Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nhà nước ở vùng Đông Nam Á, được chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội. Nhà nước này khẳng định chủ quyền một cách xuyên suốt toàn bộ nước Việt Nam hiện nay theo các hiến pháp Việt Nam[1][2] được thông qua bởi Quốc hội Việt Nam khóa I, dù nhiều vùng lãnh thổ sau này bị quản lý thực tế bởi các nhà nước khác. Cuối cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Việt Nam bị chia làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời theo Hiệp định Geneva. Từ năm 1954 đến năm 1976 là một nhà nước độc lập theo chủ nghĩa xã hội, quản lý thực tế miền Bắc Việt Nam. Sau năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sát nhập với Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành một nhà nước thống nhất có tên gọi là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trong Chiến tranh Thế giới II, Việt Nam là một thuộc địa của Pháp, nhưng lại nằm dưới sự chiếm đóng của Nhật Bản. Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh và cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố thành lập tại Hà Nội, chính quyền mới được thiết lập trên toàn bộ đất nước. Hồ Chí Minh người lãnh đạo Việt Minh, trở thành người đứng đầu chính phủ mới. Ngay sau khi Pháp quay trở lại Việt Nam năm 1945, thì cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã nổ ra vào năm 1946. Sau 9 năm chiến tranh, năm 1954 Hiệp định Geneva được ký kết giữa các bên tham chiến, Việt Nam bị chia làm 2 miền lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ ở miền Bắc Việt Nam, trong khi đó Quốc gia Việt Nam kiểm soát ở miền Nam Việt Nam.
Hiệp Định Geneva xác định cuộc tổng tuyển cử thống nhất 2 miền sẽ diễn ra vào năm 1956. Người Pháp chấp nhận đề nghị của thủ tướng Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[3], là cuộc tổng tuyển cử thống nhất sẽ được đặt dưới sự giám sát của các ủy ban tại chỗ.[4] Hoa Kỳ không công nhận Hiệp định Genève đồng thời thực hiện "Kế hoạch Hoa Kỳ" với sự ủng hộ từ phía Quốc gia Việt Nam và Vương quốc Anh, nhằm trợ giúp cho Quốc gia Việt Nam.[5]
Trong Chiến tranh Việt Nam (1955–1975), Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa cùng các đồng minh ở phe Xã hội chủ nghĩa gồm cả Liên Xô và Trung Quốc đã chiến đấu chống lại quân đội của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ và các đồng minh gồm Australia, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và các quốc gia khác. Ở thời điểm cao trào của cuộc chiến, Hoa Kỳ có tới 600.000 quân ở miền Nam Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, kéo dài 21 năm. Chiến tranh kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam được Việt Nam Dân chủ cộng hòa hỗ trợ vào năm 1975. Hai nửa của Việt Nam (miền Bắc và miền Nam) đã thống nhất thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976.
Lịch sử [sửa]
Thành lập [sửa]
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (đây cũng là ngày quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay), sau Cách mạng Tháng Tám với đóng góp chung của toàn dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của của mặt trận Việt Minh.
Trong Cách mạng Tháng Tám, Đảng Cộng sản Đông Dương (tổ chức nòng cốt của Việt Minh) đóng vai trò chỉ đạo chung thống nhất, đưa ra các quyết sách tổ chức tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay chính quyền Đế quốc Việt Nam thân Nhật và lực lượng quân đội đế quốc Nhật Bản, dù trên thực tế ở một số tỉnh thành chưa có hay khôi phục lại tổ chức đảng. Tại miền Bắc, một số tỉnh chưa có tổ chức đảng nhưng mặt trận Việt Minh hoạt động rất mạnh hầu khắp các tỉnh thành. Tại miền Trung, hoạt động của mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản khá mạnh. Trong khi đó ở Nam Bộ, hoạt động của Việt Minh có phần yếu hơn, Đảng Cộng sản chưa khôi phục đầy đủ sau Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trong Cách mạng Tháng Tám, tổ chức Việt Minh đã thu hút được cả lực lượng Thanh niên tiền tuyến do Chính phủ Đế quốc Việt Nam thành lập gia nhập Mặt trận Việt Minh. Tại một số tỉnh Nam Bộ, Thanh niên tiền phong đóng vai trò quan trọng giành chính quyền.[cần dẫn nguồn]
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành bầu cử Quốc hội đầu tiên vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946. Hiến pháp thông qua ngày 9 tháng 11. Trong giai đoạn đầu khi thành lập chính quyền toàn quốc, Việt Minh mà Đảng Cộng sản làm nòng cốt giữ vai trò lãnh đạo. Trong một thời gian ngắn chính quyền bao gồm nhiều tổ chức, đảng phái chính trị tham gia ở cấp trung ương và địa phương (Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, Trốtxkit, Cao Đài, Hòa Hảo,...). Sau một thời gian vài năm hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản ra hoạt động bán công khai trong tổ chức Việt Minh và Liên Việt, và từ năm 1951 hoạt động công khai chính thức giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước. Tham gia chính quyền sau năm 1954 còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, do Đảng Lao động lãnh đạo.
Giai đoạn 1945-1946 [sửa]
| Loạt bài Lịch sử Việt Nam |
||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||
Pháp quay trở lại Việt Nam [sửa]
Ngày 28/11/1943 trước hội nghị Teheran tổng thống Mỹ đã có ý kiến đặt Đông Dương dưới sự quản lý quốc tế. Liên Xô đã chấp thuận đề xuất này. Nhưng sau đó Mỹ ủng hộ Pháp để lôi kéo Pháp vào mặt trận chống Liên Xô. Mỹ cũng nhường chính quyền Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật.
