Tì linh Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sơn dương Nhật Bản)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Japanese serow
Japanese serow near Kusatsu.jpg
Một con tì linh gần Kusatsu, Shiga, Nhật Bản
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Caprinae
Chi (genus) Capricornis
Loài (species) C. crispus
Danh pháp hai phần
Capricornis crispus
(Robert Swinhoe, 1870)[2]
Danh pháp đồng nghĩa[2][3]
  • Antilope crispa
    Temminck, 1836
  • Capricornis crispa
    (Gray, 1846)
  • Capricornulus crispus
    (Heude, 1898)
  • Capricornulus pryerianus
    (Heude, 1898)
  • Capricornulus saxicola
    (Heude, 1898)
  • Naemorhedus crispus
    (Groves & Grubb, 1985)
  • Nemorhaedus crispus
    (Grubb, 1993)

Tì linh Nhật Bản (tiếng Trung: 日本髭羚, tiếng Anh: Japanese serow, tiếng Nhật: Nihon kamoshika (ニホンカモシカ?)[a], danh pháp hai phần: Capricornis crispus) là một loài động vật có hình dạng nửa giống dê nửa giống linh dương thuộc họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Phân bố dày đặc ở rừng thưa tại Nhật Bản, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung đảo Honshu. Loài này là động vật biểu tượng quốc gia của Nhật Bản và được bảo vệ tại nhiều khu bảo tồn.

Tì linh Nhật Bản trưởng thành khi đứng cao khoảng 81 xentimét (32 in) và cân nặng 30–45 kilôgam (66–99 lb). Lông có màu đen pha chút trắng, màu lông sáng rõ trong mùa hè. Lông mao rất rậm rạp, đặc biệt là chiếc đuôi. Cả hai giới đều có sừng ngắn, cong ngược và rất khó phân biệt bằng mắt thường. Tì linh Nhật Bản được tìm thấy tại vùng rừng núi rậm rạp nơi chúng ăn lá, chồi, và quả đấu. Đây là loài hoạt động ban ngày, kiếm ăn sáng sớm và chiều tối. Tì linh sống đơn độc, hoặc tụ tập thành cặp đực cái hoặc nhóm gia đình nhỏ. Chúng đánh dấu lãnh thổ của mình bằng dung dịch có mùi ngọt - chua tiết ra từ tuyến trước ổ mắt, con đực và con cái có lãnh thổ riêng biệt, có khả năng chồng chéo lên nhau.

Vào giữa thế kỷ 20, tì linh Nhật Bản bị săn bắt đến gần tuyệt chủng. Năm 1955, chính phủ Nhật Bản thông qua một đạo luật chỉ định loài này là một "báu vật đặc biệt quốc gia" nhằm bảo vệ loài khỏi nạn săn trộm. Quần thể phát triển lên từ đó, rất nhiều nên Sách đỏ IUCN về động vật bị đe dọa xếp chúng là "loài ít quan tâm". Khiếu nại từ cán bộ lâm nghiệp và nông dân vào năm 1979 đã dẫn đến việc bãi bỏ luật cũ năm 1955. Kể từ đó, tì linh được bảo tồn tại 13 khu bảo tồn thuộc hơn 23 tỉnh của Nhật Bản, được áp dụng săn chọn lọc như một loài phá hoại bên ngoài khu vực bảo tồn. Giới bảo tồn gọi chúng là "báu vật sống của quốc gia trong rừng xanh". Vận động viên có sự nhanh nhẹn, tốc độ vượt trội thường được so sánh với tì linh. Công ty xe môtô Yamaha tung ra thị trường loại xe máy thể thao Yamaha XT 225 còn có tên Yamaha Serow (tì linh Yamaha)....

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Coenraad Jacob Temminck mô tả tì linh Nhật Bản lần đầu năm 1836,[3] với danh pháp Antilope crispa. John Edward Gray đặt danh pháp hiện tại của loài vào năm 1846.[b] Pierre Marie Heude đề xuất nhiều giống mới và loài trong một hệ thống xuất bản vào năm 1898; Capricornis trở thành Capricornulus, nó bao gồm crispus, pryerianus, và saxicola. Hệ thống không tìm được sự chấp nhận.[2]

