Hệ thống giao thông Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tỉnh lộ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các tuyến đường bộ chính

Các tuyến đường bộ, đường sắt, hàng không trong mạng lưới giao thông Việt Nam chủ yếu theo hướng Bắc Nam, phần lớn các tuyến đường thủy nội địa có hướng Đông Tây bởi hầu hết các con sông chính đều đổ từ hướng tây ra biển.

Mạng lưới giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ 1A đoạn qua Bắc Ninh
Bài chi tiết: Quốc lộ 1A

Hệ thống đường bộ chính tại Việt Nam bao gồm các con đường Quốc lộ, nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Dưới đây là các tuyến Quốc lộ tại Việt Nam:

  • Quốc lộ 1A: Đây là con đường có tổng chiều dài 2260 km. Là con đường bắt đầu từ tỉnh Lạng Sơn theo hướng nam, qua các tỉnh, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa ở miền Bắc, qua các tỉnh duyên hải miền Trung tới Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và kết thúc tại Cà Mau. Qua 31 tỉnh, thành phố của Việt Nam, vượt qua các sông lớn như sông Kỳ Cùng, sông Thương, sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng, sông Đáy, sông Lèn (qua cầu Đò Lèn), sông Mã, sông Lam, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Bến Hải, sông Hương, sông Cầu Đỏ (qua cầu Đỏ), sông Thu Bồn (qua cầu Đò Rèn), sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Côn (qua cầu Gành), sông Đà Rằng (qua cầu Đà Rằng mới), sông Dinh, sông Cái, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu... Trên quốc lộ 1 có tổng tất cả 400 cây cầu, trong đó có những cây cầu lớn như cầu Thanh Trì (Hà Nội), cầu Mỹ Thuận (Tiền Giang), cầu Cần Thơ (Cần Thơ). Một số đoạn như đoạn Thừa Thiên- Huế qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng,... theo tiêu chuẩn cao tốc.
  • Quốc lộ 1B: Đây là con đường có tổng chiều dài 135 km, từ thành phố Thái Nguyên (tại cầu Gia Bảy) đến thị trấn Đồng Đăng, Lạng Sơn(tại điểm giao với quốc lộ 1A) đi qua các huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Nguyên:Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Võ Nhai; và thuộc tỉnh Lạng Sơn: Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, và Cao Lộc.
  • Quốc lộ 1C: Đây là con đường có tổng chiều dài 17,3 km, chạy theo hướng Tây-Đông tại tỉnh Khánh Hòa, có điểm đầu tại đèo Rù Rì ở xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, và điểm cuối tại ngã ba Thành, thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh. Tuyến đường này là tuyến quốc lộ 1A đi qua trung tâm thành phố Nha Trang trước khi tuyến tránh (quốc lộ 1A hiện nay) được xây dựng ở ngoại thành.
  • Quốc lộ 1D: Đây là con đường có tổng chiều dài 33 km, nối thị xã Sông Cầu (tỉnh Phú Yên) với Tp.Quy Nhơn -tỉnh Bình Định
  • Quốc lộ 1K: Đây là con đường có tổng chiều dài 24,7 km (đo theo Google Maps). Quốc lộ 1K là một trong các con đường huyết mạch nối Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai.Điểm đầu của tuyến đường là sân bay Tân Sơn Nhất (Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh) hoặc cầu Bình Lợi cũ (giáp ranh giữa Bình ThạnhThủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) giao với quốc lộ 1A rồi qua thị xã Dĩ An-Bình Dương đến điểm cuối tại ngã ba Hố Nai (thành phố Biên Hòa - Đồng Nai) giao cắt với quốc lộ 1A. Đoạn cuối cũng trùng đường Nguyễn Ái Quốc (Biên Hòa)
  • Quốc lộ 2: Đây là con đường có tổng chiều dài 315 km. Con đường bắt đầu từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, qua sông Chảy...
  • Quốc lộ 2B: từ Vĩnh Yên đi Tam Đảo
  • Quốc lộ 2C: từ Sơn Tây qua Vĩnh Yên đi Tuyên Quang, giao cắt sông Phó Đáy
  • Quốc lộ 3: Đây là con đường có tổng chiều dài 351 km. Con đường từ Hà Nội theo hướng bắc, qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, đến cửa khẩu Tà Lùng
  • Quốc lộ 3B: Bắc Kạn - Lạng Sơn
  • Quốc lộ 4: Đây là con đường có tổng chiều dài 670,3 km (chủ yếu đo bằng Google Maps), chạy từ Quảng Ninh theo hướng tây và được chia thành từng đoạn đường 4A, 4B, 4C, 4D, 4E, 4G và 4H. Qua Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La. Đoạn Lạng Sơn - Quảng Ninh (điểm cuối Tiên Yên, có dự án cầu Vân Tiên nối với Vân Đồn) gọi là 4B, đoạn Đồng Đăng qua Tràng Định (Lạng Sơn) - Đông Khê (Cao Bằng) gọi là 4A, đoạn từ thành phố Hà Giang đi Đồng Văn, Mèo Vạc, đến cửa khẩu Săm Pun (Mèo Vạc), một đoạn tới cầu Lý Bôn trên sông Nho Quế gọi là 4C, đoạn từ cửa khẩu Xín Tẻn qua Mường Khương đến thành phố Lào Cai đi Sa Pa, qua thành phố Lai Châu đến Phong Thổ gọi là 4D, từ Lào Cai qua Phố Lu cắt quốc lộ 70 gọi là 4E, từ thành phố Sơn La qua cửa khẩu Chiềng Khương đến thị trấn Sông Mã gọi là 4G, đoạn Si Pa Phìn - Mường Nhé (Điện Biên) gọi là 4H.
  • Quốc lộ 5: Đây là con đường có tổng chiều dài 107 km. Từ Hà Nội theo hướng đông, qua Hưng Yên, Hải Dương, và kết thúc tại Hải Phòng, giao cắt sông Đuống, sông Thái Bình,...
  • Quốc lộ 6: Đây là con đường có tổng chiều dài 505 km. Từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, giao cắt sông Đáy
  • Quốc lộ 7: Đây là con đường có tổng chiều dài 225 km. Từ Diễn Châu qua Đô Lương (Nghệ An) đi về hướng tây đến cửa khẩu Nậm Cắn, nối sang Phonsavan, Luong Pha Bang (Lào)