Từ cuối tháng 9 năm 1945 quân đội Pháp núp dưới bóng quân Anh vào giải giáp vũ khí quân Nhật, đã quay trở lại miền Nam Việt Nam. Sự việc này nằm trong tính toán của chính quyền Charles de Gaulle khi Đại chiến thế giới II chưa kết thúc. Ngày 24 tháng 3, 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, de Gaulle đã tuyên bố khẳng định chủ quyền Pháp tại Đông Dương, nhưng sẽ cho Đông Dương tự trị và thực thi tự do dân chủ với Hội đồng liên bang được thành lập với không quá 50% là người bản xứ.
Ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt [sửa]
Ngày 28/2/1946, tại Trùng Khánh, Pháp ký với chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch hiệp ước Hoa - Pháp để quân đội Trung Hoa rút về nước, và đổi lại Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa cũng như nhượng cho Trung Hoa một số quyền lợi tại miền Bắc Việt Nam như việc khai thác một đặc khu tại cảng Hải Phòng và miễn thuế cho hàng hóa Trung Hoa vận chuyển qua Việt Nam.
Trong thời gian đầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết chống lại việc Pháp tái lập chủ quyền ở Đông Dương. Sau đó, theo quan điểm của Ban Thường vụ TW 3 Đảng cộng sản Đông Dương (đã lui vào hoạt động bí mật), tháng 3 năm 1946, nếu Pháp cho Đông Dương tự trị theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của "bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Nhật còn lại". Đến ngày 6 tháng 3, 1946, Chính phủ ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946, cho phép quân đội Pháp ra Bắc thay thế quân Trung Hoa giải giáp quân đội Đế quốc Nhật Bản. Trước đó Pháp và Trung Hoa đã ra thỏa thuận tại Trùng Khánh (Hiệp ước Hoa -Pháp), đồng ý cho quân Pháp ra bắc (28 tháng 2) nhưng khi quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng đã xung đột với quân Trung Hoa dân quốc và lực lượng quân sự địa phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Một số thành viên trong Chính phủ Liên hiệp thuộc Việt Quốc, Việt Cách... không tán thành việc này, đã lên tiếng phản đối, người dân cũng có người băn khoăn, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào để đồng bào hiểu rõ "cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn"[6]. Mặc dù Hiệp định có chữ ký của Vũ Hồng Khanh nhưng đa số lãnh đạo Việt Quốc rút sự ủng hộ của họ cho chính phủ Hồ Chí Minh để phản đối, chống lại những gì họ gọi là "thân Pháp" trong chính sách của Việt Minh. Bảo Đại rời khỏi đất nước vào ngày 18 tháng 3, ngày quân Pháp vào Hà Nội. Một hội nghị liên tịch được tổ chức để khai thông các bất đồng dẫn đến việc thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam[7].
Hiệp định Sơ bộ ấn định lực lượng Pháp sau khi trở ra Bắc, phải rút hết sau một thời gian hai bên quy định không quá 5 năm. Trong khi đó hai bên đình chiến. Nước Pháp cũng công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng và là một thành viên trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp. Vấn đề độc lập của Việt Nam bị gác sang một bên vì Pháp không muốn bàn tới.
Ký kết Tạm ước Việt - Pháp [sửa]
Ngày 14 tháng 9, 1946, Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Tạm ước Việt - Pháp với nội dung Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bảo đảm không xâm phạm những quyền lợi kinh tế, văn hóa hiện hữu của Pháp, tạm thời vẫn sử dụng đồng bạc Đông Dương, bảo đảm giao thông và giao thương trên lãnh thổ Việt Nam, thành lập một liên hiệp quan thuế toàn Đông Dương, Việt Nam ưu tiên sử dụng các chuyên gia người Pháp vào công cuộc kiến thiết quốc gia, cho phép Việt Nam đặt lãnh sự tại nước ngoài, khôi phục trật tự công cộng và các quyền tự do dân chủ, thả tù binh và tù chính trị, phía này không truy bức những người làm việc cho phía kia, chấm dứt việc tuyên truyền thù địch, cộng tác với nhau để làm cho người Pháp và dân Việt Nam không làm hại nhau, tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn. Về thống nhất ba kỳ, nước Pháp cam kết sẽ thừa nhận những quyết định của một cuộc trưng cầu dân ý.[8]
Kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ [sửa]
Trong giai đoạn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ với nền độc lập non trẻ của Việt Nam, nhưng đã không được hồi đáp. Nhiều nhà sử học cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội để quan hệ hữu nghị với Việt Nam, và đây là khúc ngoặt dẫn tới cuộc chiến tranh cay đắng mà Mỹ phải hứng chịu tiếp sau người Pháp.
Chiến tranh bùng nổ [sửa]
Tuy nhiên chiến tranh bùng nổ vào ngày 19/12/1946. Nguyên nhân được Việt Nam đưa ra là sự khiêu khích quân sự liên tiếp tại Hà Nội, Hải Phòng cùng ba bản tối hậu thư của quân đội Pháp.
Giai đoạn 1947 - 1954 [sửa]
Giai đoạn 1955 - 1976 [sửa]
Ký kết Hiệp định Genève [sửa]
Năm 1954, quân viễn chinh Pháp bị đánh bại tại trận Điện Biên Phủ. Pháp phải chính thức công nhận nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo Hiệp định Genève về Việt Nam, nước Việt Nam bị chia thành hai vùng phi quân sự tạm thời trong 2 năm:
- Miền Bắc thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô là Hà Nội, chủ tịch chính phủ là Hồ Chí Minh.
- Miền Nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp và Quốc gia Việt Nam, thuộc khối Liên hiệp Pháp. Quân Pháp sẽ dần rút đi trong 2 năm. Năm 1955, Việt Nam Cộng hòa được thành lập từ Quốc gia Việt Nam sau cuộc trưng cầu dân ý với thủ đô đặt tại Sài Gòn.
Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại bàn đàm phán là: Pháp phải thừa nhận chủ quyền và độc lập của Việt Nam, Campuchia và Lào và rút quân đội khỏi 3 nước này; tiến hành tổng tuyển cử ở ba nước để thành lập các chính phủ thống nhất. Những cuộc tuyển cử trên phải được tiến hành với điều kiện tất cả các đảng phái và tổ chức yêu nước được tự do hoạt động dưới sự giám sát của các ủy ban địa phương. Nếu các điều kiện trên được chấp nhận chính phủ các nước Đông Dương đồng ý xem xét vấn đề gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị tham gia đàm phán có đại diện Chính phủ kháng chiến Lào, Campuchia nhưng các nước phương Tây từ chối.
Theo Hiệp định đã ký kết tất cả ba nước Đông Dưong phải đình chỉ chiến sự và rút quân đội các bên đến khu vực quy định. Tại Việt Nam giới tuyến tạm thời là vĩ tuyến 17. Việc tập kết quân đội hai bên hoàn thành trong thời hạn 300 ngày. Các lực lượng Pháp rút khỏi Lào trong 120 ngày, Campuchia 90 ngày. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng rút khỏi Lào, Campuchia. Tại Lào, quân đội kháng chiến tập kết tại Phong sa lỳ và Sầm Nưa. Các lực lượng kháng chiến Campuchia phục viên tại chỗ. Các chính phủ Vương quốc Lào và Campuchia bảo đảm cho mọi công dân hưởng quyền tự do ghi trong Hiến pháp. Bầu cử tự do được tổ chức tại Campuchia và Lào vào năm 1955 và tại Việt Nam là tháng 7/1956.
Ngay sau thời khắc chia đất nước ra làm hai vùng, đã diễn ra cuộc di cư lớn của gần 1 triệu người dân miền Bắc, mà đa số là người Công giáo, vào miền Nam, với niềm tin "theo Chúa vào Nam". Một số người tin theo lời người Pháp cho rằng họ sẽ bị những chính sách của chính quyền miền Bắc bức hại bản thân họ. Khoảng 140 ngàn người khác ở miền Nam, gồm phần lớn là lực lượng kháng chiến của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Nam hoặc những người đi theo chủ nghĩa cộng sản, tập kết ra miền Bắc theo Hiệp định Genève. Theo như Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève, sẽ có một cuộc tổng tuyển cử ở cả hai miền sau hai năm để thống nhất đất nước.
Cải cách ruộng đất [sửa]
Giữa năm 1955 và năm 1956, một cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành với mục đích lấy ruộng đất của địa chủ, cường hào để chia cho nông dân, dân cày nhằm đấu tranh giai cấp để thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cải cách đã có nhiều điểm sai lầm như đấu tố nhầm, xử tội không thông qua tòa án hoặc chỉ qua "tòa án nhân dân". Các nhà lãnh đạo chính quyền, trong đó có chủ tịch Hồ Chí Minh, đã chính thức xin lỗi trước dân chúng về các sai lầm này đồng thời cách chức và xử phạt nhiều cán bộ.
Hỗ trợ tiến hành chiến tranh ở miền Nam [sửa]
Sau 2 năm, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, chính phủ Việt Nam Cộng hòa từ chối tham gia cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước theo Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève. Sau nhiều cố gắng thương lượng không thành, năm 1959, Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định hỗ trợ tiến hành chiến tranh ở miền Nam để thống nhất đất nước và sau đó thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc.[9]
Với sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hỗ trợ người và của cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để đối đầu với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa suốt 16 năm (1959-1975), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn là hậu phương lớn của chiến trường miền Nam.
Trong thời Chiến tranh Việt Nam, lãnh thổ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chịu nhiều tác hại của cuộc chiến vì các chiến dịch ném bom của quân đội Mỹ với mục đích ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo ước tính, không quân Hoa Kỳ đã ném xuống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoảng 3 triệu tấn bom các loại.
Thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam [sửa]
Với sự kiện 30 tháng 4, 1975, miền Nam Việt Nam được tiếp quản bởi chính quyền lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai miền Việt Nam hợp nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành một đất nước thống nhất với tên gọi mới: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Hành pháp [sửa]
Cơ quan hành pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được gọi là Chính phủ.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời [sửa]
Thành lập [sửa]
Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, Mặt trận Việt Minh thu hút nhiều đảng phái nhanh chóng cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim và lực lượng quân đội đế quốc Nhật Bản. Tại một số khu vực, khi mặt trận Việt Minh cướp chính quyền thì xảy ra xung đột với các các nhóm vũ trang của Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng do cả hai đều cùng theo một mục tiêu.[10]
Tổ chức chính quyền đầu tiên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời, thành lập ngày 28 tháng 8, 1945 trên cơ sở Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám.
Hoạt động [sửa]
Ngay sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng Lâm thời ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái[11][12], với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam" (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng...) nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng", bảo vệ chính quyền non trẻ đồng thời giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác cho nhân dân.[13] Cùng với đó là giải tán nghiệp đoàn[14] để nắm bắt nền kinh tế[15], thống nhất các tổ chức thanh niên (vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam). Đồng thời Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính địa phương các cấp.
Trong cuộc họp đầu tiên của Chính phủ Cách mạng Lâm thời (3/9/1945), toàn bộ các thành viên trong chính phủ đã thống nhất các phương pháp Chủ tịch chính phủ Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề cấp bách của nước mới, bao gồm[16]:
- Phát động tăng gia sản xuất, mở các cuộc lạc quyên để chống nạn đói.
- Mở phong trào chống nạn mù chữ.
- Tổ chức càng sớm càng tốt cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
- Mở phong trào giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, bài trừ các tệ nạn do chế độ thực dân để lại.