Không có báo cáo hóa thạch của tì linh Nhật Bản; lịch sử tiến hóa và mối quan hệ gần gũi với tì linh Đài Loan (Capricornis swinhoei) là đầu mối [4] Vị trí phân loại dẫn loài đến với tên gọi là "hóa thạch sống".[5] Nghiên cứu kiểu nhân tế bào chỉ thị chúng là loài sớm nhất phân chia từ tổ tiên chung Capricornis.[6] Họ hàng gần của loài này là tì linh Đài Loan (Capricornis swinhoei). Về mặt di truyền, có rất ít sự khác biệt giữa 2 loài Nhật Bản và Đài Loan; kiểu nhân tế bào của chúng về cơ bản là giống nhau: 2n=50, FN=60.[7] Tì linh Đài Loan nhỏ hơn và có lông ngắn hơn, với lông nâu, một mảng trắng dưới cằm và họng.[8]

A photograph of a small, brownish goat-like animal with its head down feeding
Capricornis đôi khi được phân loại như Naemorhedus cùng với goral (Ban linh) (hình ảnh: Naemorhedus caudatus hoặc tì linh đuôi dài).

Capricornis phát sinh loài gần với cừu hơn bò nhà.[7] Thuật ngữ và tính trạng của đơn vị phân loại Capricornis không được giải quyết hoàn toàn.[1] Một số nhà nghiên cứu xem xét Capricornis là một danh pháp đồng nghĩa cơ sở của Naemorhedus,[2] một phân loại bao gồm các loài goral (Ban linh);[1] phân tích phân tử không hỗ trợ phân loại này.[9] Capricornisrăng nanh ngắn, loài Naemorhedus thường không có.[2]

Ở Nhật Bản, tỳ linh được biết đến rộng rãi như hươu, mặc dù hươu và tì linh thậm chí không cùng phân lớp bên dưới. Trong quá khứ, từ ngữ tiếng Nhật kamoshika[c] được viết bằng cách sử dụng ký tự Trung Quốc cho từ shika, nghĩa là "hươu".[d] Ngày hôm nay, khi viết bằng ký tự Trung Quốc, ký tự dành cho "linh dương" và "cừu"[e] được sử dụng. Đôi khi tỳ linh bị nhầm lẫn với lợn rừng.[13]

Hình thái và giải phẫu học[sửa | sửa mã nguồn]

Tì linh Nhật Bản [10] là loài động vật họ trâu bò nhỏ[4]hình thái nguyên thủy liên quan đến các loài nhai lại khác. Chúng có cơ thể chắc nịch với kích thước tương đối giữa hai giới hoặc vị trí địa lý; khi đứng, bờ vai cao khoảng 70–85 xentimét (28–33 in) (70–75 xentimét (28–30 in))[14] và cân nặng 30–45 kilôgam (66–99 lb).[4] Móng guốc chẻ đôi.[15] So với tì linh lục địa, tai ngắn hơn, lông thường dài hơn và mịn như len— vào khoảng 10 xentimét (3,9 in) trên thân. Chúng có một chiếc đuôi rậm[16] khoảng 6–6,5 xentimét (2,4–2,6 in)[17] và không có bờm.[16] Lông hơi trắng quanh cổ[18] , trên cơ thể có màu đen, đen với đốm trắng trên lưng, màu nâu sẫm, hay hơi trắng;[4] lông sáng hơn vào mùa hè.[16] Có ba tuyến da phát triển tốt::[19] tuyến trước ổ mắt lớn ở cả hai giới, kích thước tăng theo tuổi của con vật;[14] tuyến mùi hơi kém phát triển[14] trên cả 4 chân,[20]tuyến bao quy đầu.[19] Tì linh trưởng thành có 32 răng hàm cố định khi được 30 tháng tuổi, có nha thứcTrên: 0.0.3.3, dưới: 3.1.3.3.[19] Mặt bên trong răng trở nên đen kịt, dính chất khó loại bỏ, giống như nhựa cây.[21] Lưỡi có đỉnh hình chữ V.[22]

A Photograph of the skeleton of a goat-like animal
Bộ xương Capricornis crispus tại vườn thú Oji (ja) ở Kobe, Nhật Bản

Lưỡng hình giới tính không phát triển mạnh;[1] kích thước cơ thể, tăng trưởng, tỷ lệ sống, và thói quen ăn uống cho thấy khác biệt không đáng kể.[23] Cả 2 giới đều có sừng ngắn,[24] cong ngược đo được khoảng 12–16 xentimét (4,7–6,3 in);[f] vỏ sừng là 1 loạt vòng tròn quấn ngang. Sừng bắt đầu phát triển khoảng bốn tháng tuổi[22] và tiếp tục phát triển suốt tuổi đời.[14] Môi trường ảnh hưởng đến kích thước vòng tăng trưởng đầu tiên. Kích thước, độ cong, độ dày và số vòng tròn quấn ngang là dấu hiệu tuổi tác. Lên đến hai năm, vòng tròn quấn ngang dày hơn, chiều dài lớn và uốn hơn con trưởng thành; vào tuổi trưởng thành, vòng sừng mỏng hơn buộc vòng quấn ngang dày lên. Tăng trưởng chậm trong quá trình trưởng thành của con cái sớm hơn so với con đực.[22] Các nhà nghiên cứu dựa vào cơ quan sinh dục và hành vi tình dục để phân biệt giữa đực và cái.[22] Tì linh cái có 2 cặp .[4]

