NGC 45

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 45
NGC 45
NGC 45 by GALEX (ultraviolet)
Dữ liệu quan sát (Kỷ nguyên 2000.0)
Chòm saoCetus
Xích kinh00h 14m 3.99s
Xích vĩ−23° 10′ 55.5″
Dịch chuyển đỏ0.001558[1]
Vận tốc xuyên tâm Mặt Trời467 km/s[1]
Khoảng cách32.6 ± 10 Mly
(10 ± 3.1 Mpc)[2]
KiểuSA(s)dm[1]
Kích thước biểu kiến (V)7.41′ × 5.13'
Cấp sao biểu kiến (V)10.4
Tên gọi khác
UGC 4, MCG 04-01-21, PGC 930
Xem thêm: Thiên hà, Danh sách thiên hà

NGC 45 là một thiên hà xoắn ốc có độ sáng bề mặt thấp trong chòm sao Kình Ngư. Nó được phát hiện vào ngày 11 tháng 11 năm 1835 bởi nhà thiên văn học người Anh John Herschel.

Không giống như Dải Ngân hà, NGC 45 không có nhánh xoắn ốc được xác định rõ ràng và hạt nhân thanh trung tâm của nó cũng rất nhỏ và bị biến dạng. NGC 45 do đó không có vùng sinh sống thiên hà.[3][4][5] Đối với các thiên hà Milky Way, các vùng có thể tồn thiên hà thường được cho là một annulus với một bán kính ngoài của khoảng 10 kiloparsecs và một bán kính gần bên trong tới Trung tâm Galactic, cả hai đều thiếu ranh giới cứng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â NASA NED, "NGC 0045" (accessed 20 April 2010)
  2. ^ “Distance Results for NGC 0045”. NASA/IPAC Extragalactic Database. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ Caltech, II. MORPHOLOGY, #34
  4. ^ Gowanlock, M. G.; Patton, D. R.; McConnell, S. M. (2011). “A Model of Habitability Within the Milky Way Galaxy”. Astrobiology 11 (9): 855–873. Bibcode:2011AsBio..11..855G. PMID 22059554. arXiv:1107.1286. doi:10.1089/ast.2010.0555. 
  5. ^ Choi, Charles Q. (21 tháng 8 năm 2015). “Giant Galaxies May Be Better Cradles for Habitable Planets”. Space.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]