Cáo Bắc Cực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cáo Bắc Cực
Alopex lagopus, Asahikawa Asahiyama Zoological Park.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Canidae
Tông (tribus) Vulpini
Chi (genus) Vulpes
Loài (species) V. lagopus
Danh pháp hai phần
Vulpes lagopus
(Linnaeus, 1758)[2]
Phân bố loài
Phân bố loài
Danh pháp đồng nghĩa
  • Alopex lagopus (Linnaeus, 1758)
  • Canis lagopus (Linnaeus, 1758)
  • Canis fuliginosus (Bechstein, 1799)
  • Canis groenlandicus (Bechstein, 1799)
  • Vulpes arctica (Oken, 1816)
  • Vulpes hallensis (Merriam, 1900)
  • Vulpes pribilofensis (Merriam, 1903)
  • Vulpes beringensis (Merriam, 1903)

Cáo Bắc Cực (Vulpes lagopus), còn được biết đến với tên cáo trắng hay cáo tuyết, là một loài cáo nhỏ có nguồn gốc từ vùng Bắc CựcBắc bán cầu và thường thấy trong quần xã đài nguyên Bắc Cực.[1][3] Loài cáo này thích nghi tốt với môi trường lạnh. Chúng sở hữu bộ lông dày có màu nâu vào mùa hạ và chuyển sang màu trắng vào mùa đông. Chiều dài cơ thể vào khoảng 46 đến 68 cm (18 đến 27 in) cùng với thân hình cong tròn giúp chúng giảm thiểu được sự truyền nhiệt từ cơ thể ra ngoài không khí.

Cáo Bắc Cực ăn thịt mọi sinh vật nhỏ mà chúng tìm thấy, bao gồm chuột Lemming, chuột đồng, hải cẩu đeo vòng con, các loài , thủy cầm và cả chim biển. Chúng còn ăn các xác thối, quả mọng, rong biển, côn trùng và những loài động vật không xương sống khác. Cáo Bắc Cực hình thành những đôi đơn giao trong mùa sinh sản và chúng sẽ ở cùng nhau để nuôi dưỡng con cái trong các hang dưới lòng đất. Cũng có khi, những thành viên khác trong gia đình sẽ giúp chúng thực hiện công việc này.

Thích nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Một con cáo Bắc Cực đang ngủ với chiếc đuôi quấn quanh mình

Cáo Bắc Cực sống ở những nơi lạnh nhất trên hành tinh nhưng vẫn không bị run cho đến khi nhiệt độ xuống tận −70 °C (−94 °F). Giúp chúng thích nghi để sống sót trong cái lạnh là bộ lông dày, nhiều lớp và có tính cách nhiệt cao,[4][5] một hệ thống trao đổi nhiệt ngược chiều ở dòng máu lưu thông nơi bàn chân giúp duy trì nhiệt độ lõi của cơ thể cùng một lượng cung cấp chất béo dồi dào. Loài cáo này có tỉ lệ diện tích bề mặt cơ thể trên thể tích thấp nhờ có thân hình săn chắc, mõm và chân ngắn cùng đôi tai ngắn, dày. Càng ít diện tích bề mặt bị phơi nhiễm trong cái lạnh đồng nghĩa với việc càng ít nhiệt truyền từ cơ thể ra ngoài không khí. Chúng có lông mọc trên lòng bàn chân trợ giúp cho việc cách nhiệt cũng như di chuyển trên băng tuyết. Cáo Bắc Cực có thính giác cực nhạy giúp chúng có thể định vị được chính xác nơi những loài động vật nhỏ đang chuyển động. Khi nắm bắt được vị trí con mồi, chúng sẽ lao tới và vồ lấy nạn nhân xuyên qua lớp tuyết. Lông của chúng cũng đổi màu theo mùa: đa số sẽ có màu trắng vào mùa đông để ẩn mình dưới tuyết trong khi vào mùa hạ sẽ có màu xám-nâu hoặc nâu đậm. Có con đôi khi sẽ có bộ lông xám lẫn hơi xanh vào mùa đông và trở nên nhạt hơn vào mùa hè.[4][6]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Bắc Cực không ngủ đông và hoạt động quanh năm. Chúng tích trữ chất béo trong mùa thu và có khi tăng trọng lượng cơ thể lên đến hơn 50%. Điều này giúp cách nhiệt cho cơ thể trong suốt mùa đông cũng như cung cấp một nguồn năng lượng dồi dào khi thức ăn trở nên khan hiếm. Cáo Bắc Cực sống trong những chiếc hang lớn như một hệ thống đường hầm phức tạp rộng khoảng 1.000 m2 (1.200 sq yd) và thường nằm trong những con đồi dài ngoằn nghoèo tạo nên bởi cặn đất đá ở các vùng sông băng trước kia. Những chiếc hang có rất nhiều ngõ ngách và có thể đã tồn tại trong suốt nhiều thập kỷ cũng như được sử dụng qua nhiều đời nhà cáo.[7]