Thính giác nhạy cảm [26] và thị lực mạnh — tì linh có thể phát hiện, phản ứng tiếng động từ khoảng cách xa, chúng có thể nhìn rõ trong ánh sáng mờ. Khứu giác cũng mạnh mẽ, từng quan sát được tì linh nâng đầu lên và hít thở không khí xung quanh.[27]

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Capricornis crispusđộng vật nhai lại thuộc họ trâu bò hoang dã duy nhất tại Nhật Bản,[28] và là loài đặc hữu tại ba trong bốn đảo chính của Nhật Bản: [10] chủ yếu tại phía Bắc và miền Trung đảo Honshu, nhiều khu vực nhỏ tại ShikokuKyushu.[10] Chúng có thể chịu được khí hậu lạnh, tuyết rơi tốt hơn tì linh đại lục.[24] Là loài động vật sống đơn độc, theo cặp, hoặc trong nhóm gia đình nhỏ[1] tại đồng cỏ thông thoáng hay rừng ở độ cao khoảng 1.000 mét (3.300 ft),[16], nghỉ ngơi trong hang động.[22] Loài này thích rừng rụng lá ôn đới, nhưng cũng sống trong rừng lá rộng hoặc rừng lá kim dưới chân núi[1] có mọc lên cử Nhật, sồi Nhật (ja),[29] bãi cỏ miền núi, và rừng tùng bách.[1] Mật độ cá thể thấp, trung bình khoảng 2,6 trên kilômét vuông (6,7 /sq mi),[1] và không lớn hơn 20 trên kilômét vuông (52 /sq mi).[14]

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

A photograph of two small, grey goat-antelopes, resting in a rocky area.
Tì linh Nhật Bản sống đơn độc hoặc theo nhóm gia đình nhỏ

C. crispus có tính philopatric (hồi hương) [14] và tính lãnh thổ,[7] và đánh dấu cây với chất dịch có mùi chua - ngọt tiết ra từ tuyến trước ổ mắt để đánh dấu lãnh thổ.[30] Đực và cái thiết lập lãnh thổ riêng biệt, phạm vi chồng chéo, thường khoảng 10–15 hécta (25–37 mẫu Anh),[31] con đực thiết lập thường rộng hơn con cái.[14] Xâm lược nhau rất hiếm, nhưng tì linh có thể phản ứng thù địch với sự vi phạm lãnh thổ.[7] Loài này có vài động vật ăn thịt, như sói Nhật Bản đã tuyệt chủng; gấu cũng săn tì linh. Chúng chạy trốn với một tiếng thở huýt sáo khi phát hiện nguy hiểm.[24] Một con vật nhanh nhẹn, vững chân ở núi có khả năng chạy nước rút lên núi và nhảy từ vách đá cheo leo xuống một cách an toàn, một thợ săn nhanh nhẹn được ví với ninja.[32]

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Tì linh Nhật Bản hoạt động ban ngày[1] gặm chồi non[33], ăn vào buổi sáng sớm và chiều tối, chủ yếu vào phần thân lá hoặc quả tùng bách, chồi cây và quả đấu.[1] Chúng ăn lá tống quán sủi, cây lách, kim lũ mai Nhật Bản (Hamamelis Japonica), và tuyết tùng Nhật Bản.[24] Chúng điều chỉnh chế độ ăn uống phù hợp với nguồn thức ăn có sẵn tại địa phương.[34] Là động vật nhai lại, tì linh có một dạ dày bốn ngăn.[35] Các nghiên cứu chỉ ra rằng ngay cả mùa đông khắc nghiệt tác động không đáng kể vào lượng thức ăn của tì linh, suy ra rằng, dựa vào cấu trúc xã hội đơn độc của loài, tì linh chọn lãnh thổ đảm bảo nguồn cung cấp thức ăn đầy đủ.[36] Đại tiện xảy ra tại địa điểm quy định.[14]

