Bùi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bùi (chữ Hán: ) là một tên họ phổ biến thứ 9 trong hơn 200 dòng họ ở Việt Nam và phổ biến ở các tỉnh phía bắc Trung Quốc.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Bùi là dòng họ có lịch sử rất lâu đời tại Việt Nam[2]. Họ Bùi đã được biết đến từ 2300 năm trước, vì người ta đã tìm thấy một bài vị biên chép về lịch sử của vua Lê Đại Hành trong đó có ghi: "vào năm 257 trước Công nguyên, nhà Thục xâm chiếm nước ta, có 4 dòng họ gồm: Ngô tộc, Bùi tộc, Lê tộc, Trần tộc được vua Hùng (Duệ Vương) triệu tập 4 vị Đại Thần cùng 5000 binh mã đã đánh thắng trận đầu, giặc bị tiêu diệt máu chảy thành sông vang dội núi sông."

Thời Hai Bà Trưng có 2 danh tướng là Bùi Trần Việt và Bùi Trần Minh vì lăng mộ hiện vẫn tồn tại suốt gần 2.000 năm nay trên vùng đất tổ Hùng Vương, ở Tam Nông, Phú Thọ. Họ Bùi còn có thể xuất hiện từ trước đó, xuất phát từ thời Hùng Vương hoặc An Dương Vương.

Thời vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) có khai quốc công thần Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng.

Tháng 2 năm 1304 (Giáp Thìn), Bùi Mộc Đạc tên thật là Phí Mộc Lạc là người có tài năng. Thượng Hoàng cho rằng cái tên "Mộc Lạc" là tên xấu (Mộc Lạc trong tiếng Hán nghĩa là cây đổ, cây rụng) nên cho đổi thành "Mộc Đạc" với nghĩa Mộc Đạc là cái mõ đánh vang, và đổi làm họ Bùi. Lấy Bùi Mộc Đạc làm Chi hậu bạ thư chánh chưởng trông coi Cung Thánh Từ. Trong quá trình làm quan, Bùi Mộc Đạc được ghi nhận làm việc hết sức tận tụy, công minh, đem lại nhiều điều lợi cho nhân dân, hiến nhiều kế hay cho triều đình, nổi tiếng trong giới nho học. Sau này người họ Phí trong cả nước hâm mộ danh tiếng của Mộc Đạc nên nhiều người đổi thành họ Bùi.[3] Theo gia phả của nhánh họ Bùi gốc Phí ở Nam Sách (Hải Dương) thì hậu duệ của cụ Bùi Mộc Đạc là Bùi Thị Hý chính là người đã khai sinh ra làng gốm Chu Đậu nổi tiếng, được thờ là tổ nghề của làng gốm Chu Đậu.

Thời vua Lê Lợi (đầu thế kỉ 15) có các vị khai quốc công thần là Bùi Trần Việt , Bùi Hữu Thụ, Bùi Ban, Bùi Ngọc Oánh, Bùi Cầm Hổ. Bùi Cẩm Hổ là thái sư dạy học cho con trưởng của Lê Lợi là vua Lê Thái Tông; con gái Bùi Cẩm Hổ là Bùi Quý Phi, vợ của vua Lê Thái Tông, sinh ra cung vương Lê Khắc Xương.

Thế kỉ 16 có Bùi Tá Hán (1496–1568) là một cận thần của đại thần Nguyễn Kim (cha của Nguyễn Hoàng) có công khôi phục triều Lê Trang Tông (năm 1533). Đến thế kỷ 18 có Bùi Thế Đạt làm trấn thủ trông coi cả vùng biển Đông thuộc Bắc Trung bộ ngày nay.

Tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, mở khoa thi đầu tiên (năm 1075) lấy 4 vị tiến sĩ thì có 1 vị họ Bùi. Từ đó đến cuối triều nhà Nguyễn, trải qua 10 thế kỉ về khoa bảng, họ Bùi có đến 76 vị tiến sĩ, trong đó có 4 vị là bảng nhãn (học hàm kế sau trạng nguyên) và một vị trạng nguyên là Bùi Quốc Khái (đỗ triều Lý Cao Tông).