  • Quốc lộ 8: Đây là con đường có tổng chiều dài 225 km. Gồm có Quốc lộ 8A và 8B. Từ Hà Tĩnh đi về hướng tây đến cửa khẩu Cầu Treo nối sang Viên Chăn (Lào), giao cắt sông Ngàn Sâu,...
  • Quốc lộ 8B, Nghệ An
  • Quốc lộ 9: Đây là con đường có tổng chiều dài 83,5 km. Từ Quảng Trị đi về hướng tây đến cửa khẩu Lao Bảo nối sang Savannakhet (Lào)
  • Quốc lộ 10: Đây là con đường có tổng chiều dài 228 km. Từ Thanh Hóa đi Ninh Bình theo hướng đông bắc qua Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, giao cắt sông Lèn, sông Đáy, sông Hồng (cầu Tân Đệ), sông Luộc, sông Văn Úc, sông Cấm (cầu Kiền), sông Giá, sông Đá Bạc (cầu Đá Bạc),...
  • Quốc lộ 12: nối Điện Biên với Lai Châu, từ thành phố Điện Biên Phủ đi cửa khẩu Ma Lù Thàng
  • Quốc lộ 12A: Toàn tuyến Quốc lộ 12A cũ dài khoảng 145,5 km. Nối Quốc lộ 1A tại Thị trấn Ba Đồn Quảng Bình đi theo hướng tây qua thị trấn Đồng Lê (huyện Tuyên Hoá), thị trấn Quy Đạt (huyện Minh Hoá) chạy trùng vào đường Hồ Chí Minh (đoạn từ ngã ba Trung Hoá đến ngã ba Khe Ve) đi lên cửa khẩu Quốc tế Cha Lo sang Khăm Muộn- Lào
  • Quốc lộ 12B, nối từ Kim Sơn qua Tam Điệp, Nho Quan (Ninh Bình) tới Tân Lạc (Hòa Bình)
  • Quốc lộ 12C, nối khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) với quốc lộ 12A
  • Quốc lộ 13: Đây là con đường có tổng chiều dài 156 km. Từ TP.HCM, theo hướng bắc qua Bình Dương, Bình Phước, qua thị trấn Lộc Ninh đến cửa khẩu Hoa Lư sang Campuchia, hướng đến Kratié
  • Quốc lộ 14: Đây là con đường có tổng chiều dài 1005 km. Từ huyện Đakrông, Quảng Trị theo hướng nam, qua Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước.
  • Quốc lộ 14B: Đây là con đường có tổng chiều dài 74 km. Là một tuyến giao thông cấp quốc gia nối cảng Tiên Sa và thành phố Đà Nẵng với Tây Quảng Nam và Tây Nguyên. Điểm đầu là cảng Tiên Sa thành phố Đà Nẵng. Điểm cuối là nơi giao cắt với quốc lộ 14 ở phía bắc thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam). Quốc lộ 14B đi qua trung tâm thành phố Đà Nẵng, qua huyện Hòa Vang của Đà Nẵng và qua thị trấn Ái Nghĩa (huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam). Đoạn từ Hà Nha tới Hội Khánh trước đây bên trái sông Vu Gia và qua sông bằng cầu phao Hội Khánh. Năm 2006, cầu Hà Nha được đưa vào sử dụng, đoạn từ Hà Nha tới Hội Khánh nằm bên phải sông Vu Gia.
  • Quốc lộ 14C: Bắt đầu từ thị trấn Plei kần - huyện Ngọc Hồi- tỉnh Kon Tum, Quốc lộ 14B là tuyến giao thông cấp quốc gia nối các địa phương Trung và Nam Tây Nguyên dọc biên giới Việt Nam-Campuchia. Điểm đầu tại ngã ba giao cắt với Quốc lộ 19 ở xã Ia Nam, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Chạy qua các huyện: Đức Cơ - Chư Prông - Ea Súp - Buôn Đôn - Cư Jút - Đăk Mil - Đăk Song - Tuy Đức. Điểm cuối đoạn trên tại ngã ba giao cắt với Quốc lộ 14 ở thị trấn Đắk Mil, điểm đầu đoạn dưới phía Bắc thị trấn Đức An, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông, đi cửa khẩu Bu Prăng, Tuy Đức, Đăk Nông.
  • Quốc lộ 14D: nối đường Hồ Chí Minh đoạn Quảng Nam, với cửa khẩu Nam Giang sang Lào, hướng đến Sekong, Pakse
  • Quốc lộ 14E: địa phận Quảng Nam
  • Quốc lộ 14G: nối Đà Nẵng với tây Quảng Nam
  • Quốc lộ 15 (còn gọi là QL 15A): Đây là con đường có tổng chiều dài 710 km, là quốc lộ bắt đầu từ Tòng Đậu (km118, Quốc lộ 6, tỉnh Hòa Bình), đến thị trấn Cam Lộ (tỉnh Quảng Trị), qua các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, giao cắt sông Mã (cầu Na Sài), sông Chu, sông Con, sông Cả... (một số đoạn nhập đường Hồ Chí Minh, đoạn qua Quảng Bình và một phần Nghệ An, Hà Tĩnh gọi là 15A)
  • Quốc lộ 15B: nối Quốc lộ 1A và quốc lộ 15A, tỉnh Hà Tĩnh
  • Quốc lộ 15C: tỉnh Thanh Hóa
  • Quốc lộ 15D: tỉnh Quảng Trị
  • Quốc lộ 16, thuộc tỉnh Quảng Bình, từ Đồng Hới đi Bố Trạch
  • Quốc lộ 18: Đây là con đường có tổng chiều dài 340 km. Từ Hà Nội, theo hướng đông bắc qua Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh, giao cắt sông Thái Bình (khúc Lục Đầu giang) ở cầu Phả Lại, sông Tiên Yên...
  • Quốc lộ 18B, nối Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội với Quế Võ (Bắc Ninh)
  • Quốc lộ 18C: nối Tiên Yên với cửa khẩu Hoành Mô (Quảng Ninh)
  • Quốc lộ 19: Đây là con đường có tổng chiều dài 240 km. Từ Quy Nhơn (Bình Định theo hướng tây đi An Khê, đến Pleiku (Gia Lai) và địa bàn Gia Lai nối quốc lộ 14 qua Đức Cơ đến cửa khẩu Lệ Thanh, Gia Lai, hướng Stung Treng (Campuchia)
  • Quốc lộ 19B: Từ khu kinh tế Nhơn Hội đến sân bay Phù Cát (Bình Định)
  • Quốc lộ 19C: nối các tỉnh Bình Định – Phú Yên – Đắk Lắk
  • Quốc lộ 20: Đây là con đường có tổng chiều dài 340,2 km. Từ phà Thủ Thiêm theo hướng đông bắc qua đi Lâm Đồng, qua Bảo Lộc, qua Đà Lạt đến Đơn Dương gần hồ thủy điện Đa Nhim, giao cắt sông Đồng Nai
  • Quốc lộ 21: Từ Hải Hậu (Nam Định) đến thành phố Nam Định, qua Phủ Lý, đi qua thị trấn Xuân Mai đến thị xã Sơn Tây (một đoạn nhập đường Hồ Chí Minh)
  • Quốc lộ 21B: thành phố Nam Định đi Phủ Lý, qua cầu Ba Đa qua sông Đáy đi Hà Đông, có một đoạn nối dài thuộc địa phận Hà Nam