Ký sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thọ có thể lên đến 20–25 năm.[g][37] Vi rút Parapoxvirus ký sinh phổ biến, mặc dù hiếm khi gây tử vong. Nhiễm trùng gây ra nốt sần trên da và tổn thương dạng cục u.[22] Đã từng có dịch bệnh viêm da mụn mủ truyền nhiễm.[38] Vi khuẩn ký sinh như E. coliLyme borreliosis khá phổ biến,[22], khuẩn Toxoplasma gondii cũng được báo cáo.[39] C. crispus nhạy cảm với nhiều ký sinh trùng, chẳng hạn như giun ruột Trichuris discolorgiun phổi Protostrongylus shiozawai.[22]

Sự sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Capricornis crispus là loài cặp đơn theo bầy.[h][40] Con cái động dục khi được 30 tháng tuổi.[1] Giao phối lần đầu tiên diễn ra vào khoảng 2,5-3 năm tuổi, mùa sinh sản xảy ra mỗi năm một lần,[24] giữa tháng 9 và tháng 1.[41] Trong một cuộc tán tỉnh tương tự như dê hay linh dương gazen, tì linh đực liếm vào miệng con cái, hai chân trước của con đực cưỡi lên hai chân sau của tì linh cái, và cọ xát cơ quan sinh dục con cái bằng cặp sừng của nó.[16] Cả hai giới đều thể hiện phản ứng Flehmen.[7]

Sinh sản diễn ra giữa tháng Sáu và tháng Tám[16] sau 1 thai kỳ khoảng 210–220 ngày.[19] Việc đó mất khoảng nửa giờ, con cái đứng lên đi trở lại. Con non duy nhất cao khoảng 30 xentimét (1 ft) và đạt đến chiều cao trưởng thành trong một năm.[24] Tì linh con ở lại với mẹ nó khoảng một hoặc hai năm. Sau đó di chuyển dần từ phạm vi của mẹ nó cho đến khi thiết lập lãnh thổ riêng của mình.[31] Tì linh trẻ không phân tán trên vùng riêng của nó mà có thể bị đuổi đi bởi tì linh mẹ.[7]

Quan hệ với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chép sớm nhất về tiếp xúc của con người với tì linh là một số lượng nhỏ xương thời kỳ Jōmon tiền sử được khai quật bởi các nhà khảo cổ, chủ yếu ở khu vực miền núi. Suy đoán tì linh bị săn lùng để lấy da và làm thực phẩm.[42] Tin rằng ghi chép được viết sớm nhất xuất hiện trong Nihon Shoki (720): hoàng đế Tenmu (r. 672–686) gửi bộ da của một con yamashishi đến chính khách cấp cao; yamashishi này có thể đề cập đến tì linh, và tái lập ở chỗ khác trong Nihon Shoki.[43] Man'yōshū thế kỷ 8 chứa một bài thơ waka của Kakinomoto no Hitomaro đề cập đến một nhóm shishi; một số nhà văn đã kết luận con vật này là tì linh, nhưng số khác lại chỉ ra tì linh bình thường đơn độc.[44] Tài liệu Thời kỳ Heian (794–1185) có ghi lại cặp sừng tì linh làm quà tặng được mang đến kinh đô. Công văn y học sớm nhất còn tồn tại ở Nhật Bản, Daidōruijuhō (ja) (808), xuất hiện ghi chép việc sử dụng sừng và thịt tì linh cho mục đích y học.[45]

Encyclopaedia page featuring a drawing of a deer-like animal.  It is surrounded with Japanese writing.
1 mục từ về tì linh trong bách khoa toàn thư năm 1712 Wakan Sansai Zue

Trong nhiều thế kỷ sau giai đoạn Heian đề cập đến tì linh trở nên khan hiếm. Một số tin rằng loài vẫn bị săn lùng phục vụ y học. Thời kỳ Edo (1603-1868) gia tăng ghi chép tìm thấy. Bách khoa toàn thư Wakan Sansai Zue năm 1712 chứa một mục minh họa tì linh. Luật cấm săn bắn (ja) đã có hiệu lực, nhưng ngoại lệ đã được thực thi nơi con vật phá cây trồng hư hỏng.[45] Sau khi Minh Trị Duy tân năm 1868, miêu tả thực tế về tì linh xuất hiện, bắt đầu trong một chuyên khảo Fauna Japonica của Keisuke Ito (1870).[45]