Những con cáo Bắc Cực có xu hướng hình thành những đôi đơn giao, một cái – một đực, trong mùa sinh sản và giữ lấy một phần lãnh thổ trong hang. Việc sinh sản thường diễn ra từ tháng tư cho đến tháng năm và thời gian mang thai kéo dài khoảng 52 ngày. Trung bình một lứa, cáo mẹ đẻ từ 5 đến 8 cáo con nhưng cũng đã từng có trường hợp 25 con được sinh trong cùng 1 lứa (lứa đẻ nhiều nhất trong cả bộ Ăn thịt).[8] Cáo con sẽ được cả cha lẫn mẹ chăm sóc, chúng sẽ ra khỏi hang khi được 3 đến 4 tuần tuổi và được cai sữa khi đạt đến tuần tuổi thứ 9.[7]

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Cáo Bắc Cực nhìn chung sẽ ăn thịt mọi động vật nhỏ mà chúng tìm thấy, bao gồm chuột Lemming, chuột đồng, các loài thuộc bộ Gặm nhấm, thỏ đồng, chim, trứng và cả xác thối. Chúng tìm ăn những xác chết động vật còn thừa lại từ những kẻ săn mồi lớn hơn như sói hay gấu trắng Bắc Cực và nếu như thức ăn trở nên khan hiếm, chúng thậm chí còn ăn phân của mình. Ở những vùng đất nơi cáo Bắc Cực sinh sống, chuột Lemming là con mồi phổ biến nhất[7] và một gia đình nhà cáo có thể ăn hàng tá chuột Lemming mỗi ngày. Ở những nơi thuộc phía Bắc Canada, một số lượng lớn những con chim di cư kéo đến để sinh sản theo mùa cũng cung cấp một nguồn thức ăn dồi dào. Ở những vùng bờ biển của Iceland hay những hòn đảo khác, thức ăn chủ yếu của chúng cũng là chim. Trong suốt khoảng thời gian từ tháng tư cho đến tháng năm, cáo Bắc Cực còn đi săn hải cẩu đeo vòng khi mà các cáo con được giữ trong những chiếc hang tuyết và chưa thể giúp ích được gì. Những con bơi bên dưới lớp băng cũng góp phần làm phong phú thực đơn của loài cáo bên cạnh quả mọngrong biển, cáo Bắc Cực do đó có thể xem như một loài động vật ăn tạp.[9] Chúng là loài chuyên săn trứng của các loài chim, chỉ trừ trứng của những loài lớn nhất đài nguyên.[10] Khi có nhiều thức ăn hơn mức cần thiết, chúng sẽ chôn đi phần dư để dự trữ.

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Trung bình chiều dài toàn cơ thể, tính luôn đầu, của con đực là 55 cm (22 in), với chiều dài trong khoảng từ 46 đến 68 cm (18 đến 27 in), trong khi của con cái là 52 cm (20 in), với chiều dài từ 41 đến 55 cm (16 đến 22 in).[4][11] Ở một số vùng, cáo đực và cáo cái có kích thước giống thước giống nhau. Đuôi cáo Bắc Cực dài khoảng 30 cm (12 in) ở cả hai giới. Chiều cao vai thường từ 25 đến 30 cm (9,8 đến 11,8 in).[12] Cáo đực nặng trung bình 3,5 kg (7,7 lb), khoảng từ 3,2 đến 9,4 kg (7,1 đến 20,7 lb), trong khi đối với cáo cái là 2,9 kg (6,4 lb), từ 1,4 đến 3,2 kg (3,1 đến 7,1 lb).[4]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Vulpes lagopus là loài 'cáo thật sự' thuộc chi Vulpes của tông Vulpini. Loài được liệt vào phân họ Caninae thuộc họ Canidae. Mặc dù trước đó cáo Bắc Cực được xếp riêng biệt vào chi Alopex nhưng những bằng chứng về di truyền học gần đây đã khiến loài được xếp vào chi Vulpes cùng với phần lớn những loài cáo khác.[3][13]










