Linh miêu tai đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Mãn rừng)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh miêu tai đen
Caracl (01), Paris, décembre 2013.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Phân họ (subfamilia) Felinae
Chi (genus) Caracal
Gray, 1843
Loài (species) C. caracal
Danh pháp hai phần
Caracal caracal
(Schreber, 1776)
Phân bố Linh miêu tai đen
Phân bố Linh miêu tai đen

Linh miêu tai đen (tiếng Anh: caracal, /ˈkærəkæl/) hay còn gọi là mãn rừng, danh pháp hai phần: Caracal caracal, là một loài mèo hoang có kích thước trung bình khoảng 1 m (3,3 ft) chiều dài. Linh miêu tai đen thỉnh thoảng được gọi là linh miêu sa mạc hoặc linh miêu châu Phi, linh miêu Ba Tư;[2] nhưng đây không phải thành viên thuộc chi Lynx. Linh miêu tai đen là loài bản địa tại châu Phi, Trung Á, Tây Nam Á và Ấn Độ. Tên gọi quốc tế (caracal) của loài này bắt nguồn từ thuật ngữ "karakulak", có nghĩa là "tai đen", trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.[3]

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi quốc tế của loài mèo này là caracal; được bắt nguồn từ thuật ngữ karakulak (có nghĩa là "tai đen"), trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ 19. Chiết tự ngữ nghĩa theo từ điển Oxford: kara ("màu đen") + kulak ("tai"), dịch sang tiếng Việt gọi là linh miêu tai đen.[3][4][5]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi tai đen nổi bật của linh miêu
Đồng tử mắt linh miêu có hình tròn

Điểm đặc trưng phân biệt nhất của linh miêu tai đen là chùm lông đen dài phía sau đôi tai, dài khoảng 4,4 cm (1,75 in). Linh miêu tai đen còn được gọi là linh miêu sa mạc, mặc dù chùm lông đen là đặc điểm duy nhất chia sẻ với những loài thuộc chi linh miêu (lynx). Biên độ màu sắc da lông có thể từ nâu hung đến đỏ gạch. Lông màu trắng phủ dưới bụng, cằm và cổ họng. Đường kẻ màu đen chạy từ mắt đến mũi. Bộ da lông ngắn và rất dày. Đôi tai sáng màu phía trước và đen màu phía sau.[5]

Linh miêu tai đen lớn nhất trong các loài "mèo nhỏ" châu Phi.[5] Con đực cân nặng lên đến 18 kg (40 lb), còn con cái lên đến 16 kg (35 lb). Linh miêu tai đen có chiều cao bờ vai vào khoảng từ 40 cm (16 in) đến 50 cm (20 in). Chiếc đuôi ngắn. Con đực và con cái trông giống nhau. Đồng tử mắt co lại thành vòng tròn, trong khi đồng tử loài mèo khác co lại theo hình khe hở.[5]

Tiến hóa và phân loại học[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen có liên hệ chặt chẽ nhất với beo vàng châu Phi (Caracal aurata),[6] và có khả năng tách ra từ dòng dõi mèo đồng cỏ châu Phi trong vòng cuối 5 triệu năm trước, khoảng thời điểm phân tách giữa hai thời kỳ PliocenePleistocene.[7] Trong quá khứ, linh miêu tai đen được phân loại hoặc thuộc chi Lynx[2] hoặc thuộc chi Felis. Song, hiện nay, bằng chứng nghiên cứu phân tử gần đây hỗ trợ quan điểm loài này thuộc chi đơn ngành.[1]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen săn mồi về đêm. Chúng thường là sinh vật đơn độc, nhưng một số sẽ sống thành cặp. Tương tác xã hội thường chỉ xảy ra trong quá trình giao phối, trừ trường hợp mèo mẹ với mèo con. Linh miêu tai đen có thể kêu meo meo, rít lên, gầm gừ, sủa và gầm rền. Linh miêu tai đen giao phối trong suốt cả năm. Linh miêu cái sinh sản từ một đến sáu mèo con trong mỗi lứa đẻ. Mèo con trở nên độc lập sau khoảng 9 hoặc 10 tháng. Linh miêu trẻ tuổi sau đó di chuyển khoảng cách đáng kể để tìm và tuyên bố lãnh thổ mới của riêng mình. Linh miêu cái thường đẻ 1 lứa mỗi năm. Trong điều kiện nuôi nhốt, linh miêu tai đen có thể sống đến 16 năm; trong tự nhiên, chúng sống được 10 đến 12 năm. Linh miêu cái sinh sống tại một nơi để bảo vệ lãnh thổ, trong khi linh miêu đực đi lang thang trên những khu vực rộng lớn hơn. Cả hai giới để lại mùi hương đánh dấu. Linh miêu tai đen có tốc độ và sự nhanh nhẹn khiến chúng đi săn rất tốt; linh miêu có thể hạ gục con mồi gấp 2 đến 3 lần kích thước của chúng.[1] Đôi chân sau mạnh mẽ cho phép linh miêu nhảy vọt hơn 3 m (120 in) vào không trung để bắt chim đang bay.[8] Linh miêu tai đen chủ yếu hoạt động về đêm, và đôi khi sống trên cây mặc dù chúng thường cư trú trên mặt đất.[7]