Săn bắn và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Tì linh từ lâu đã bị săn bắt ở Nhật Bản, đặc biệt là ở miền bắc Nhật Bản, nơi, cùng với săn gấu, săn tì linh gắn liền với văn hóa matagi. Khắp vùng miền núi Nhật Bản, tì linh rất có giá trị, các bộ phận cơ thể khác nhau của chúng được sử dụng không bị lãng phí. Đặc biệt đắt giá là thịt - cho đến giữa thế kỷ 20, thịt tì linh là thức ăn rộng rãi ở những vùng con vật được biết đến chỉ bởi "thịt".[i] Da tì linh không thấm nước được sử dụng che xà nhà. Sừng được nghiền làm thuốc trị các bệnh như tê phù. Còn có một loại thuốc chữa đau bụng được bào chế từ ruột non và túi mật tì linh.[46]

Là 1 loài động vật cư trú ở rừng sâu xa khu dân cư, tì linh Nhật Bản ngày càng thâm nhập vào vùng ngoại ô làng mạc.[47] Phía tây đảo Honshū, chúng đã bị tuyệt chủng vào thế kỷ thứ 20.[1] Ở nơi khác loài bị săn bắt đến mức độ nghiêm trọng nên chính phủ Nhật Bản tuyên bố đây là "loài không được săn" trong một đạo luật săn bắn năm 1925. Năm 1934, Luật Bảo vệ di sản văn hóa xem tì linh là một "loài báu vật thiên nhiên".[j][1] Săn trộm vẫn tiếp tục, vì vậy năm 1955 chính phủ tuyên bố tì linh Nhật Bản là một "báu vật thiên nhiên đặc biệt" [k][10] lúc đó săn quá mức làm số lượng giảm xuống còn 2000–3000.[16] Số lớn được cảnh sát bảo vệ chấm dứt nạn săn bắt, sau Chiến tranh độc canh trồng cây lá kim tạo ra môi trường thuận lợi cho nhiều loài động vật. Đến năm 1980, dự báo số lượng đã tăng lên đến 100.000, phạm vi phân bố đã đạt 40.000 kilômét vuông (15.000 sq mi).[10] Giữa những năm 1978 và 2003, phân phối loài tăng lên 170%, và quần thể đã ổn định.[1]

Black-and-white illustration of a goat-antelope on a rocky hilltop.
Capricornis crispus, hoặc tì linh Nhật Bản (Frank Evers Beddard, 1902)

Xung đột với nông nghiệp và lâm nghiệp dẫn đến việc bãi bỏ luật bảo vệ động vật đầy đủ vào năm 1978, từng nhận được dưới chỉ định năm 1955. Từ đó 13[l] khu vực bảo tồn chỉ định đã được thành lập tại hơn 23 tỉnh.[48] Chúng chiếm khoảng 20% dãy phân bố tì linh, có tổng diện tích là 11.800 kilômét vuông (4.600 sq mi), và phạm vi kích thước từ 143 kilômét vuông (55 sq mi) đến 2.180 kilômét vuông (840 sq mi). Săn chọn lọc loại bỏ 20.000 bên ngoài các khu bảo tồn giữa những năm 1978 và 2005.[1]

Sách đỏ IUCN về động vật bị đe dọa xếp tì linh Nhật Bản là "loài ít quan tâm" trong năm 2008, vì chúng phân bố rộng rãi ở Nhật Bản, số lượng lớn, ổn định hoặc tăng.[1] The Luật Bảo vệ di sản văn hóa (ja)[m]Luật săn bắn và bảo vệ thiên nhiên hoang dã (ja)[n] cung cấp quản lý hợp pháp tì linh Nhật Bản. Năm 1979, Vụ Văn hoá, Cơ quan môi trường, và Cơ quan Lâm nghiệp đã đạt được một thỏa thuận về biện pháp quản lý tì linh, chẳng hạn như thành lập các khu vực bảo vệ và săn chọn lọc kiểm soát dịch hại. Biện pháp đã gặp sự kháng cự từ các nhà bảo tồn, tổ chức tự nhiên, và một số nhà sinh học, như loài động vật trước đây được bảo vệ đầy đủ. Một sửa đổi năm 1999 đến Luật săn bắn và bảo vệ thiên nhiên hoang dã cho phép tỉnh quản lý quần thể hoang dã; đến năm 2007, bảy kế hoạch được thành lập để quản lý tì linh bên ngoài khu bảo tồn.[1]

A photograph of a dark grey goat-antelope in a forest.  It stands through trees in the centre distance, body facing left, face towards the camera.
Cán bộ lâm nghiệp than thở gỗ hư hại do tì linh gây ra (ảnh chụp tại Wakinosawa, Aomori).

