Sư đoàn 308, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 308
Dai doan 308 Bac Ho.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trên đường về tiếp quản thủ đô tại đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ, ngày 19-9-1954
Hoạt động 28/8/1949 (&0000000000000065.00000065 năm, &0000000000000307.000000307 ngày)
Quốc gia Việt Nam Việt Nam
Quân chủng Vietnam People's Army insignia.png Lục quân Nhân dân Việt Nam
Phân loại Sư đoàn bộ binh
Chức năng Là sư đoàn chủ lực
Quy mô 8.000 quân
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đoàn 1
Bộ chỉ huy Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội
Tên khác Đại đoàn quân tiên phong
Tham chiến Chiến dịch Hồ Chí Minh

Sư đoàn 308 hay Đại đoàn Quân Tiên phong trực thuộc Quân đoàn 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam là Đại đoàn bộ binh chủ lực được thành lập đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (Đại đoàn là tên gọi đơn vị cấp chiến dịch lúc đó, đến 1955 đổi tên gọi thành Sư đoàn). Thành lập ngày 28/8/1949 tại thị trấn Đồn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.[1][2] Ngày 12/12/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 4100, xếp hạng di tích Quốc gia Di tích lịch sử nơi thành lập Đại đoàn quân tiên phong, Sư đoàn 308 thuộc thị trấn Đu, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên) Ngày 13/5/2015, tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra Lễ đón Bằng di tích cấp Quốc gia nơi thành lập Đại đoàn Quân tiên phong (Sư đoàn 308).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ chỉ huy đầu tiên của Đại đoàn: Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ, Cao Văn Khánh - Đại đoàn phó. Tổ chức sư đoàn gồm: Trung đoàn 102 với tên truyền thống là Trung đoàn Thủ Đô; Trung đoàn 36 với tên truyền thống là Trung đoàn Bắc Bắc; Trung đoàn 88 với tên truyền thống là Trung đoàn Tu Vũ

Ngày 28 tháng 11 năm 1955 Bộ Quốc phòng thành lập E pháo binh 38 thuộc F308, tháng 2/1967 Trung đoàn được điều về Bộ nhận nhiệm vụ mới chỉ để lại 1 tiểu đoàn pháo mang vác phiên hiệu Tiểu đoàn 13. Do yêu cầu đánh lớn hiệp đồng binh chủng, ngày 12/12/1971 Trung đoàn pháo binh 58 được thành lập và phát triển đến ngày nay.

Trong chiến tranh chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kháng chiến chống Pháp Đại đoàn đã tham gia 13 chiến dịch. Tiêu biểu trong chiến dịch Điện Biên Phủ: Mở đầu là trận tiêu diệt địch ở đồi Độc Lập, rồi bức hàng quân Pháp ở đồi Bản Kéo góp phần đập tan tấm lá chắn phía bắc. Tiếp đó, với trận chiến đấu quyết liệt trên đồi A1, đại đoàn tham gia cùng các đơn vị bạn phá vỡ khu phòng ngự phía đông của tập đoàn cứ điểm địch, vừa đánh vừa phản kích, phụ trách cánh quân phía tây

Trong chiến tranh chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn tham gia 3 chiến dịch: chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào và Đông Hà Quảng Trị.

Đầu năm 1968, F308 hành quân vào chiến trường Quảng Trị, tham gia đợt 4 trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Hơn một tháng, đã đánh hàng chục trận, quy mô từ đại đội đến tiểu đoàn, nhiều trận chủ động đánh địch ban ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 TQLC Mỹ, bắn rơi 39 máy bay, phá hủy 11 khẩu pháo, cối các loại cùng nhiều vũ khí, khí tài của Mỹ.

Suốt 52 ngày đêm tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, F308 tiêu diệt 4.023 binh sĩ, bắt sống 127, diệt gọn thiết đoàn 17 QLVNCH và 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân và tiểu đoàn 1 dù, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng và xe bọc thép, 48 khẩu pháo, cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại, cùng hàng chục tấn vũ khí đạn dược, trang bị kỹ thuật.

Năm 1972, QĐNDVN mở chiến dịch xuân-hè, sư đoàn tham gia hướng Trị - Thiên, đã tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước, được coi là điểm mốc của cuộc tiến công, một trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của QĐNDVN tính đến lúc đó. Trong đợt 2 chiến dịch, F308 cùng các đơn vị tăng cường, trong thế tiến công chung của chiến dịch, đã giữ chân quân lực Việt Nam Cộng hòa (khi đó QLVNCH được không quân và pháo hạm Mỹ chi viện). Trong đợt, Sư đoàn 308 và các đơn vị tăng cường diệt 3.500 binh sĩ, bắt 322, phá hủy 110 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 45 máy bay, thu 5 pháo lớn và nhiều xe quân sự, làm tan rã 3 trung đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn xe tăng thiết giáp. Tổng cộng, sau gần một năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị với nhiều đợt kế tiếp, Sư đoàn đã đánh gần 800 trận lớn nhỏ từ một tổ, một tiểu đội đến tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn tăng cường, loại bỏ hơn 10 nghìn binh sĩ đối phương, phá hủy và thu 151 xe tăng thiết giáp, 17 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, bắn rơi 23 máy bay các loại.