- Xóa bỏ các thứ thuế vô lý, trước mắt là thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tuyệt đối cấm hút thuộc phiện.
- Tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết.
Chính phủ Liên hiệp Lâm thời [sửa]
Thành lập [sửa]
Tháng 9 năm 1945, 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 quân đoàn do tướng Lư Hán làm tổng chỉ huy, theo sự phân công của phe Đồng Minh chia làm hai đường tiến vào miền Bắc giải giáp quân Nhật đã kéo vào đóng quân ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt-Trung đến vĩ tuyến 16. Quân của Tưởng Giới Thạch ngoài nhiệm vụ giải giáp quân Nhật còn nhằm thực hiện ý đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan mặt trận Việt Minh, giúp các lực lượng đối lập đánh đổ chính quyền do Việt Minh thành lập, thiết lập chính quyền thân Tưởng.[17]
Các tổ chức Việt Quốc (Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đứng đầu), Việt Cách (đứng đầu là Nguyễn Hải Thần) cũng nhanh chóng từ Trung Quốc đi cùng quân Tưởng trở về Việt Nam. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, mục đích của Việt Quốc, Việt Cách để mở đường, tạo dựng cơ sở cho Quân đội Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam[16], gây xung đột vũ trang với Quân giải phóng và cướp chính quyền các địa phương[17][18] Dựa vào quân đội Tưởng, Việt Quốc và Việt Cách đã chiếm giữ một số nơi ở Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái, liên tục thực hiện các vụ quấy nhiễu, cướp phá, giết người, rải truyền đơn, ra báo Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm nhằm vu cáo nói xấu Việt Minh, chống chính quyền cách mạng và đòi gạt bỏ các bộ trưởng là đảng viên cộng sản ra khỏi chính phủ mới thành lập.[17]
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, do sống từ lâu ở nước ngoài, lại không có liên hệ gì với phong trào cách mạng trong nước, nên Việt Quốc, Việt Cách không nhận được sự ủng hộ của người dân. Tại nhiều nơi có quân Tưởng và Việt Quốc, Việt Cách đi qua; các cơ quan chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang đều dãn ra xung quanh tránh xô xát lớn. Nhân dân thực hiện "vườn không, nhà trống". Điều này đã khiến cho quân Tưởng gặp nhiều khó khăn trên đường đi, còn Việt Quốc, Việt Cách cũng thất bại trong việc khuếch trương thanh thế cũng như mục đích của mình.[19] Còn theo sử gia Trần Trọng Kim Việt Quốc, Việt Cách tuy có thế lực nhờ quân đội Trung Hoa Dân Quốc hỗ trợ, nhưng không thống nhất và không có kỷ luật chặt chẽ.[20]
Ngày 19 tháng 11 năm 1945, tướng Tiêu Văn đứng ra tổ chức một cuộc hội nghị hòa giải có Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Minh tham gia. Mặt trận Việt Minh đồng ý nhượng bộ với Việt Quốc, Việt Cách.[10] Lãnh đạo Việt Cách Nguyễn Hải Thần được bổ nhiệm vào ghế Phó Chủ tịch Chính phủ. Đồng thời hai ghế bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ Vệ sinh, một ghế thứ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế được giao cho các thành viên của Việt Quốc, Việt Cách.[21][22]
Ngày 1 tháng 1 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời với sự tham gia của một số đảng phái đối lập (Việt Cách, Việt Quốc...) hoạt động ở Trung Quốc nhờ sự bảo trợ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng.[23] Thành phần các đảng phái này trong nước không mạnh như Việt Minh.[10][24]
Hoạt động [sửa]
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại[25]. Các đảng này cho là trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản, chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được[26]. Mặc dù bị nhiều đảng phái chống phá, nhưng tại các địa phương, ở đâu cũng có người tự ứng cử, các cuộc tiếp xúc tranh cử công khai, tự do diễn ra ở khắp mọi nơi.[27] Sau khi kết quả bầu cử được công bố, sự thật hoàn toàn không như các đảng phái tuyên truyền. Nhiều đại biểu có uy tín của các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc đều trúng cử tại Quốc hội khóa I hầu hết chưa là đảng viên.[27] Theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng[27]. Tuy nhiên, lá phiếu không bí mật[28] và theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim[29] thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh.[30]
Sau cuộc bầu cử, theo thỏa thuận với Việt Minh, một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng do quân Tưởng ủng hộ, tự nhận là phe đối lập, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội cùng nhiều vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên không tham gia bầu cử.[31]
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội, theo đề nghị của đoàn chủ tịch (Ngô Tử Hạ điều khiển, với Nguyễn Đình Thi làm thư ký, các ghế Quốc hội phân chia tả hữu, theo đó Việt Quốc, Việt Cách (cánhh hữu) ngồi bên tay phải, và các đại biểu Việt Minh, Marxist, Xã hội, Dân chủ ngồi bên tay trái, nhưng theo ý kiến của chủ tịch Hồ Chí Minh thì không nên phân chia như vậy, thể hiện một sự đoàn kết trong Quốc hội.
Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến [sửa]
Thành lập [sửa]
Sau khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946.
Hoạt động [sửa]
Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục...[32] Về đối ngoại đã thực hiện đàm phán với Chính phủ Pháp, ký với đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp J. Sainteny bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 cho phép 15.000 quân Pháp ra Bắc thay thế cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước.
Sau khi bản Hiệp định sơ bộ được ký ngày 6 tháng 3 năm 1946, các đảng phái không cộng sản và thân nước ngoài như Việt Quốc và Việt Cách đã lên tiếng phản đối Chính phủ ký hiệp định này với Pháp. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới Thạch và do một số bất đồng khác đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp.[cần dẫn nguồn]
Từ ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 năm 1946 tại Đà Lạt, chính phủ tổ chức một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau chính thức vào tháng 7 năm 1946.