Cán bộ lâm nghiệp dấy lên lo ngại rằng quần thể tì linh gia tăng can thiệp vào nỗ lực tái trồng rừng sau chiến tranh triền núi, chúng ăn cây non [49] của loài hoàng đàn Nhật Bản, tuyết tùng Nhật Bản, và thông đỏ Nhật Bản, loài có giá trị thương mại.[10] Tì linh đã gây ra thiệt hại cho cây trồng nông nghiệp thôn bản miền núi,[50] và dân làng đã phản đối các nỗ lực bảo tồn. Thiệt hại do tì linh với rừng được mô tả trong phần tội phạm hoặc quân sự của Nhật Bản: phương tiện truyền thông đề cập đến những vấn đề như ningen to shika no sensō ("cuộc chiến giữa con người và hươu") và kamoshika sensō, ("cuộc chiến tì linh").[51] Thất vọng với chính phủ, các nhà bảo tồn đã dẫn 400 kiểm lâm khởi động một vụ kiện trong những năm 1980 trên thiệt hại do tì linh gây ra tại các đồn điền gỗ.[52] Cán bộ lâm nghiệp tại tỉnh Gifu đã biện minh cho việc bắn tì linh ở chân, bắn như vậy sẽ không ra gây tử vong.[51] Ước tính số lượng chính xác vẫn rất khó khăn.[53] Cán bộ lâm nghiệp cho rằng tì linh như một con vật có hại, và tức giận với chính quyền can thiệp vào kiểm soát săn tì linh.[54] Họ cáo buộc chính phủ và các chuyên gia động vật hoang dã, trong khi các nhà bảo tồn phản đối cáo buộc rằng cán bộ lâm nghiệp có thể làm tăng số lượng quần thể và mức độ thiệt hại lâm nghiệp để thúc đẩy lợi ích cho chính họ.[53]

Các nhà bảo tồn như Shin Gotō tin rằng khả năng tăng lên do không để tăng tuyệt đối trong các quần thể, nhưng phá rừng mà đã thúc đẩy động vật từ nơi cư trú truyền thống của loài.[53] Tì linh gần khu vực dân cư có thể ăn trong cây trồng nông trại và cây bách, trong đó có cây non.[55] Chặt phá cây rừng cũng có thể đóng góp vào vấn đề, như rừng cắt ngắn tạo khu vực lý tưởng cho sự tăng trưởng nhanh chóng thực vật thân thảo với động vật ăn cỏ , tăng quần thể. Tình hình là tạm thời, mặc dù, và sau khi tái sinh cây xanh dẫn đến tán rừng trên đóng lại sau 15-20 năm, quần thể động vật ăn cỏ được di dời cùng sự tăng trưởng thực vật thân thảo không còn phát triển mạnh.[55] Trong những năm 1990, khi số lượng rừng trẻ giảm, do đó đã thiệt hại lâm nghiệp từ tì linh; mối quan tâm quay đến sự phá hoại do hươu sao, lợn rừng, và khỉ Nhật Bản. Trong tỉnh Kyushu nói riêng, gia tăng gặm cỏ và chồi non cạnh tranh từ hươu sao có thể làm chậm sự tăng trưởng của quần thể tì linh.[1]

Photo of a mountain range
Các khu vực bảo tồn như Vườn quốc gia Minami Alps cung cấp một ngôi nhà an toàn cho C. crispus.

Khu vực bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực bảo tồn tì linh Nhật Bản[56]
Tên Thiết lập Kích thước
ha (acres)
Tỉnh
Tiếng Anh Tiếng Nhật
Shimokita Peninsula Shimokita Hantō 01981-04 tháng 4 năm 1981 37.300 (92.000) Aomori
Kita-Ōu Mountains Kita-Ōu Sankei 01984-02 tháng 2 năm 1984 105.000 (260.000)
Kitakami Sankei (ja) Kitakami Sankei 01982-07 tháng 7 năm 1982 41.000 (100.000) Iwate
Minami-Ōu Mountains Minami-Ōu Sankei 01984-11 tháng 11 năm 1984 57.700 (143.000)
Asahi—Iide Mountains Asahi—Iide Sankei 01985-03 tháng 3 năm 1985 122.000 (300.000)
EchigoNikkōMikuni Mountains Echigo—Nikkō—Mikuni Sankei 01984-05 tháng 5 năm 1984 215.200 (532.000)
Kantō Mountains Kantō Sanchi 01984-11 tháng 11 năm 1984 79.000 (200.000)
Minami Alps Minami Arupusu 01980-02 tháng 2 năm 1980 122.000 (300.000)
Kita Alps Kita Arupusu 01979-11 tháng 11 năm 1979 195.600 (483.000)
Shirayama Shirayama 01982-02 tháng 2 năm 1982 53.700 (133.000)
Suzuka Mountains Suzuka Sanchi 01983-09 tháng 9 năm 1983 14.100 (35.000)
IbukiHira Mountains Ibuki—Hira Sankei 01986-03 tháng 3 năm 1986 67.500 (167.000)
Kii Mountains Kii Sankei 01989-07 tháng 7 năm 1989 79.500 (196.000)
Shikoku Mountains Shikoku Sanchi TBA TBA
Kyushu Mountains Kyushu Sanchi TBA TBA