Thời cận đại có Bùi Huy Bích (1744) cháu 7 đời của Bùi Xương Trạch. Thân phụ của tể tướng Bùi Xương Trạch ở xã Cát Xuyên, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá chuyển sang làng Định Công, Hà Nội, sau đó chuyển sang Thịnh Liệt sinh sống, lập nghiệp, lập nên gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt, còn được gọi là Sơn Nam vọng tộc. Bùi Dương Lịch (1757–1828) là nhà văn hóa lớn của Việt Nam thời Tây Sơn và nhà Nguyễn, đỗ Hương cống năm 17 tuổi, đỗ Hoàng giáp năm 30 tuổi. Con trai ông là Bùi Thức Kiên cũng đỗ Hoàng giáp.

Ở miền bắc Việt Nam dân tộc Mường cũng có họ Bùi. Các tỉnh có dòng họ như: Gia tộc họ Bùi làng Thịnh Liệt, Gia tộc họ Bùi làng Thọ vực, Hoa Nam, Đông Hưng, Thái Bình, dòng họ Bùi Phất Lộc Ngõ Phất Lộc, Phố Hàng Bạc, Hà Nội, dòng họ Bùi ở Quảng Ninh, Quảng Nam - Đà Nẵng... Hàng năm trên website họ Bùi (www.hobuivietnam.com.vn) có xuất bản tạp chí nội bộ có tên Thông tin họ Bùi Việt Nam để qua đó nêu gương những người đỗ đạt hoặc có đóng góp nhiều cho xã hội.[4]

Một nhánh lớn của họ Bùi có xuất phát từ họ Phí: Bùi Mộc Đạc là một danh thần đời nhà Trần, vốn tên thật là Phí Mộc Lạc nhưng vì vua Trần Nhân Tông cho là Mộc Lạc là tên xấu, mang điềm chẳng lành (Mộc Lạc trong tiếng Hán nghĩa là cây đổ, cây rụng) nên vua đổi tên Phí Mộc Lạc thành Bùi Mộc Đạc với nghĩa Mộc Đạc là cái mõ đánh vang. Bùi Mộc Đạc làm đại thần trải 3 triều vua Trần. Trong quá trình làm quan, Bùi Mộc Đạc được ghi nhận làm việc hết sức tận tụy, công minh, đem lại nhiều điều lợi cho nhân dân, hiến nhiều kế hay cho triều đình, nổi tiếng trong giới nho học, sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận "Sau này, người họ Phí trong cả nước hâm mộ danh tiếng của Mộc Đạc, đua nhau đổi làm họ Bùi". Đến nay giữa họ Bùi và họ Phí thường có quan hệ hữu hảo tốt đẹp với nhau là vì thế. Chắt nội Bùi Mộc Đạc (Phí Mộc Lạc) tên là Bùi Quốc Hưng là người tham gia hội thề Lũng Nhai và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Sau khi Lê Lợi lên ngôi, phong ông là Nhập nội Thiếu úy, tước Hương thượng hầu, sau thăng Nhập nội Tư đồ, được vua ban Quốc tính họ Lê, nên đổi là Lê Quốc Hưng. Theo gia phả của nhánh họ Bùi gốc Phí ở Nam Sách (Hải Dương) thì một trong số hậu duệ của cụ Bùi Mộc Đạc là Bùi Thị Hý chính là người đã khai sinh ra làng gốm Chu Đậu nổi tiếng, được thờ là tổ nghề của làng gốm Chu Đậu.

Một số nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đại thần thời Phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo-Võ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế-Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Bùi ở Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Bùi ở Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bùi Dũng Tuấn: Diễn viên điện ảnh, đóng phim Mối tình đầu, Bản tình ca mùa đông,...
  • Bae Soo Bin: diễn viên điện ảnh Hàn Quốc

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo cuốn Họ và Tên người Việt Nam của Lê Trung Hoa (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005), họ Bùi là họ phổ biến thứ 9 ở Việt Nam
  2. ^ Dòng họ hậu duệ của vua Lê Lợi ở Thượng trưng
  3. ^ "Thẩm hình viện sự Bùi Mộc Đạc"
  4. ^ Thông tin họ Bùi Việt Nam online

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]