  • Quốc lộ 22: Đây là con đường có tổng chiều dài 72,5 km. Từ TP. Hồ Chí Minh theo hướng Tây bắc đi Tây Ninh, đến cửa khẩu Mộc Bài, hướng Phnôm Pênh
  • Quốc lộ 22B: Đây là con đường có tổng chiều dài 80 km. Từ Gò Dầu (Tây Ninh), theo hướng bắc lên cửa khẩu Xa Mát, hướng đi Kampong Cham
  • Quốc lộ 23: địa bàn Đông Anh, Mê Linh (Hà Nội) đến Phúc Yên, Vĩnh Phúc
  • Quốc lộ 24: Đây là con đường có tổng chiều dài 170 km. Từ Quảng Ngãi theo hướng tây lên Kon Tum
  • Quốc lộ 25: Đây là con đường có tổng chiều dài 181 km. Từ Tuy Hòa (Phú Yên) theo hướng tây bắc đi Pleiku (Gia Lai), giao cắt sông Ba
  • Quốc lộ 26: Đây là con đường có tổng chiều dài 150 km. Từ Khánh Hòa theo hướng tây đi Buôn Ma Thuột
  • Quốc lộ 26B: Từ trung tâm thị xã Ninh Hòa đi xã Ninh Vân, Ninh Hòa, Khánh Hòa
  • Quốc lộ 27: Đây là con đường có tổng chiều dài khoảng 300 km. Từ Phan Rang (Ninh Thuận theo hướng Tây bắc, qua đèo Ngoạn Mục đi Liên Khương huyện Đức Trọng, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), đến thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk)
  • Quốc lộ 27B: Từ thị xã Cam Ranh (Khánh Hòa) đi huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận)
  • Quốc lộ 28: Đây là con đường có tổng chiều dài 192 km. Từ Phan Thiết (Bình Thuận theo hướng tây bắc, qua Di Linh (Lâm Đồng) đi Gia Nghĩa (Đắk Nông)
  • Quốc lộ 28B: Tuyến đường Lương Sơn (Bình Thuận) - Đại Ninh (Lâm Đồng). Quốc lộ 28B có chiều dài 69 km
  • Quốc lộ 29: Đây là con đường có tổng chiều dài 149 km (đo bằng Googles Maps). Được chuyển từ tỉnh lộ lên quốc lộ theo Quyết định 1307/QĐ-BGTVT ngày 14/6/2011 của Bộ Giao thông vận tải trên cơ sở các đường tỉnh lộ của hai tỉnh Đắc Lắc và Phú Yên. Điểm đầu của tuyến đường này giao với Quốc lộ 1A gần cảng Vũng Rô (tỉnh Phú Yên), đoạn qua tỉnh Đắc Lắc có chiều dài gần 70 km bắt đầu từ ranh giới 2 tỉnh Đắc Lắc và Phú Yên đến thị xã Buôn Hồ. Đoạn đường bị hỏng nghiêm trọng nhất là khoảng 20 km đi qua Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô - từ xã Ea Sô (huyện Ea Kar) đến xã Cư Prao (huyện M’Drak), nhất là từ Trạm kiểm lâm số 1 đến Trạm số 8 Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, đường nhiều chỗ bị sụt lún, tạo nên những ổ gà trên mặt, một số chỗ đá dăm trồi lên nham nhở, có đoạn dài hàng chục mét, toàn bộ mặt nhựa bị bong tróc, gồ ghề.
  • Quốc lộ 30: Đây là con đường có tổng chiều dài 120 km. Từ xã An Hữu (Tiền Giang) trên Quốc lộ 1 đi theo hướng tây bắc qua Cao Lãnh, Hồng Ngự (Đồng Tháp).
  • Quốc lộ 31: Đây là con đường có tổng chiều dài hơn 142,4 km, trong đó đoạn từ biên giới Việt - Trung đến thị trấn Đình Lập dài 32,4 km, đoạn từ thị trấn Đình Lập đến quốc lộ 1A dài hơn 109 km (đều đo bằng Google Maps). Là tuyến đường liên tỉnh nối Lạng Sơn với Bắc Giang và nối các huyện ở phía Tây của Bắc Giang với nhau. Điểm đầu tuyến tại ngã ba Bản Chắt, xã Bình Xá, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn. Điểm cuối tuyến tại thành phố Bắc Giang, trên Quốc lộ 1A. Quốc lộ 31 đi qua Đình Lập - Sơn Động - Lục Ngạn - Lục Nam - Lạng Giang - thành phố Bắc Giang.
  • Quốc lộ 32: Đây là con đường có tổng chiều dài 415 km. Từ Hà Nội theo hướng tây bắc, qua thị xã Sơn Tây (Hà Nội), qua cầu Trung Hà sang Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu.
  • Quốc lộ 32B, địa bàn Tân Sơn (Phú Thọ) - Phù Yên (Yên Bái), nối quốc lộ 32 với quốc lộ 37
  • Quốc lộ 32C, nối Phú Thọ - Yên Bái, từ Việt Trì qua cầu Phong Châu sang Tam Nông, đi đến cầu Yên Bái
  • Quốc lộ 34: Đây là con đường có tổng chiều dài 260 km. Nối Cao Bằng với Hà Giang. Điểm đầu tại thị xã Cao Bằng, giao với Quốc lộ 4A và Quốc lộ 2. Điểm cuối tại phường Trần Phú, thành phố Hà Giang.
  • Quốc lộ 37: Đây là con đường có tổng chiều dài 470 km. Nối 7 tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và Sơn La với nhau. Điểm đầu bắt đầu từ Cảng Diêm Điền (Thái Thụy - Thái Bình). Điểm cuối tuyến tại Ngã ba Cò Nòi thuộc xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
  • Quốc lộ 37B nối các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hà Nam
  • Quốc lộ 38: Đây là con đường có tổng chiều dài 87 km, kết nối Bắc Ninh với Hưng Yên và Hà Nam. Quốc lộ 38 có một đầu tại ngã ba Ninh Xá ở thành phố Bắc Ninh, chỗ giao cắt với Quốc lộ 1A. Tuyến này có hướng cơ bản là Bắc-Nam, đi qua Tiên Du - cầu Hồ (bắc qua sông Đuống) - Thuận Thành - Cẩm Giàng - Bình Giang - Ân Thi - Kim Động - thành phố Hưng Yên - cầu Yên Lệnh (bắc qua sông Hồng) - Duy Tiên - Kim Bảng. Điểm cuối là ngã ba Lưu Hoàng, giao cắt với Quốc lộ 21B tại nơi giáp ranh giữa Ứng Hòa và Kim Bảng. Ngoài thành phố Bắc Ninh, thành phố Hưng Yên, tuyến đường này còn chạy qua các thị trấn Hồ, Thuận Thành, Cẩm Giàng, Kẻ Sặt, Ân Thi, Lương Bằng, Hòa Mạc và Đồng Văn.
  • Quốc lộ 38B: Đây là con đường có tổng chiều dài 145,06 km, kết nối từ Hải Dương tới Ninh Bình. Điểm đầu là ngã tư Gia Lộc (tại km 52+00, Quốc lộ 37) giữa huyện Gia Lộc và thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; điểm cuối là ngã ba Anh Trỗi (tại km 11+50, Quốc lộ 12B) thuộc xã Quỳnh Lưu huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, giao cắt sông Hồng (cầu Yên Lệnh), sông Đáy (mới có dự án cầu nối thị trấn Lâm và thị trấn Thiên Tôn)...