Tuy nhiên, tại Quảng Trị, đơn vị cũng chịu nhiều tổn thất lớn: chịu thương vong hơn 70% lực lượng. Nhiều đại đội, tiểu đoàn phải thay thế cán bộ chỉ huy từ 6 tới 7 lần. Có đại đội khi kết thúc chiến dịch không còn lại một ai là cán bộ, chiến sĩ cũ có mặt từ đầu.

Ngày 24/10/1973, bộ chính trị chủ trương thành lập quân đoàn 1 QĐNDVN (binh đoàn Quyết Thắng) trong đó sư 308 được nằm trong đội hình. Sư đoàn 308 được phân công ở lại miền bắc. Theo chiến thuật của QĐNDVN, sư 308 làm nhiệm vụ "cận vệ" và nghi binh, cũng là lực lượng dự bị chiến lược.

Ngày 28 Tháng 8 năm 1979, sư đoàn được chuyển thành sư đoàn bộ binh cơ giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.(Quyết định số 705/QĐ-TM do thượng tướng Lê Trọng Tấn thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội NDVN ký)

Nhiệm vụ chính trị trung tâm hiện nay của Sư đoàn là: huấn luyện SSCĐ, huấn luyện chiến sĩ mới, huấn luyện dự bị động viên, làm nhiệm vụ đối ngoại quân sự, tổ chức quản lý, khai thác, bảo quản, giữ gìn một khối lượng lớn VKTBKT với nhiều chủng loại bảo đảm sức chiến đấu thường xuyên và lâu dài của Sư đoàn. Truyền thống Quân Tiên Phong được đúc kết trong 14 chữ vàng: "Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, Quyết chiến, Quyết thắng

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sư đoàn trưởng: Đại tá Trương Quang Hoài
  • Chính uỷ: Thượng tá Nguyễn Đắc Hưng

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Khi thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung đoàn 102 thành lập ngày 7 tháng 1 năm 1947.
  • Trung đoàn 36 Bắc-Bắc (lấy tên địa phương nơi mình thành lập là Bắc Ninh-Bắc Giang): đóng ở gần khu công nghiệp Lương Sơn, huyện Lương Sơn-Hòa Bình.
  • Trung đoàn 88 Tu Vũ (lấy tên từ trận đánh cứ điểm Tu Vũ - trận mở màn chiến dịch Hoà Bình năm 1952) thành lập ngày 1/7/1949, tại xóm Gò Pháo, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên). Trung đoàn 88 gồm các Tiểu đoàn 23, 29, 28, 322.
  • Tiểu đoàn 11 - Phủ Thông. Sau này, khi Đại đoàn 312 được thành lập, Tiểu đoàn này chuyển sang làm chủ công cho trung đoàn 141 Ba Vì của sư đoàn này.

Năm 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng năm 1950 lực lượng sư đoàn khoảng 15.400 người, gồm có

  • 3 trung đoàn bộ binh.
  • 1 tiểu đoàn pháo 75 mm.
  • 1 tiểu đoàn SKZ 120 mm.
  • 1 tiểu đoàn phòng không.
  • 1 đại đội thông tin liên lạc.
  • 1 đại đội công binh.
  • 1 đại đội vận tải.
  • 2 đại đội tải thương.
  • 1 trường quân chính

Một trung đoàn bộ binh có 3.911 người, gồm:

  • 3 tiểu đoàn bộ binh + 1 đại đội pháo 70.
  • 1 đại đội cối 81mm (6 khẩu).
  • 1 đại đội SKZ 60 (9 khẩu).
  • 1 đại đội phòng không 12,7mm (6 khẩu).
  • 1 đại đội trinh sát.
  • 1 trung đội công binh.

Một tiểu đoàn bộ binh gồm 855 người, gồm:

  • 3 đại đội bộ binh.
  • 1 đại đội trợ chiến.

vũ khí cộng đồng có 6 súng cối 81, 6 đại liên, 6 BZK.