Cáo Bắc Cực[14](Fig. 10)



Cáo Kit




Cáo chạy nhanh[15]





Cáo thảo nguyên




Cáo Rüppell



Cáo đỏ






Cáo Cape





Cáo Blanford



Cáo Fennec





Lửng chó





Cáo tai dơi





Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Angerbjörn, A.; Hersteinsson, P.; Tannerfeldt, M. (2008). Alopex lagopus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày ngày 6 tháng 10 năm 2014.
  2. ^ Linnæus, Carl (1758). Systema naturæ per regna tria naturæ, secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. Tomus I (bằng Latin) (ấn bản 10). Holmiæ (Stockholm): Laurentius Salvius. tr. 40. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 532–628. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  4. ^ a ă â b Alopex lagopus at the Smithsonian
  5. ^ Claudio Sillero-Zubiri, Michael Hoffmann and David W. Macdonald (eds.) (2004). Canids: Foxes, Wolves, Jackals and Dogs. IUCN/SSC Canid Specialist Group.
  6. ^ Arctic Fox Alopex lagopus. Department of Environment and Conservation, Government of Newfoundland and Labrador
  7. ^ a ă â Angerbjörn, A.; Berteaux, D.; Ims, R. (12 tháng 11 năm 2012). “Arctic fox (Vulpes lagopus)”. Arctic report card: Update for 2012. NOAA Arctic Research Program. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  8. ^ MacDonald, David W. (2004). Biology and Conservation of Wild Canids. Oxford University Press. ISBN 0-19-851556-1. 
  9. ^ Bockstoce, John R. (2009). Furs and frontiers in the far north: the contest among native and foreign nations for the Bering Strait fur trade. Yale University Press. tr. 41. ISBN 978-0-300-14921-0. 
  10. ^ Truett, Joe Clyde and Johnson, Stephen R. (2000). The natural history of an Arctic oil field: development and the biota. Academic Press. tr. 160–163. ISBN 978-0-12-701235-3. 
  11. ^ “Arctic fox: Alopex lagopus. National Geographic. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  12. ^ Boitani, Luigi (1984). Simon & Schuster's Guide to Mammals. Simon & Schuster/Touchstone Books, ISBN 978-0-671-42805-1
  13. ^ Bininda-Emonds, ORP; JL Gittleman; A Purvis (1999). “Building large trees by combining phylogenetic information: a complete phylogeny of the extant Carnivora (Mammalia)”. Biol. Rev. 74 (2): 143–175. doi:10.1017/S0006323199005307. PMID 10396181. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2008. 
  14. ^ Lindblad-Toh, K.; Wade, C. M.; Mikkelsen, T. S.; Karlsson, E. K.; Jaffe, D. B.; Kamal, M.; Clamp, M.; Chang, J. L.; Kulbokas, E. J.; Zody, M. C.; Mauceli, E.; Xie, X.; Breen, M.; Wayne, R. K.; Ostrander, E. A.; Ponting, C. P.; Galibert, F.; Smith, D. R.; Dejong, P. J.; Kirkness, E.; Alvarez, P.; Biagi, T.; Brockman, W.; Butler, J.; Chin, C. W.; Cook, A.; Cuff, J.; Daly, M. J.; Decaprio, D. và đồng nghiệp (2005). “Genome sequence, comparative analysis and haplotype structure of the domestic dog”. Nature 438 (7069): 803–819. Bibcode:2005Natur.438..803L. doi:10.1038/nature04338. PMID 16341006.  sửa
  15. ^ Audet, Alexander M.; Robbins, C. Brian and Larivière, Serge (2002). Alopex lagopus. Mammalian Species 713 (713): 1–10. doi:10.1644/1545-1410(2002)713<0001:AL>2.0.CO;2. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nowak, Ronald M. (2005). Walker's Carnivores of the World. Baltimore: Johns Hopkins Press. ISBN 0-8018-8032-7

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]