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này. Cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành. Trước khi đi, Hồ Chí Minh bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho quyền chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Trước khi lên đường sang Pháp, Hồ Chí Minh dự đoán thời gian ở Pháp "...có khi một tháng, có khi hơn"[33] nhưng cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp 4 tháng trong lúc phái đoàn do Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Fontainebleau (diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946). Hội nghị Fontainebleau không đem lại kết quả cụ thể nào. Sau khi phái đoàn của Việt Nam về nước, tại Pháp, ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Pháp bản Tạm ước Việt - Pháp.
Sau khi từ Trung Quốc về Việt Nam, Việt Nam Quốc dân Đảng ngoài việc tìm cách lật đổ Việt Minh để cùng với các đảng phái Việt Cách, Đại Việt... chiếm chính quyền.[34] Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng nhờ có vũ khí do quân Pháp chuyển giao còn tổ chức các đội vũ trang mang tên "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"... Các đội vũ trang này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà nội và một số đô thị ở Bắc Bộ.[35] Không những thế đầu tháng 6 năm 1946, Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cho Nghiêm Xuân Chi (đảng viên Việt Quốc) ám sát một số lãnh đạo của Việt Minh như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh và ông Bồ Xuân Luật, một người cũ của Việt Cách nay đứng về phe Việt Minh.[36]
Trước những hoạt động gây mất trật tự an ninh tại Hà Nội và một số thành phố ở Bắc Bộ, Sở Công an Bắc Bộ đã lập chuyên án mà sau này được lấy tên công khai là Chuyên án số 7 phố Ôn Như Hầu[35]
Ngày 12/7/1946, Việt Nam Công an vụ theo ý kiến chỉ đạo của Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật. Chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương)[37], đã thực hiện phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông Lê Giản (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Công an Hà Nội) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương).[38] Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt có một đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I là Phan Kích Nam. Theo điều tra của Nha công an, Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp.[39]
Trong ngày 12/7/1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy[40] bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do phát hiện Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính chính quyền cách mạng đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14/7/1946.[41] Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên. Nhưng vẫn thực hiện bao vây khám xét để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Lực lượng công an đột kích bất ngờ vào sáng sớm khiến cho lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp có hành động trở tay.[40] Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn.
Ngày 16 tháng 7, quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã có tuyên bố trấn an dư luận: "Những đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng chân chính, được bảo đảm sự tự do hoạt động trong vòng pháp luật...Những kẻ bắt cóc, tống tiền, ám sát thì phải đem ra pháp luật nghiêm trị. Đây không phải là vấn đề đảng phái. Việc khám xét vừa rồi là việc phải làm để bảo vệ trị an...".[42]
Khi quân Tưởng rút quân về nước, lãnh tụ đảng Việt Cách là Nguyễn Hải Thần và các thành viên Việt Quốc - Việt Cách khác trong chính phủ như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo cũng lưu vong sang Trung Quốc. Cánh Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ.[39]. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt, nhưng do bất đồng đã không tham gia hầu hết các phiên họp[43], sau đó cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ[44] (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ rồi đào nhiệm sang nước ngoài[45]). Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các lãnh tụ đảng phái không cộng sản tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.
Theo quy định của luật pháp thì Phó Chủ tịch nước và bộ trưởng do Quốc hội bầu, và chỉ phế truất bởi Quốc hội theo thủ tục quy định của pháp luật.[46] Trong phiên điều trần trước Quốc hội kỳ họp thứ hai liên quan Tạm ước và một số thành viên rời Chính phủ, Hồ Chí Minh có nói:
Tạm ước này có ảnh hưởng tới các hiệp ước ký sau không? Trong xã hội loài người, có cái gì mà không ảnh hướng tới cái khác. Tuy vậy, những sự điều đình sau đây không thể vì bản tạm ước này mà bị ràng bó. Bản Tạm ước này tùy theo sự thi hành thế nào, sẽ tạo điều kiện đẩy cho những cuộc điều đình sau mau chóng đạt kết quả.Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, ông Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh, các ông ấy không có mặt ở đây. Lúc Nhà nước đương gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào trao người ấy làm công việc lớn mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải hỏi lương tâm thế nào? Những người đã bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh vác việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ năng lực gánh vác, nay chúng ta không có họ ở đây chúng ta cũng cứ gánh vác được như thường[47].
Dù vậy một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách như Chu Bá Phượng, Bồ Xuân Luật vẫn tiếp tục tham gia Chính phủ, kể cả khi lên Việt Bắc. Trương Đình Tri vẫn tiếp tục tham gia chính phủ sau vụ án Ôn Như Hầu[48]. Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội, vẫn có 37 đại biểu Việt Quốc, Việt Cách tham gia.
Chính phủ Liên hiệp Quốc dân [sửa]
Thành lập [sửa]
Ngày 3 tháng 11 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Quốc dân nhiều thành phần được thành lập thay cho Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến nhằm đáp ứng tình hình mới.
Hoạt động [sửa]
Trong thời gian kháng chiến, bộ máy hành chính các cấp có nhiều biến đổi. Tổ chức đơn vị hành chính Khu và Liên khu. Thành lập các Ủy ban kháng chiến các cấp. Cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia (1947), sau đổi là Bộ Tổng tư lệnh (1948) rồi Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh. Các cơ quan tư pháp cơ bản tổ chức theo cấp xét xử.