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen sinh sống tại rừng thưa, xavan, bán hoang mạc, và rừng cây bụi, thích môi trường sống khô cằn với lượng mưa thấp và một số vùng bao phủ.[1] Mặc dù linh miêu săn mồi trên mặt đất, có thể leo lên cây và bơi nhanh để bắt . Chúng không tìm được tại rừng mưa nhiệt đới.[1] Tuy nhiên, chúng sinh sống rừng xanh quanh năm và núi cao.[5]

Linh miêu tai đen phân bố rộng rãi trên khắp châu Phi, Trung Đông, và Tây Nam Á sang Ấn Độ. Loài mèo nhỏ này phân bố trên cả châu Phi, ngoại trừ vành đai rừng xích đạo và trung tâm Sahara. Phạm vi lịch sử của linh miêu tai đen tương tự như báo gêpa; cả hai trùng với phạm vi vài loài linh dương Gazelle sa mạc nhỏ. Tuy nhiên, ngày nay linh miêu tai đen vẫn duy trì phạm vi rộng. Linh miêu tai đen vẫn sinh sống tại hầu hết phạm vi lịch sử của loài, mặc dù đã mất đi một phần phạm vi ở vùng giáp ranh, đặc biệt tại Bắc và Tây Phi.[1]

Phạm vi cư trú linh miêu cái nhỏ hơn phạm vi cư trú linh miêu đực. Nhìn chung, phạm vi cư trú linh miêu tai đen lớn hơn trong môi trường khô cằn so với khu vực có nhiều nước.[1]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu mẹ và con non

Thai kỳ của linh miêu tai đen khoảng hai tháng rưỡi. Lứa đẻ thường giữa một đến bốn mèo con.[9] Số mèo con cai sữa sau 10 tuần, nhưng vẫn còn ở với linh miêu mẹ cho đến một năm. Linh miêu tai đen thành thục khoảng giữa 12 và 16 tháng.[5]

Chế độ ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Giống hầu hết loài mèo ăn thịt, linh miêu tai đen có một chế độ ăn uống rất rộng. Chủ yếu tiêu thụ động vật có vú nhỏ và chim. Linh miêu cũng săn con mồi là động vật có vú từ nhỏ đến lớn hơn, chẳng hạn như linh dương Impalalinh dương. Linh miêu tai đen đôi khi ăn thằn lằn, rắncôn trùng.[1] Con mồi của linh miêu tai đen gồm một loạt động vật hữu nhũ, nhưng điển hình nhất là gặm nhấm, thỏ, đa man, và linh dương nhỏ. Mặc dù linh miêu tai đen được xét là một loài mèo nhỏ, chúng không ngần ngại giết con mồi lớn, chẳng hạn như một con linh dương nhảy trưởng thành hoặc linh dương Kudu còn non, khi có cơ hội.[5] Săn mồi thường diễn ra vào ban đêm và linh miêu tai đen giết chết bằng cách cắn vào cổ và bóp nghẹt con mồi.[9] Linh miêu tai đen cũng ăn xác thối khi cần thiết.[1]

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen thường được xem là một mối phiền toái cho chủ sở hữu cây trồng, vật nuôi tại địa phương vì chúng không né tránh ăn thịt gia súc, và thường xuyên bị giết vì điều này. Linh miêu tai đen cũng bị săn bắt lấy da và thịt, trong đó một số bộ tộc bụi xem chúng là một món ăn.[5] Mất môi trường sống, từ nông nghiệp và hoang mạc hóa, cũng là một mối đe dọa ở miền trung, tây, bắc và đông bắc châu Phi.[1] Linh miêu tai đen phong phú nhất tại Namibia và Nam Phi, mặc dù nghiên cứu cho thấy chúng đang giảm qua các vùng miền của Namibia.[10] Linh miêu tai đen được xem xét là hiếm xuyên suốt nhất phạm vi của chúng.[9] Tại châu Phi, linh miêu tai đen được liệt kê dưới phụ lục II của công ước CITES và là loài ít quan tâm trong Sách đỏ IUCN.[1][5] Săn linh miêu tai đen bị cấm tại châu Phi hạ Sahara, nhưng chỉ trong khoảng một nửa phạm vi của linh miêu tai đen, vì không được bảo vệ ở Namibia và Nam Phi. Ở đây, linh miêu tai đen được xem là động vật có vấn đề, rất phong phú mà người chủ đất được phép giết không hạn chế.[1] Giống như nhiều loài mèo, linh miêu tai đen không thường thấy. Tuy nhiên, linh miêu tai đen dường như sống tốt ngay cả ở những quốc gia nơi săn bắt chúng được cho phép. Con người là mối đe dọa chính đối với linh miêu tai đen,[1] nhưng báo hoa được biết đến sẽ giết chúng.[11] Nhìn chung, công tác bảo tồn linh miêu tai đen hiện chưa phải là vấn đề, đặc biệt tại châu Phi hạ Sahara, mặc dù quần thể loài cũng như môi trường sống đã giảm tại nhiều khu vực cụ thể.[1] Trong tương lai, thực trạng bảo tồn linh miêu tai đen có thể xấu đi như kết quả của việc tiếp tục mất môi trường sống, nứt vỡ sinh cảnhhoang mạc hóa.[5]