  • Quốc lộ 39A: Đây là con đường có tổng chiều dài 110 km. Điểm đầu là giao cắt Quốc lộ 5, thị trấn Bần Yên Nhân (Mỹ Hào). Điểm cuối là tại thị trấn Diêm Điền. Là con đường nối liền 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
  • Quốc lộ 39B: Là tuyến giao thông đường bộ nối Hưng Yên với Thái Bình. Tuyến đường này có hướng Đông-Tây. Đầu phía Đông tại thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, sát biển Đông. Đầu phía Tây tại thành phố Hưng Yên.
  • Quốc lộ 40: Đây là con đường có tổng chiều dài 20 km. Điểm đầu là tại Plei Cần, giao cắt với Quốc lộ 14 và Quốc lộ 14C. Điểm cuối là ngã ba Đông Dương tại cửa khầu Bờ Y trên biên giới Việt-Lào. Quốc lộ 40 nối Quốc lộ 11 của Lào, hướng đến Sekong, Pakse.
  • Quốc lộ 43: Đây là con đường có tổng chiều dài 105 km. Điểm đầu tại ngã ba Gia Phù, giao cắt với Quốc lộ 37. Điểm cuối là tại cửa khẩu Pa Háng (Còn gọi là cửa khẩu Lóng Sập) tại Mộc Châu, Sơn La, biên giới Việt - Lào.
  • Quốc lộ 45, nối Nho Quan, Ninh Bình tới thành phố Thanh Hóa, cắt sông Bưởi, sông Mã, sông Chu (cầu Thiệu Hóa),...
  • Quốc lộ 46, từ Cửa Lò qua Vinh đi thị trấn Đô Lương, Nghệ An
  • Quốc lộ 46B, từ Vinh đi Nam Đàn, Nghệ An
  • Quốc lộ 47, nối Sầm Sơn với huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa
  • Quốc lộ 48A, Nghệ An, qua thị xã Thái Hòa đến biên giới Việt - Lào
  • Quốc lộ 48B, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
  • Quốc lộ 48B, nối quốc lộ 7 và quốc lộ 48, Nghệ An
  • Quốc lộ 49, Thừa Thiên - Huế, Huế đi A Lưới
  • Quốc lộ 49B, Thừa Thiên - Huế
  • Quốc lộ 50: Đây là con đường có tổng chiều dài 95,2 km. Từ TP. Hồ Chí Minh, theo hướng nam đi Long An, Gò Công, Mỹ Tho (Tiền Giang), qua sông Soài Rạp (cầu Mỹ Lợi).
  • Quốc lộ 51: Đây là con đường có tổng chiều dài 86 km. Từ Biên Hoà (Đồng Nai), theo hướng đông nam đi đến Bà Rịa.
  • Quốc lộ 51B: Bà Rịa đến Vũng Tàu
  • Quốc lộ 52 (Xa lộ Hà Nội): Đây là con đường có tổng chiều dài 35,7 km. Từ TP. Hồ Chí Minh, theo hướng nam đi Biên Hòa, Đồng Nai, qua sông Đồng Nai,...
  • Quốc lộ 53: nối Vĩnh Long - Trà Vinh
  • Quốc lộ 54: có chiều dài 155 km, nằm cặp sông Hậu, nối liền Đồng Tháp, Vĩnh Long và Trà Vinh. Quốc lộ 54 bắt đầu (km 0) tại bến phà Vàm Cống và kết thúc tại thành phố Trà Vinh (km 155)
  • Quốc lộ 55: Đây là con đường có tổng chiều dài 229 km. Từ Bà Rịa theo hướng đông đi La Gi, Hàm Tân (Bình Thuận), đến Bảo Lộc (Lâm Đồng)
  • Quốc lộ 56: Đây là con đường có tổng chiều dài 50 km. Từ Long Khánh (Đồng Nai) theo hướng nam qua các huyện Cẩm Mỹ, Châu Đức tới TX. Bà Rịa
  • Quốc lộ 57: Từ Thạnh Phú (Bến Tre) đi Long Hồ (Vĩnh Long)
  • Quốc lộ 60: Đây là con đường có tổng chiều dài khoảng 115 km. Từ Mỹ Tho (Tiền Giang) theo hướng nam, qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, con đường này phải đi qua các con sông lớn là Sông Tiền (cầu Rạch Miễu), sông Hàm Luông (cầu Hàm Luông), sông Cổ Chiên (cầu Cổ Chiên), và qua Sông Hậu bằng phà
  • Quốc lộ 61: Đây là con đường có tổng chiều dài 96 km. Từ thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A Hậu Giang, qua Vị Thanh, Hậu Giang, đi Kiên Giang
  • Quốc lộ 61B: Đây là con đường có tổng chiều dài 20 km nối liền Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, con đường này đi men theo kênh xáng Xà No.
  • Quốc lộ 62: từ Tân An đến cửa khẩu Bình Hiệp, Long An
  • Quốc lộ 63: Đây là con đường có tổng chiều dài 100 km. Từ Cà Mau theo hướng bắc đi thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành (Kiên Giang) nối quốc lộ 61 đi Rạch Giá (Kiên Giang)
  • Quốc lộ 70: Đây là con đường có tổng chiều dài 185 km. Từ Phú Thọ theo hướng tây bắc, đi Yên Bái, Lào Cai
  • Quốc lộ 70B: nối Phú Thọ với Hòa Bình
  • Quốc lộ 80: Đây là con đường có tổng chiều dài 215 km. Từ Vĩnh Long theo hướng tây nam qua Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang
  • Quốc lộ 91: Đây là con đường có tổng chiều dài 142 km. Từ Cần Thơ đi Long Xuyên, Châu Đốc (An Giang)
  • Quốc lộ 91B: Cần Thơ, nối nội thành với quốc lộ 91
  • Quốc lộ 91C (Quốc lộ Nam Sông Hậu): Cần Thơ đi Bạc Liêu
  • Quốc lộ 91C: từ Châu Đốc qua cầu Cồn Tiên, đi An Phú đến đường giáp cầu Long Bình (biên giới Việt Nam - Campuchia)
  • Quốc lộ 100: Đây là con đường có tổng chiều dài 21 km, Phong Thổ, Lai Châu.
  • Quốc lộ 217, nối Thanh Hóa với quốc lộ 6 của Lào qua cửa khẩu Na Mèo đi sang Xamneua, Lào
  • Quốc lộ 279: nối Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Điện Biên với nhau, điểm đầu Hạ Long, điểm cuối là cửa khẩu Tây Trang, đi Phongsaly (Lào), giao cắt sông Đà (cầu Pá Uôn), sông Hồng (cầu Bảo Hà), sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (cầu Ba Đạo), sông Thương, sông Lục Nam...
  • Quốc lộ N1, nối Bình Phước với Hà Tiên, giao cắt sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu
  • Quốc lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp đi qua 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau

Tổng chiều dài các con đường kể trên là 14.790,46 km, trong khi đó toàn bộ các tuyến đường Quốc lộ của Việt Nam được cho là có tổng chiều dài khoảng 17.300 km, với gần 85% đã tráng nhựa. Ngoài các đường quốc lộ còn có các đường tỉnh lộ, nối các huyện trong tỉnh, huyện lộ nối các xã trong huyện. Các tuyến tỉnh lộ có tổng chiều dài khoảng 27.700 km, với hơn 50% đã tráng nhựa.

Các tuyến đường quan trọng khác trong quá trình hoàn thiện:

  • Đường Hồ Chí Minh: dài khoảng 3.167 km và cũng là con đường thứ 2 chạy từ Bắc vào Nam Việt Nam, chạy qua vùng núi phía tây, từ Pác Bó, đến Đất Mũi, theo tiêu chuẩn đường cao tốc có đoạn Đoan Hùng (Phú Thọ)- Chợ Bến (Hòa Bình), Cam Lộ (Quảng Trị) - Túy Loan (Đà Nẵng), Mỹ An (Đồng Tháp) - Rạch Sỏi (Kiên Giang) (trước 2020), sau đó các đoạn Khe Cò (Hà Tĩnh) - Bùng (Quảng Bình),...
  • Đường Trường Sơn Đông có chiều dài 657 km, đi qua 7 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, điểm đầu thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, điểm cuối Đưng K’nớ, tại cầu Suối Vàng nối với tỉnh lộ 722, thuộc huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (đang thi công).
  • Tuyến Đường N2: nối Bình Phước - Cà Mau, qua cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống
  • Đường tuần tra biên giới
  • Đường ven biển Việt Nam

