NGC 146

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 146
NGC 146 map.png
Vị trí của NGC 146
Dữ liệu quan sát (kỷ nguyên J2000)
Chòm saoCassiopeia
Xích kinh00h 33m 03.9s[1]
Xích vĩ+63° 18′ 32″[1]
Khoảng cách~10000 (~3000)
Cấp sao biểu kiến (V)9.1[2]
Tên gọi khácOCl 299, C 0030+630[2]
Xem thêm: Cụm sao phân tán, Danh sách cụm sao phân tán

NGC 146 là một cụm mở nhỏ trong chòm sao Thiên Hậu. Nó được John Herschel phát hiện vào năm 1829 bằng kính viễn vọng phản xạ 18,7 inch của cha mình.[3]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

NGC 146 khá dễ dàng để xác định vị trí trên bầu trời, cách ngôi sao sáng Kappa Cassiopeiae nửa độ. Tuy nhiên, việc phát hiện cụm sao rất khó khăn vì cường độ biểu kiến thấp là 9,1. Độ suy giảm tương đối cao của nó khoảng 63 °Có nghĩa là nó không thể nhìn thấy dưới 27 ° S. Khoảng cách của nó được ước tính vào khoảng 3030 Parsec (9880 năm ánh sáng),[4] nhưng có thể cách khoảng 3500 pc (11000 ly).[5]

Nét đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Cụm sao này có tuổi thọ tối đa 10 triệu năm, vì có rất nhiều ngôi sao trình tự chính B -type và các ngôi sao trình tự trước chính nhưng tương đối ít các siêu sao tiến hóa. Trong số các ngôi sao lớn nhất của nó có hai ngôi sao Herbig Be.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “NASA/IPAC Extragalactic Database”. Results for NGC 0146. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  2. ^ a ă “NGC 146”. SIMBAD. Centre de données astronomiques de Strasbourg. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  3. ^ “Catalogo NGC/IC online - result for NGC 146”. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ “WEBDA page for open cluster NGC 146”. 
  5. ^ a ă Subramaniam, A.; Sahu, D. K.; Sagar, R.; Vijitha, P. (tháng 9 năm 2005). “NGC 146: a young open cluster with a Herbig Be star and intermediate mass pre-main sequence stars”. Astronomy and Astrophysics 440 (2): 511‐522. Bibcode:2005A&A...440..511S. arXiv:astro-ph/0505314. doi:10.1051/0004-6361:20052683. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]