Giao phối nuôi nhốt[sửa | sửa mã nguồn]

Vài vườn thú gia tăng linh miêu tai đen trong chương trình phối giống nuôi nhốt. Đạo đức và an toàn của việc sở hữu linh miêu tai đen như thú cưng được tranh luận. Mặc dù chúng rất dễ chế ngự, linh miêu tai đen rất năng động và có tính lãnh thổ.[12]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen được in trên tem

Linh miêu tai đen được đào tạo trong lịch sử để săn chim tại Iran và Ấn Độ. Đôi khi, một con linh miêu được đưa vào sân vận động cùng đàn bồ câu. Mọi người sẽ đặt cược vào số chim bồ câu mà linh miêu tai đen sẽ giết được trong khoảng thời gian xác lập. Một con linh miêu được đào tạo tốt có thể hạ gục đến 12 con bồ câu trong một lần nhảy vọt bằng móng chân lớn và bốn chân khỏe.[13] Đây là nơi câu thành thữ "đặt một con mèo giữa đàn bồ câu" khởi nguồn.[5]

Miêu tả văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Linh miêu tai đen hiện diện đáng kể về mặt tôn giáo trong văn hóa Ai Cập cổ đại. Linh miêu tai đen tìm được trên tranh khảm tường, và tác phẩm điêu khắc về linh miêu tai đen cùng những loài mèo khác canh giữ lăng mộ. Một số thi hài linh miêu tai đen được ướp xác.[14]

Giống như báo gêpa, linh miêu tai đen được dùng như một công cụ săn bắn. Linh miêu tai đen được huấn luyện để săn thú nhỏ và chim cho hoàng gia Ấn Độ.[1] Ngày hôm nay, nhiều người cho rằng linh miêu tai đen là một vật nuôi "ngoại lai", mặc dù chúng không hành xử nội địa trong điều kiện nuôi nhốt. Bất chấp thái độ tự nhiên, nỗ lực được thực hiện để nhân giống tạp giao linh miêu tai đen với mèo nhà nhằm sản xuất một giống linh miêu tai đen "nội địa".[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Breitenmoser-Wursten, C., Henschel, P. & Sogbohossou, E. (2008). Caracal caracal. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày ngày 26 tháng 4 năm 2015.
  2. ^ a ă  Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Caracal (animal)”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge. 
  3. ^ a ă “Caracal”. Small cats of Africa. 
  4. ^ Caracal. Americana English dictionary (bằng tiếng Anh). England: Oxford University Press. 2015. Trích dẫn bách khoa toàn thư đại học Oxford 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Caracal Facts”. Big Cat Rescue. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ Johnson, W.E. & O'Brien, S.J. (1997). “Phylogenetic reconstruction of the Felidae using 16S rRNA and NADH-5 mitochondrial genes”. Journal of Molecular Evolution 44 (Suppl1): S98–S116. doi:10.1007/PL00000060. 
  7. ^ a ă Gittleman, John biên tập (1989). Carnivore Behavior, Ecology, and Evolutioin. New York: Cornell University Press. 
  8. ^ Kohn, T. A.; Burroughs, R.; Hartman, M. J.; Noakes, T. D. (2011). “Fiber type and metabolic characteristics of lion (Panthera leo), caracal (Caracal caracal) and human skeletal muscle”. Comparative Biochemistry and Physiology Part A: Molecular & Integrative Physiology 159 (2): 125–33. doi:10.1016/j.cbpa.2011.02.006. PMID 21320626. 
  9. ^ a ă â Shorrocks, Bryan (2007). Biology of Habitats: The Biology of African Savannahs. New York: Oxford University Press. 
  10. ^ Neils 2015 wwww.ConservationCATalyst.com
  11. ^ Dybas, Cheryl Lyn. “Lair of the Leopard: To Cache Kills, Leopards Prefer Caves Over Trees”. voices.nationalgeographic.com. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  12. ^ “Caracal”. rightpet.com. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ “Caracal Facts”. bigcatrescue.org. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2015. 
  14. ^ Kingdon, J. (1977). East African Mammals: An Atlas of Evolution in Africa, Volume IIIA: Carnivores. Academic Press, London. ISBN 0226437213. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]