Các đường cao tốc có:

Hệ thống đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 2600 km, trong đó tuyến đường chính nối Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh dài 1726 km, toàn ngành có 302 đầu máy, 1063 toa tàu chở khách và 4986 toa tàu chở hàng.[cần dẫn nguồn]

Các tuyến đường sắt từ Hà Nội:

  • Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh: 1726 km, được gọi là Đường sắt Bắc Nam
  • Hà Nội - Thái Nguyên
  • Hà Nội – Lào Cai: 296 km
  • Hà Nội – Hải Phòng: 102 km
  • Hà Nội – Đồng Đăng: 162 km, một đoạn nối xuống Na Dương

Các tuyến khác:

Đường sắt Việt Nam hiện gồm có hai loại đội tàu hỏa là:

  • Các loại tàu khách, gồm: tàu liên vận quốc tế, tàu khách tốc hành và tàu nhanh, tàu khách thường và tàu hỗn hợp.
  • Các loại tàu chở hàng, gồm: tàu chuyên chở nhanh, tàu chuyên chở thường.

Hiện nay phần lớn đường sắt Việt Nam (khoảng 2249 km) dùng khổ rộng 1,0 m, và toàn tuyến đường sắt Bắc Nam dùng khổ 1,0 m. Có 180 km dùng khổ 1,435 m là tuyến đường Hà Nội - cảng Cái Lân dùng cho tàu chở hàng[cần dẫn nguồn]

Hệ thống đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cảng sông Việt Nam

Các tuyến đường thủy nội địa dựa theo các con sông chính như: sông Hồng, sông Đàmiền Bắc; sông Tiền, sông Hậu ở miền Tây Nam Bộsông Đồng Nai, sông Sài Gòn ở miền Đông Nam Bộ. Tổng chiều dài của tất cả các loại sông, kênh, rạch trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 42.000 km, dài nhất là hai con sông: sông Hồng với khoảng 541 km và sông Đà khoảng 543 km. Sông Hậu là con sông có khúc rộng nhất ở huyện Long Phú (Sóc Trăng) và Cầu Kè (Trà Vinh) với chiều ngang khoảng gần 4 km.

Các cảng sông, quy hoạch theo Quyết định số: 1071/QĐ-BGTVT ngày 24 tháng 04 năm 2013:

  • Khu vực phía Bắc: Cảng hàng hóa: gồm 66 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 42,01 triệu tấn/năm. Cảng hành khách: gồm 20 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 5,52 triệu lượt khách/năm.
  • Khu vực miền Trung: Gồm 7 cảng hàng hóa.
  • Khu vực phía Nam: Cảng hàng hóa: gồm 56 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 32,6 triệu tấn/năm (trong đó có 11 cảng chính, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 10,9 triệu tấn/năm và 45 cảng khác có công suất quy hoạch đến năm 2020 là 21,7 triệu tấn/năm). Cảng hành khách: gồm 17 cảng, công suất quy hoạch đến năm 2020 là 29 triệu lượt hành khách/năm

Hệ thống đường thủy Việt Nam hiện đang đảm nhiệm 30% tổng lượng hàng hóa lưu chuyển trong nước, riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đảm nhiệm tới 70% lưu thông hàng hóa trong vùng. Các cảng biển chính hiện nay gồm: cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân ở miền Bắc, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn ở miền Trung và cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái ở miền Nam. Năm 2007, tổng khối lượng hàng hoá thông qua các cảng tại Việt Nam là 177 triệu tấn, trong đó hệ thống cảng Sài Gòn là 55 triệu tấn. Theo dự báo, dự báo lượng hàng hóa qua hệ thống cảng biển Việt Nam vào năm 2010 sẽ đạt 230-250 triệu tấn/năm và 500-550 triệu tấn/năm vào năm 2020[1].