Ban đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể của nước Việt Nam thống nhất, nhưng thực tế sau năm 1954 thì chỉ quản lý từ Vĩnh Linh trở ra. Sau năm 1954 nhà nước bắt đầu đặt ra các mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Chính phủ mở rộng từ 1955 đến 1959 [sửa]
Chính phủ từ 1960 đến 1976 [sửa]
Lập pháp [sửa]
Quốc hội Khóa I [sửa]
Ngày 20 tháng 9 năm 1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp được thành lập theo Sắc lệnh số 34-SL gồm có 7 thành viên: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh).
Ngày 9 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dự kiến trưng cầu dân ý toàn quốc thông qua Hiến pháp, bầu cử Nghị viện nhân dân theo quy định của Hiến pháp mới thay cho Quốc hội lập hiến, nhưng chiến tranh nên không thực hiện được. Khi đó Quốc hội chia theo nhóm: Marxist, xã hội chủ nghĩa, dân chủ, Việt Minh, Đồng Minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng,[49], không kể các đại biểu trung lập.
Tiếp đó, Dự án luật Lao động được thông qua và ban hành ngày 8 tháng 11 năm 1946. Đây là dự luật đầu tiên được thông qua.
Ngày 31 tháng 9 năm 1959, trong kỳ họp tại Hà Nội, Quốc hội khóa I thông qua Hiến pháp mới. Do tình hình chiến tranh, Hiến pháp 1946 chưa được chính thức công bố và chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý.[50]
Quốc hội Khóa II [sửa]
Quốc hội Khóa III [sửa]
Quốc hội Khóa IV [sửa]
Quốc hội Khóa V [sửa]
Tư pháp [sửa]
Giai đoạn 1945 - 1954 [sửa]
Giải tán một số đảng phái [sửa]
Ngay sau khi thành lập để ổn định tình hình, giữ vững nền độc lập non trẻ, ngoài việc giải tán một số đảng phái[11][12] với lý do "tư thông với ngoại quốc", "phương hại đến nền độc lập Việt Nam" (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng...) nhằm kịp thời trừng trị "bọn phản cách mạng", bảo vệ chính quyền non trẻ đồng thời giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác cho nhân dân.[13]; Chính phủ Việt Nam ra các sắc lệnh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những hạng người bị quy là nguy hiểm cho nền Dân chủ cộng hoà Việt Nam[51].
Thành lập Bộ Tư pháp [sửa]
Bộ Tư pháp Việt Nam được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 cùng với Chính phủ Cách mạng lâm thời do luật sư Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng, sau tháng 3 năm 1946 thì chuyển giao cho luật sư Vũ Đình Hòe. Đến năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể.
Thành lập Toà án Quân sự [sửa]
Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành sắc lệnh thành lập các toà án quân sự [52][53][54][55] để xử tất cả các người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.Theo quy định về thành lập Tòa án Quân sự theo Sắc lệnh 21/SL ngày 14/2/1946 và Sắc lệnh 170/SL của Chủ tịch Chính phủ ngày 14/4/1948. "Toà án quân sự xử tất cả các người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945, có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trừ những việc nào mà phạm nhân là binh sĩ, dù là tòng phạm hay chính phạm, thì thuộc về nhà binh tự xử lấy." Tòa án quân sự có thể tuyên án: tha bổng, tịch thu một phần hay tất cả tài sản, phạt tù từ 1 đến 10 năm, phạt khổ sai từ 5 đến 10 năm, xử tử. Những quyết nghị của tòa án quân sự sẽ đem thi hành ngay, không có quyền chống án, trừ trường hợp xử tử, tội phạm có quyền đề đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm. Bản án hoãn thi hành để chờ quyết nghị của Chủ tịch Chính phủ.
Thành lập Tòa án Nhân dân Đặc biệt [sửa]
Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/4/1953 thành lập Tòa án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng. Mục đích để đảm bảo việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy kháng chiến đến thắng lợi. Nhiệm vụ Tòa án: - Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất; -Xét xử những tranh chấp về tài sản, ruộng đất liên quan đến các vụ án trên; -Xét xử những tranh cãi về phân định thành phần giai cấp.
Thẩm quyền Tòa án nhân dân đặc biệt huyện hoặc liên huyện đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và đi xử lưu động ở các xã có phát động quần chúng. Việc thành lập Toà án nhân dân đặc biệt ở huyện hay liên huyện do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu duyệt y. Tòa án nhân dân đặc biệt có Chánh án, 6 đến 10 thẩm phán, đa số là trung nông và bần cố nông, bần cố nông nhiều hơn trung nông. Chánh án và một nửa số thẩm phán do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh chọn lựa và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu duyệt y. Một nửa số thẩm phán do Nông hội hoặc Hội nghị đại biểu nông dân ở huyện hay liên huyện cử ra. Khi đến xã nào xử thì lấy thêm đại biểu nông dân ở xã đó, nhưng số đại biểu lấy vào không được quá 1/3 tổng số thẩm phán. Sắc lệnh số 233/SL ngày 14/6/1955 sửa lại quy định trong Sắc lệnh 150/SL: Khi phân toà đến xã nào xử thì lấy thêm 5 đại biểu nông dân của xã đó. Số đại biểu này do Hội nghị đại biểu nông dân xã bầu ra, và phải là bần cố trung nông; số bần cố nông phải nhiều hơn trung nông. Các đại biểu này có quyền hạn và nhiệm vụ của những thẩm phán.
Tòa án này có quyền tuyên: tha bổng, cảnh cáo, bồi thường, tịch thu tài sản, tước quyền công dân, quản chế địa phương, phạt tù có thời hạn, phạt tù chung thân, xử tử hình. Đối với việc duyệt án, án tù dưới 5 năm do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh duyệt và do Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh ký vào bản án. án từ 5 năm tù trở lên chung thân và án tử hình thì do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu duyệt và do Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu ký vào bản án. Trong 10 ngày sau khi tuyên án, người bị án có quyền chống án.
