Ủy ban Đối ngoại Quốc hội (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ủy ban Đối ngoại
Quốc hội Việt Nam

Flag of Vietnam.svg
Quốc kỳ Việt Nam

Coat of arms of Vietnam.svg
Quốc huy Việt Nam

Khóa thứ XIV
(năm 2016 - tới nay)
Thành viên
Chủ nhiệm Nguyễn Văn Giàu
Phó Chủ nhiệm Nguyễn Sỹ Cương
Ngô Đức Mạnh
Nguyễn Mạnh Tiến
Vũ Hải Hà
Cơ cấu tổ chức
Cơ quan chủ quản Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Cấp hành chính Cấp Nhà nước
Văn bản Ủy quyền Hiến pháp Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Quy định-Luật tổ chức Luật Tổ chức Quốc hội
Bầu bởi Quốc hội
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Tòa nhà Quốc hội, số 2 đường Độc Lập,
Quận Ba Đình, Hà Nội
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội là cơ quan đối ngoại của Quốc hội với nhiệm vụ thực thi ngoại giao với Quốc hội các nước.

Đồng thời là cơ quan nghiên cứu, quán triệt và thực hiện mục tiêu đối ngoại của Quốc hội.Và là cơ quan thẩm tra dự án,luật,nghị định,nghị quyết liên quan đến các vấn đề đối ngoại của Chính phủ và Nhà nước trước khi đệ trình lên Quốc hội.

Chức năng và nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực hoạt động đối ngoại của Nhà nước và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; thẩm tra điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền phê chuẩn của Quốc hội, báo cáo của Chính phủ về công tác đối ngoại trình Quốc hội;
  • Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực đối ngoại; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của các ngành và địa phương; giám sát việc thực hiện chính sách của Nhà nước đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài;
  • Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực Uỷ ban phụ trách;
  • Thực hiện quan hệ đối ngoại với Quốc hội các nước, các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực theo sự chỉ đạo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội; giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội điều hoà, phối hợp các hoạt động đối ngoại của Quốc hội;
  • Kiến nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan hữu quan và các vấn đề về chính sách đối ngoại của Nhà nước, về quan hệ với Quốc hội các nước, với các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực, với các tổ chức quốc tế khác, về chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Danh sách Ủy viên[sửa | sửa mã nguồn]

Khóa XIV[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ nhiệm:
    • Nguyễn Văn Giàu, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang [1]
  • Phó Chủ nhiệm:
    • Nguyễn Sỹ Cương - Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận
    • Vũ Hải Hà - Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai
    • Ngô Đức Mạnh - Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Thuận
    • Nguyễn Mạnh Tiến - Đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh
  • Ủy viên thường trực:
    • Lê Thu Hà - Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai
    • Đinh Công Sỹ - Đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La
    • Lê Anh Tuấn - Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh
    • Nguyễn Phương Tuấn - Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình
  • 27 Ủy viên khác.

Khóa XIII[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ nhiệm:
    • Trần Văn Hằng, Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An
  • Phó Chủ nhiệm chuyên trách:
  • Uỷ viên:
    • Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương:
      • Nguyễn Hữu Đức, đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp;
      • Đinh Công Sỹ, đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La;
      • Phạm Văn Tấn, đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An;
      • Nguyễn Thanh Thủy, đại biểu Quốc hội tỉnh Hậu Giang;
      • Trần Xuân Vinh, đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam;

Vụ Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1978, Văn phòng Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Phòng Đối ngoại có hai người: ông Trần Quán, Trưởng phòng và Ông Phạm Quốc Bảo, chuyên viên. Năm 1980 sau khi có hiến pháp mới, Văn phòng UBTV đổi tên thành Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Vụ Đối ngoại được thành lập trên cơ sở phòng Đối ngoại. Năm 1981, bà Nguyễn Thị Linh Quy, ĐBQH khoá VII chuyển từ Bộ Ngoại giao về làm Quyền Vụ trưởng Vụ Đối ngoại, Thư ký UBĐN của Quốc hội.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]