Theo Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2009, theo quy hoạch các cảng tổng hợp quốc gia là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm:

  • Cảng trung chuyển quốc tế: Vân Phong – Khánh Hòa;
  • Cảng cửa ngõ quốc tế: Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • Cảng đầu mối khu vực: Hòn Gai – Quảng Ninh, Nghi Sơn – Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Dương, Vũng Áng – Hà Tĩnh, Dung Quất – Quảng Ngãi, Quy Nhơn – Bình Định, Nha Trang, Ba Ngòi – Khánh Hòa, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ.

Ngoài ra có các cảng địa phương và các cảng chuyên dùng.

Hệ thống đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đường hàng không Việt Nam bao gồm cơ sở hạ tầng là các sân bay quốc tế và các sân bay nội địa. Các hãng hàng không của Việt Nam và một số quốc gia khác cùng khai thác.

Máy bay của Vietnam Ảilines đang hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất

Việt Nam hiện nay có tổng cộng 27 sân bay các loại có bãi đáp hoàn thiện, trong đó có 8 sân bay có đường băng dài trên 3.000 m có khả năng đón được các máy bay loại cỡ trung trở lên như Airbus A320, Airbus A321...[cần dẫn nguồn]

Phương tiện giao thông đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Xe cá nhân

Ở Việt Nam xe gắn máy (là loại xe mô tô 2 bánh) vẫn là phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân. Hiện nay cả nước có khoảng 21 triệu chiếc đang được phép lưu hành, trung bình 4 người dân/ chiếc. Riêng tại hai thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí MinhHà Nội tổng số xe đăng ký đã là 7 triệu chiếc chiếm khoảng 1/3 lượng xe lưu hành tại Việt Nam, đáp ứng đến 90% nhu cầu đi lại của người dân.

Năm 2013 trên toàn quốc có khoảng 37 triệu xe máy.[3]

Phần lớn xe gắn máy do các công ty của Nhật Bản, Đài Loan sản xuất tại Việt Nam cung cấp và một phần các loại xe rẻ tiền chủ yếu sử dụng tại các vùng nông thôn nhập khẩu từ Trung Quốc.[cần dẫn nguồn]

Hệ thống giao thông công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân đi xe đò liên tỉnh

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có hệ thống xe buýt công cộng để phục vụ người dân nhằm giảm thiểu lượng xe cá nhân lưu thông. Tuy nhiên hệ thống này còn yếu kém, năm 2011, sau khi đi thử xe buýt công cộng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (Việt Nam) Đinh La Thăng cũng cho biết: "Thực tế, với tình hình chất lượng xe buýt như hiện nay thì đến tôi còn chẳng thể đi nổi, làm sao mà bắt buộc anh em phải đi được."[4]

Tại TP Hồ Chí Minh đã khởi công dự án xây dựng đường xe tàu điện ngầm (metro).

Hệ thống xe lửa nối liền các thành phố được xây dựng từ thời Pháp thuộc đã quá cũ kỹ. Dự án Đường sắt cao tốc sử dụng hoàn toàn kỹ thuật và vốn vay từ Nhật Bản vấp phải sự phản đối quyết liệt từ Quốc Hội và người dân, và bị Quốc hội bác bỏ vì cho là quá tốn kém không thích hợp với thực trạng kinh tế hiện nay và cần nhiều dự án thiết thực hơn, dù Chính phủ Việt Nam muốn quyết tâm tiến hành dự án tốn kém 56 tỷ USD này.[5][6].

Tiêu cực và tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông hỗn loạn tại một ngã tư Hà Nội, 2011

Hạ tầng cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nội ô, các con phố của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đô thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xe máy –, và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố [7]

Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông.

An toàn giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

ùn tắc giao thông tại Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh

Theo Bộ Giao thông Vận tải thì tính trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có 35 người chết và 70 người bị thương vì tai nạn giao thông.[cần dẫn nguồn] Tổng kết sáu tháng đầu năm 2007 là khoảng 7669 vụ với 6910 người thiệt mạng và khoảng 6000 người bị thương. Theo những dữ kiện này của Ủy ban Giao thông Quốc gia thì con số tử thương trung bình đã tăng thành 38 người mỗi ngày vào giữa năm 2007.[cần dẫn nguồn]

Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương.[8] Năm 2012 Hà Nội xảy ra 777 vụ tai nạn giao thông, làm 619 chết, 397 người bị thương.[9]

Tính vào thời điểm năm 2013 thì mỗi năm có khoảng 10.000 vụ tử thương vì giao thông và thêm gần 40.000 bị chấn thương.[3]

Quản lý và tổ chức giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có nhiều ý kiến phê phán khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông Hà Nội hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện, tạo bất ngờ và gây khó cho người dân, hiệu quả không những không cao mà còn rất lãng phí.[7] [10]. Đã có nhiều ý kiến đóng góp và tìm cách giải quyết thực trạng của giao thông tại Việt Nam.[11]

Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng. Ba tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng nhiều tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại.[12]. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng dự báo tới năm 2015, thành phố Hà Nội sẽ hết tình trạng ùn tắc giao thông.[13]