Ý nghĩa văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

A postage stamp featuring a sepia illustration of a goat-antelope standing on a snow-covered, forested hilltop.  Stylized Japanese writing in the top left corner reads: "日本郵便".  Immediately below this writing is a large "8".
Tì linh Nhật Bản được in trên một con tem 8 ¥ năm 1952

Dán nhãn "báu vật sống của quốc gia trong rừng xanh",[o] tì linh Nhật Bản đã trở thành biểu tượng tại Nhật Bản trong những hiệp hội quốc gia. Chúng được xem như một loài thánh tích gợi lại sự hình thành quần đảo Nhật Bản phân biệt với lục địa châu Á. Trong một cử chỉ tượng trưng năm 1973, chính phủ Trung Quốc tặng Nhật Bản một con gấu trúc lớn, và chính phủ Nhật Bản tặng lại hai con tì linh Nhật Bản. Những đô thị và các khu vực khác của Nhật Bản đã chấp nhận tì linh như một biểu tượng của địa phương.[57]

Ở Nhật Bản, tì linh Nhật Bản thường được gọi là kamoshika hoặc kamoshishi. Loài có lịch sử được đặt một loạt cái tên, thường dựa vào sự xuất hiện của chúng, một số dịch là "cừu núi", "hươu len", "bò chín đuôi", và "con quỷ bò". Tên địa phương rất nhiều, một số dịch là "quái thú nhảy múa", "quái thú ngu ngốc", hoặc "thằng ngốc". Người dân Nhật Bản thường mô tả tì linh "kỳ lạ" hay "bất thường", và chúng được xem như một "vật ảo" vì có xu hướng sống một mình trong rừng sâu xa xôi, và xuất hiện để quan sát công nhân lâm nghiệp từ vùng núi cao.[58]