Một đại đội bộ binh có quân số 160 người, vũ khí gồm 2 cối 60mm, 9 trung liên, 33 tiểu liên, 60 súng trường.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung đoàn 36 bộ binh (Trung đoàn Bắc Bắc) gồm: Tiểu đoàn 1; Tiểu đoàn 2; Tiểu đoàn 3.
  • Trung đoàn 88 bộ binh
  • Trung đoàn 102 bộ binh cơ giới (Trung đoàn Thủ Đô)
  • Trung đoàn 58 pháo binh
  • Tiểu đoàn 14 Cối 100
  • Tiểu đoàn 15 DKZ 75.
  • Tiểu đoàn 16 phòng không.
  • Tiểu đoàn 17 công binh.
  • Tiểu đoàn 18 thông tin.
  • Tiểu đoàn 24 quân y.
  • Tiểu đoàn 25 vận tải.
  • Đại đội 20 Trinh sát.
  • Đại đội 26 sửa chữa.
  • Đại đội 29 Bảo quản.
  • Trung đội 23 vệ binh.

Sư trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các Tư lệnh (Sư đoàn trưởng) Sư đoàn qua các thời kỳ. Chức danh Tư lệnh Sư đoàn được dùng trên cơ sở quy định tại sắc lệnh 14-SL ngày 12 tháng 3 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến trước 1980.

Chính ủy Sư đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vương Thừa Vũ – Chính uỷ Sư đoàn 1949-1951
  • Song Hào - Chính uỷ Sư đoàn 1951-1954
  • Đặng Quốc Bảo - Chính uỷ Sư đoàn 1958-1963
  • Lê Linh - Chính uỷ Sư đoàn 1963-1966
  • Nguyễn Kiện - Chính uỷ Sư đoàn 1966-1969
  • Hoàng Phương - Chính uỷ Sư đoàn 1969-1970
  • Nguyễn Hùng Phong - Chính uỷ Sư đoàn 1970-1973
  • Hoàng Kim - Chính uỷ Sư đoàn 1974-1977
  • Mai Thuận - Chính uỷ Sư đoàn 1978-1979
  • Lê Quang Phước - Chính uỷ Sư đoàn 1979-1980
  • Tạ Như Đôn - Chính uỷ Sư đoàn 1980-1984
  • Nguyễn Dụ -Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1984-1985
  • Đại tá Hoàng Ngọc Chiêu - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1985-1987
  • Đại tá Vũ Xuân Sinh - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1987-1988
  • Đại tá Lê Sỹ Thái - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1988-1990, 1991-1992
  • Đại tá Ngô Lương Hanh - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1990-1991, 1992-1995
  • Đại tá Mai Quang Phấn - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1999-2002
  • Đại tá Mai Văn Lý - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 2002-2004
  • Đại tá Nguyễn Anh Tuấn - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị 2005-2006 Chính ủy Sư đoàn 2006- 2010
  • Đại tá Lê Đình Quyền - Chính ủy Sư đoàn 2010-2012
  • Đại tá Nguyễn Bá Thông - Chính ủy Sư đoàn (2012-6.2014)
  • Đại tá Vũ Công Hòa đoàn (7.2014- 3-2015)
  • Thượng tá Nguyễn Đức Hưng- Chính ủy Sư đoàn (4-2015

Các chiến dịch, trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Qua hai cuộc kháng chiến Sư đoàn đã tham gia 16 chiến dịch lớn.

Trong kháng chiến chống Pháp Sư đoàn tham gia 13 chiến dịch:

  • Sông Thao Hè 1949.
  • Sông Lô, Hè 1949.
  • Đường số 4 thu đông 1949.
  • Lao-Hà (tức là chiến dịch Lê Hồng Phong I)Xuân 1950.
  • Chiến dịch Biên giới (Lê Hồng Phong II)Thu đông 1950.
  • Trung du (Trần Hưng Đạo)Đông Xuân 1950-1951.
  • Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám)Xuân Hè 1951.
  • Hà - Nam - Ninh (Quang Trung) Hè 1951.
  • Hoà Bình Đông Xuân 1951-1952.
  • Tây Bắc Thu Đông 1952.
  • Chiến dịch Thượng Lào Xuân-Hè 1953.
  • Chiến dịch Điện Biên Phủ Đông Xuân 1953-1954.
  • Chiến dịch Bắc Giang hè 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ Sư đoàn tham gia 3 chiến dịch

  • Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh hè 1968.
  • Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, Xuân Hè 1971.
  • Chiến dịch Trị Thiên - 1972.

Trong kháng chiến chống Pháp, sư đoàn tổng cộng đã đánh 102 trận đáng kể, gồm:

  • 49 trận tiêu diệt cứ điểm.
  • 46 trận vận động.
  • 5 trận phục kích giao thông.
  • 2 trận tập kích diệt tàu chiến và trận địa pháo binh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]