Tháng 11 năm 2011, bộ trưởng Đinh La Thăng đã đề nghị Quốc hội Việt Nam bố trí khoản ngân sách 40.000 tỷ đồng, thu vượt từ dầu thô, cho các công trình trọng yếu của ngành giao thông vì "Hiện Bộ GTVT không còn tiền để đầu tư hạ tầng".[14] Để tránh ùn tắc giao thông và quá tải của đường phố, cùng với việc đổi giờ làm việc và giờ học, ông Thăng còn đề xuất hạn chế xe cá nhân và tăng phí lưu thông ô tô và xe máy, như thâu phí lưu thông xe máy 500.000 đến 1 triệu đồng/năm và phí lưu thông ô tô từ 20 dến 50 triệu đồng/năm. [15][16] Theo ông thì "việc thu phí lưu hành để sử dụng vào nhiều mục đích, nên người sử dụng phương tiện cá nhân phải có đóng góp cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, và thực hiện các giải pháp giảm tai nạn giao thông. Nhiều ý kiến cho rằng việc đề xuất tăng phí lưu hành xe ô tô lên 20–50 triệu đồng/năm của Bộ trưởng Thăng và Chính phủ là "đổ gánh nặng sang dân", "cào bằng giàu - nghèo", "phí chồng lên phí",... [17][18][19]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số dữ liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng giảm luân chuyển hành khách qua 10 năm gần đây (2000-2010) [20]
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Đường bộ (tăng giảm % so với năm trước) 5,2 4,6 9,4 19,0 12,5 12,7 12,9 13,3 9,8 10,2 12,5
Đường sắt (tăng giảm % so với năm trước) 17,6 7,1 7,9 10,1 7,6 4,3 -5,0 7,5 -2,1 -9,3 8,1
Đường thuỷ (tăng giảm % so với năm trước) 1,8 7,3 9,8 -7,4 15,3 7,9 -6,4 -1,2 3,0 5,4 4,1
Đường hàng không (tăng giảm % so với năm trước) 8,4 39,4 16,2 0,1 31,7 18,8 15,2 14,6 10,0 2,2 30,8

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Từ nay đến 2010, cần 4 - 5 tỷ USD đầu tư phát triển cảng biển”. Báo Sài Gòn Giải phóng. 12 tháng 2 năm 2008. Truy cập 21 tháng 3 năm 2008. 
  2. ^ “Communist Vietnam gets first private airline” (Thông cáo báo chí). Bangkok Post. 21 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008. 
  3. ^ a ă "Bệnh viện quá tải" theo BBC
  4. ^ “Bộ trưởng Thăng không đi nổi xe buýt!”. Vietnamnet dẫn lại GDVN. 5 tháng 12 năm 2011. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ Báo điện tử Kiến thức
  6. ^ Dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam "vấp" nhiều phản biện - Xã hội - Dân trí
  7. ^ a ă Nguyễn Tiến (15 tháng 8 năm 2012). “Giao thông Hà Nội: Tùy tiện, hỗn loạn”. Báo Tin tức (trang TTĐT). Truy cập 16 tháng 5 năm 2013. 
  8. ^ Nguyễn Hợp (20 tháng 12 năm 2011). “Họp bàn giải pháp đảm bảo an toàn giao thông và giảm thiểu ùn tắc, tai nạn giao thông”. Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố Hà Nội. Truy cập 16 tháng 5 năm 2013. 
  9. ^ Hương Nguyên (3 tháng 1 năm 2013). “Tai nạn giao thông năm 2012: Giảm nhưng chưa bền vững”. Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập 16 tháng 5 năm 2013. 
  10. ^ Anh Trọng (4 tháng 6 năm 2010). “'Hết bịt lại thông' ngã ba - tư: Dấu hiệu phá sản?”. Báo Đất Việt điện tử. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 6 năm 2010. Truy cập 1 tháng 10 năm 2010. 
  11. ^ Thực trạng giao thông ở Việt Nam và giải pháp, Nguyễn Anh Minh, 6/2/2007
  12. ^ Hà Lan (29 tháng 7 năm 2008). “Quy hoạch giao thông Hà Nội mở rộng: Cần 100.000 tỷ đồng”. Báo Sài Gòn Giải Phóng online. Truy cập 1 tháng 10 năm 2010. 
  13. ^ Thanh Xuân (9 tháng 4 năm 2008). “Mở rộng Hà Nội, quy hoạch giao thông sẽ như thế nào?”. Báo điện tử VTC News. Truy cập 1 tháng 10 năm 2010. 
  14. ^ “Bộ trưởng Thăng 'đẩy khó' và 'lục túi' dân?”. VTC dẫn lại Tuanvietnam.net. 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  15. ^ “Cấm xe máy, tăng chi phí sử dụng ô tô để giảm ùn tắc”. Lao động. [liên kết hỏng]
  16. ^ Lê Việt (4 tháng 1 năm 2012). “Bộ trưởng Thăng trần tình về tăng phí lưu hành ô tô”. VTC News. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Thế Kha (2 tháng 1 năm 2012). “Đề xuất thu phí mô tô, xe máy: Thêm gánh nặng cho người dân”. Người lao động. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ Phương Linh (6 tháng 1 năm 2012). “Phí chồng lên...phí”. Pháp luật Xã hội. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ Hà Linh (tổng hợp) (3 tháng 1 năm 2012). “Đừng đổ gánh nặng sang dân!”. VTC News. Truy cập 23 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ Nguồn: TCTK Niên giám các năm 2000-2010, Tổng cục Thống kê

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]