Tì linh có danh tiếng tại Nhật Bản do tốc độ và sự nhanh nhẹn của chúng. Vận động viên cao cấp được so với tì linh, được biết đến không chỉ bởi sự nhanh nhẹn, mà còn có khả năng chạy nước rút. Công ty xe môtô Yamaha đã tung ra thị trường xe máy thể thao XT 225 có tên Yamaha Serow (tì linh Yamaha), được chọn làm nhân vật trong phim hoạt hình Công chúa Mononoke (1997) của đạo diễn Miyazaki, nhân vật chính sử dụng một sinh vật giống như tì linh làm ngựa cưỡi. Trong tiếng Nhật, từ ochiru mang cả hai nghĩa "thất bại trong một kỳ thi" và "rơi xuống"; tì linh được biết đến bởi 4 chân vững chắc của chúng trên vách núi. Theo tín ngưỡng, sinh viên Nhật thường mua thẻ bài omamori in hình một vết chân tì linh với hy vọng cầu chúc giúp họ vượt qua kỳ thi.[32]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.
  1. ^ Japanese serow (Nhật: ニホンカモシカ Nihon kamoshika?)
  2. ^ As Capricornis crispa; Robert Swinhoe amended it for gender agreement in 1870.[2]
  3. ^ In Japanese, the word kamoshika refers both to serow and antelope species.[10]
  4. ^ "Deer" (Nhật: 鹿 shika?)[11]
  5. ^ Japanese serow ("antelope-sheep") (Nhật: 羚羊 kamoshika?)[12]
  6. ^ A mean of 14,5 xentimét (5,7 in) for 30 males and 13,7 xentimét (5,4 in) for 30 females was found in a 1985 study at Gifu University.[25]
  7. ^ Estimates place life expectancy at birth at 4.8–6.5 years,[1]
  8. ^ Although the Japanese serow is generally monogamous, a 1996 study showed that 20% of males to be polygynous with two females.[7]
  9. ^ "Meat" (Nhật: niku?)[46]
  10. ^ "Natural Monument" (Nhật: 天然記念物 ten'nen kinenbutsu?)
  11. ^ "Special Natural Monument" (Nhật: 特別天然記念物 tokubetsu ten'nen kinenbutsu?)
  12. ^ 15 such areas were originally proposed. Disputes with landowners have prevented their establishment in Kyushu and Shikoku.[1]
  13. ^ Law for Protection of Cultural Properties (Nhật: 文化財保護法 bunkazai hogo-hō?)
  14. ^ Wildlife Protection and Hunting Law (Nhật: 鳥獣の保護及び狩猟の適正化に関する法律 chōjū no hogo oyobi shuryō no tekiseika ni kansuru hōritsu?)
  15. ^ "living national treasure of the forest" (Nhật: 森の生きている国宝 mori no ikiteiru kokuhō?)[57]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Tokida 2008
  2. ^ a ă â b c d Jass & Mead 2004, tr. 1
  3. ^ a ă Tokida 2008; Grubb 2005.
  4. ^ a ă â b c Jass & Mead 2004, tr. 2
  5. ^ Togashi et al. 2009, tr. 412
  6. ^ Wei et al. 2013, tr. 6800
  7. ^ a ă â b c d đ Jass & Mead 2004, tr. 5
  8. ^ Lue 1987, tr. 125
  9. ^ Min, et al. 2004, tr. 369
  10. ^ a ă â b c d đ Maruyama, Ikeda & Tokida 1997, tr. 271
  11. ^ Knight 2003, tr. 128
  12. ^ Knight 2003, tr. 129
  13. ^ Knight 2003, tr. 128–129
  14. ^ a ă â b c d đ e Abe 2008, tr. 113
  15. ^ Knight 2003, tr. 125
  16. ^ a ă â b c d đ Burton & Burton 2002, tr. 2323
  17. ^ Iijima & Tsuchiya 2010, tr. 115
  18. ^ Iijima & Tsuchiya 2010, tr. 114
  19. ^ a ă â b Jass & Mead 2004, tr. 3
  20. ^ Atoji, Suzuki & Sugimura 1988, tr. 159
  21. ^ Nawa 2009, tr. 23
  22. ^ a ă â b c d đ e Jass & Mead 2004, tr. 4
  23. ^ Ochiai & Susaki 2002, tr. 970
  24. ^ a ă â b c d Burton & Burton 2002, tr. 2324
  25. ^ Ochiai & Susaki 2002, tr. 964
  26. ^ Nawa 2009, tr. 26
  27. ^ Nawa 2009, tr. 25
  28. ^ Honda, Tatsukawa & Miura 1987, tr. 365
  29. ^ Doko & Chen 2013, tr. 53
  30. ^ Ono 2000, tr. 25
  31. ^ a ă Knight 2003, tr. 126
  32. ^ a ă Knight 2003, tr. 130
  33. ^ Jiang et al. 2008, tr. 1220
  34. ^ Natori & Porter 2007, tr. 1443
  35. ^ Honda, Tatsukawa & Miura 1987, tr. 368
  36. ^ Natori & Porter 2007, tr. 1456
  37. ^ Tokida 2008; Jass & Mead 2004, p. 4.
  38. ^ Inoshima 2010, tr. 701
  39. ^ Sakae & Ishida 2012, p. 224; Jass & Mead 2004, p. 4.
  40. ^ Kishimoto 2003, tr. 147
  41. ^ Togashi et al. 2009, tr. 415
  42. ^ Nawa 2009, tr. 166
  43. ^ Nawa 2009, tr. 166–167
  44. ^ Nawa 2009, tr. 167
  45. ^ a ă â Nawa 2009, tr. 168
  46. ^ a ă Knight 2003, tr. 145
  47. ^ Knight 2003, tr. 150
  48. ^ Maruyama, Ikeda & Tokida 1997, tr. 273
  49. ^ Knight 2003, tr. 157–158
  50. ^ Knight 2003, tr. 137
  51. ^ a ă Knight 2003, tr. 147
  52. ^ Knight 2003, tr. 148–150
  53. ^ a ă â Knight 2003, tr. 151
  54. ^ Knight 2003, tr. 157
  55. ^ a ă Knight 2003, tr. 152
  56. ^ Ono 2000, tr. 145
  57. ^ a ă Knight 2003, tr. 148
  58. ^ Knight 2003, tr. 129–130

Trích dẫn văn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Trang web[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]