Giai đoạn 1955 - 1976 [sửa]
Xây dựng hệ thống pháp luật [sửa]
Sau kháng chiến chống Pháp, Quốc hội khóa I và II đã thông qua nhiều bộ luật đóng góp vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nền Tư pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thành lập Viện Công tố Trung ương [sửa]
Năm 1958, Viện Công tố Trung ương (sau là Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao) được thành lập với Viện trưởng đầu tiên là ông Bùi Lâm.
Thành lập Tòa án Nhân dân Tối cao [sửa]
Tháng 5 năm 1959, Tòa án Nhân dân Tối cao được thành lập với Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao là Luật sư Phạm Văn Bạch.
Phân cấp hành chính [sửa]
Sau Cách mạng, đơn vị hành chính các cấp gồm: Kỳ, tỉnh, huyện, xã. Thành phố Hà Nội trực thuộc trung ương. Thành phố Hải Phòng, Sài Gòn- Chợ Lớn trực thuộc kỳ, các thành phố Nam Định, Vinh, Bến Thủy, Huế và Đà Nẵng đều tạm coi là thị xã.
Thời kỳ kháng chiến, tổ chức thêm các đơn vị hành chính cấp Khu và Liên khu. Thủ đô kháng chiến đặt ở Việt Bắc.
Theo Hiến pháp năm 1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân cấp hành chính như sau:
| “ |
|
” |
|
—Điều 78, Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa 1959 |
||
Trong thành phố trực thuộc trung ương, thời kỳ 1954-1958 có các cấp hành chính quận (ở cả nội thành và ngoại thành), dưới quận có khu phố (ở nội thành) và xã (ở ngoại thành, ngoài ra có phố là cấp không thông dụng, như phố Gia Lâm ở Hà Nội). Năm 1958, nội thành bỏ quận, thay bằng khu phố (gọi tắt là khu), dưới khu phố là khối dân phố, ngoại thành có quận (từ năm 1961 đổi là huyện) và xã. Năm 1974, đổi tên gọi khối dân phố thành cấp tiểu khu.
Từ năm 1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập Khu tự trị Thái Mèo (sau đổi là Khu tự trị Tây Bắc), gồm ba tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, và năm 1956 thiết lập Khu tự trị Việt Bắc gồm 6 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang. Khu tự trị là đơn vị hành chính đệm giữa Trung ương và cấp tỉnh. Năm 1975 cấp này bị bãi bỏ.
Chính quyền địa phương [sửa]
Kinh tế [sửa]
Văn hóa, xã hội [sửa]
Ngoại giao [sửa]
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp công nhận là một nước tự do thuộc Liên hiệp Pháp tại Hiệp định sơ bộ năm 1946. Sau đó, được các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như các nước khác công nhận sau này, khởi đầu bởi Trung Quốc và Liên Xô vào năm 1950. Tiếp theo là các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bungary, Triều Tiên, Albania, Romania. Năm 1954, Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ mới đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Cùng năm, khi tiếp quản Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh công nhận cơ quan ngoại giao của Ấn Độ tại Hà Nội. Ngày 17 tháng 10 năm 1954, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru sang thăm Việt Nam.[56]
Các nước Tây phương thì mãi đến năm 1967, Pháp mới lập phòng liên lạc và đại diện bán chính thức rồi đến Thụy Sĩ năm 1968. Tuy nhiên đây là chỉ cấp bán chính thức, không có đại sứ. Năm 1969 Thụy Điển là quốc gia Tây Âu đầu tiên thiết lập ngoại giao toàn phần với Miền Bắc kể cả trao đổi đại sứ. Theo sau đó là Senegal (1969), Ceylon (1970), Thụy Sĩ (1971), Ấn Độ (1972), Chile, và Pakistan. Tính đến hết tháng 12 năm 1972, có 49 quốc gia bang giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[57]
Năm 1975 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đứng hai đơn gia nhập Liên hiệp quốc nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết cả hai.[58] Tuy nhiên cũng năm này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được gia nhập hai cơ quan quốc tế là WMO (World Meteorological Organization, Tổ chứ Khí tượng Thế giới) ngày 7 tháng 8, 1975 và WHO (World Health Organization, Tổ chức Y tế Thế giới) ngày 22 tháng 10, 1975. Đây là hai tổ chức quốc tế đầu tiên (không kể những tổ chức riêng của khối xã hội chủ nghĩa) quốc gia này tham gia.[57]
Quân đội [sửa]
Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban đầu gồm nhiều lực lượng độc lập nhau, ở cả trong nam lẫn ngoài bắc. Sau nhiều lần sát nhập, tổ chức lại, các lực lượng quân sự do Việt Minh và các nhóm chính trị khác chỉ huy thống nhất trong một hệ thống quân sự duy nhất là Vệ quốc đoàn, sau Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ở miền Nam, Vệ quốc đoàn có nhiều đơn vị của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên tuy chấp hành những chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận các chính ủy do cấp trên cử xuống. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau 1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam.
Giáo dục [sửa]
Lãnh đạo qua các thời kỳ [sửa]
Nguồn tham khảo [sửa]
- ^ Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- ^ Hiến pháp năm 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- ^ The Pentagon Papers (1971), Beacon Press, vol. 3, p. 134.
- ^ The Pentagon Papers (1971), Beacon Press, vol. 3, p. 119.
- ^ The Pentagon Papers (1971), Beacon Press, vol. 3, p. 140.
- ^ http://www.tuyengiao.vn/Home/Tuyen-truyen/27019/Ba-quyet-dinh-lich-su-cua-Chu-tich-Ho-Chi-Minh Trích: "Tuy nhiên, khi biết tin Hiệp định sơ bộ được ký kết, dư luận các đảng phái quốc gia và thân nước ngoài như Việt Cách, Việt Quốc đã lên tiếng phản đối, nhân dân cũng còn chỗ băn khoăn, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh giải thích và động viên đồng bào rằng: cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu sự nghiệp lớn. Đành phải hy sinh không gian để tranh thủ thời gian…và nhất là “phải biết giành thắng lợi từng phần”."
