đàn áp cuộc biểu tình, rất nhiều người biểu tình đã bị giết hoặc bị bắt giam. Sự căng thẳng lên tới tột độ dưới thời Mikhail Gorbachev với những chính sách đàn áp thẳng tay của ông ta. Khi Liên Xô bắt đầu phân rã và các nước cộng hòa Xô viết đòi độc lập, Kazakhstan tuyên bố là một nước cộng hòa có chủ quyền nằm trong Liên bang Xô viết vào tháng 10 năm 1990. Và đến tháng 8 năm 1991, Liên Xô sụp đổ, Kazakhstan tuyên bố độc lập vào ngày 16 tháng 12 năm 1991. Ngày quốc khánh chính thức của Kazakhstan là ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Sau khi độc lập, Kazakhstan bắt đầu một loạt những cải cách kinh tế và xã hội. Dưới thời Nursultan Nazarbayev, người được bầu làm Tổng thống Kazakhstan năm 1991, Kazakhstan đã phát triển nhanh chóng nền kinh tế thị trường. Tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao nhờ các hoạt động khai thác dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản, đã nhanh chóng nâng cao đời sống người dân Kazakhstan.

[sửa] Chính trị

Kazakhstan là một nước cộng hoà lập hiến. Tổng thống là người đứng đầu quốc gia, đồng thời là tổng chỉ huy lực lượng vũ trang. Tổng thống hiện nay là ông Nursultan Nazarbayev có nhiệm kỳ 7 năm từ năm 1999. Hiện nay ông vẫn tiếp tục được bầu là tổng thống của Kazakhstan. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Ngoài ra còn có 3 phó thủ tướng và 16 bộ trưởng.

Quốc hội Kazakhstan được tổ chức theo mô hình lưỡng viện, gồm có thượng viện và hạ viện. Hạ viện gồm có 67 ghế, trogn đó 10 ghế được từ danh sách của đảng. Thượng viện có 39 thành viên, trong đó có 2 thượng nghị sĩ được bầu từ 16 đơn vị hành chính của Kazkahstan (gồm 14 khu vực và 2 thành phố Astana, Almaty).

[sửa] Phân chia hành chính

Kazakhstan được chia làm 14 khu vực (cũng có thể coi là 14 tỉnh) và 3 tỉnh thuộc thành phố.

Cho tới năm 1997, Almaty vẫn là thủ đô của Kazakhstan. Ngày 10 tháng 12 năm 1997, chính quyền Kazakhstan đã di dời thủ đô về thành phố Astana.

[sửa] Các tỉnh

  • Taldy-Korgan
  • Aqmola
  • Aqtobe
  • Atyrau
  • Batys Qazaqstan (Oral)
  • Mangghystau
  • Ongtustik Qazaqstan (Shymkent)
  • Pavlodar
  • Qaraghandy
  • Qostanay
  • Qyzylorda
  • Shyghys Qazaqstan (Oskemen)
  • Soltustik Qazaqstan (Petropavl)
  • Zhambyl (Taraz)

[sửa] Các thành phố

  • Astana
  • Almaty
  • Bayquogyr

[sửa] Địa lý

Bản đồ Kazakhstan
Bản đồ Kazakhstan

Với diện tích khoảng 2.7 triệu km², Kazakhstan là quốc gia rộng thứ chín trên thế giới và là quốc gia không giáp biển có diện tích lớn nhất. Diện tích của Kazakhstan tương đương với diện tích của vùng Tây Âu. Nước này chia sẻ đường biên giới với các nước Nga (6648 km), Uzbekistan (2203 km), Trung Quốc (1533 km), Kyrgyzstan (1051 km), Turkmenistan (379 km). Các thành phố chính gồm Astana (thủ đô từ năm 1997), Almaty (thủ đô cũ), Karaganda, Shymkent, Semey và Turkestan.

Quang cảnh vùng núi Altay ở Kazakhstan
Quang cảnh vùng núi Altay ở Kazakhstan

Địa hình từ tây sang đông trải dài từ bờ biển Caspian đến dãy núi Altay, từ phía bắc là đồng bằng Tây Siberia đến phía nam là các hoang mạc khô cằn của vùng Trung Á. Thảo nguyên Kazakhstan có diện tích khoảng 804,500 km², chiếm một phần ba diện tích đất nước và là vùng thảo nguyên lớn nhất trên thế giới. Trong các thảo nguyên có nhiều đòng cỏ và các hoang mạc cát. Các sông và hồ quan trọng ở Kazakhstan bao gồm : biển Aran, sông Ili, sông Irtysh, sông Ural, hồ Balkhash và hồ Zaysan.

Do có khí hậu lục địa nên biên độ nhiệt trong năm của Kazakhstan rất lớn. Mùa hạ nhiêt độ lên cao, trung bình đạt hơn 25°C, nhưng đến mùa đông nhiệt độ lại xuống rất thấp, có lúc xuống hơn -20°C. Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm cũng rất lớn. Lượng mưa ít và tập trung chủ yếu vào mùa hạ.

Các nướcchâu Á

Afghanistan | Ai Cập | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | Bhutan | Bờ Tây2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia | Dải Gaza2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc | Hồng Kông3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban | Ma Cao3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nga1 | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippines | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Thổ Nhĩ Kỳ1 | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen

1. Thường gắn với châu Á về mặt địa lý, tuy nhiên cho là thuộc Châu Âu về mặt văn hóa và lịch sử. 2. Lãnh thổ do Israel kiểm soát, Chính quyền Palestin quản lý. 3. Khu hành chính đặc biệt của CHNDTH. 4. Xem thêm: Vị thế chính trị Đài Loan
Công cụ cá nhân
Ngôn ngữ khác