- ^ United States – Vietnam Relations, 1945–1967: A Study Prepared by the Department of Defense/I. B
- ^ “Thỏa hiệp án”. 23/9/1946.
- ^ Xem thêm bài Đường Trường Sơn để biết thêm về tuyến đường chiến lược viện trợ cho miền Nam.
- ^ a b c Chiến khu Trần Hưng Đạo, Chương 3 - Chiến khu Trần Hưng Đạo trong tổng khởi nghĩa tháng 8 và những tháng đầu bảo vệ chính quyền cách mạng (8/1945-10/1945),trang 106,114,115,118 - 123, Bộ tư lệnh quân khu 3, Nxb Quân đội nhân dân, 1993
- ^ a b SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 8 NGÀY 5 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ a b SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 30 NGÀY 12 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ a b Nhớ mãi về bác Bùi Lâm, Tạp chí Kiểm sát
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 36 NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Lịch sử 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Thanh Hóa, 2008. Trang 169.
- ^ a b Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 33, 34, 35, 36.
- ^ a b c Lê Mậu Hãn (chủ biển), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 3, NXB Giáo dục, 2007. Trang 10.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 35
- ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, NXB QĐND, trang 158, 159.
- ^ Một Cơn Gió Bụi, Chương 6: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước, Trần Trọng Kim
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 108.
- ^ Lê Mậu Hãn (chủ biển), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư, Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập 3, NXB Giáo dục, 2007. Trang 17.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 33.
- ^ Việt Nam Quốc dân Đảng trong thời kỳ thoái trào và biến chất (1930-1954), Nguyễn Văn Khánh, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 6/410(2010), Viện sử học Việt Nam
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 113.
- ^ Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011), trích "Bọn phản động tưởng trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản, chúng cho là chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được."
- ^ a b c Mãi mãi ghi nhớ Quốc hội khoá I (17/05/2011)
- ^ Nohlen, D, Grotz, F & Hartmann, C (2001) Elections in Asia: A data handbook, Volume II, p. 324 ISBN 0-19-924959-8
- ^ Cựu Thủ tướng chính quyền được bảo quân đội Nhật Bản bảo hộ.
- ^ Một cơn gió bụi, Chương VI: Chính phủ Việt Nam và tình thế trong nước
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 99.
- ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 315
- ^ Bác Hồ - hồi kí, NXB Văn học, trang 112, phần kể của Nguyễn Lương Bằng.
- ^ Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, NXB Trẻ, 2009. Trang 288-289
- ^ a b Phạm Văn Quyền (chủ biên). 60 năm Công an nhân dân Việt Nam. NXB Công an nhân dân. 2006. trang 104.
- ^ Nguyễn Trọng Khuê (chủ biên). Những trang sử vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam (1945-2005). NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2005. trang 14-16
- ^ Vụ án Ôn Như Hầu qua lời kể của Đại tá Trần Tấn Nghĩa, Báo Công an Nhân dân Điện tử, 8:40, 28/08/2005, Trích: "Theo ông kể, cuối tháng 6/1946, Nha Công an Trung ương nhận được nguồn tin của cơ sở phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Quốc dân Đảng đang chuẩn bị thực hiện âm mưu đảo chính chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi xin ý kiến trung ương về âm mưu thâm độc này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng ta lúc bấy giờ đã cho ý kiến chỉ đạo phải tập trung trấn áp bọn phản cách mạng, nhưng phải có đủ chứng cứ."
- ^ Con trai “ông tiên thuốc nam” phá vụ án Ôn Như Hầu
- ^ a b Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 290
- ^ a b Vụ án phố Ôn Như Hầu, thiếu tướng Lê Hữu Qua, Báo Nhân Dân, ngày 19/8/2005
- ^ Con trai "ông tiên thuốc nam" phá vụ án Ôn Như Hầu, PHÁP LÝ Online
- ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 292
- ^ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi Ký, Những năm tháng không thể nào quên, trang 274
- ^ Việt Nam, một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách
- ^ Bộ trưởng Nguyễn Tường Tam, Trang web Bộ Ngoại giao
- ^ HIẾN PHÁP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ (QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ THÔNG QUA NGÀY 9-11-1946), CHƯƠNG IV, CHÍNH PHỦ
- ^ Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn qua lời kể Tướng Giáp
- ^ Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chất vấn Quốc hội
- ^ Stein Tennesson:Vietnam 1946: How the War Began, University of California Press, tr.91
- ^ Phạm Duy Nghĩa, Bản Hiến pháp sáu mươi năm trước và những món nợ lịch sử
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 33A NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 33C NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 37 NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 40 NGÀY 29 THÁNG 9 NĂM 1945
- ^ SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 77-C NGÀY 28 THÁNG 12 NĂM 1945
- ^ Viện Sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975), NXB Giáo dục, 2006. Trang 145.
- ^ a b Bühler, Konrad G. State succession and membership in international organizations. The Hague: Kluwer Law International, 2001. tr 68-92
- ^ Odd Arne Westad, Sophie Quinn-Judge. The Third Indochina War: conflict between China, Vietnam and Cambodia, 1972-79. Abingdon, UK: Routledge, 2006. tr 69
Xem thêm [sửa]
- Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Chính phủ Liên hiệp Quốc dân
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
| Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về: |
| Tiền nhiệm: Nhà Nguyễn Đế quốc Việt Nam |
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945–1954 |
Kế nhiệm: CHXHCN Việt Nam |
| Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Vĩ tuyến 17 Bắc) 1954–1976 |
