Hạ Long (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thành phố Hạ Long
Thành phố trực thuộc tỉnh
Halon bay.JPG
Địa lý
Tọa độ: 20°52′24″B 107°05′23″Đ / 20,87333°B 107,08972°Đ / 20.87333; 107.08972Tọa độ: 20°52′24″B 107°05′23″Đ / 20,87333°B 107,08972°Đ / 20.87333; 107.08972
Diện tích 271,95 km²[1]
Dân số (2013)  
 Tổng cộng 227.000 người[1]
 Thành thị 100%[2]
 Nông thôn 0%
 Mật độ 835 người/km²
Dân tộc Kinh, Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan...
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Duyên hải Bắc Bộ
Tỉnh Quảng Ninh
Thành lập 1993[3]
 Chủ tịch UBND Phạm Hồng Hà
 Chủ tịch HĐND Trần Đức Lâm
 Bí thư Thành ủy Trần Đức Lâm
 Trụ sở UBND 2 Bến Đoan, phường Hồng Gai
Phân chia hành chính 20 phường
Mã hành chính 193[4]
Website Thành phố Hạ Long

Thành phố Hạ Long là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh, thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Thành phố Hạ Long được thành lập ngày 27 tháng 12 năm 1993, trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Hồng Gai[5]. Ngày 10/10/2013, Chính phủ ban hành quyết định số 1838/QĐ-TTg công nhận thành phố Hạ Long là đô thị loại I.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích 271,95 km², với chiều dài bờ biển gần 50 km. Phía đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, phía tây giáp thị xã Quảng Yên, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía nam là vịnh Hạ Long. Thành phố nằm dọc theo bờ vịnh Hạ Long với chiều dài khoảng 50 km, cách thủ đô Hà Nội 165 km về phía Tây, thành phố Hải Phòng 60 km về phía Tây Nam, thành phố cửa khẩu Móng Cái 184 km về phía Đông Bắc, phía nam thông ra Biển Đông. Hạ Long có vị trí chiến lược về địa chính trị, địa kinh tế, an ninh quốc phòng của khu vực và quốc gia.[6]

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, đây cũng là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, địa hình ở đây bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt gồm có: Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc, vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A cuối cùng là vùng hải đảo.

Trong đó, vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc chiếm 70% diện tích, với độ cao trung bình từ 150 mét đến 250 mét, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504 mét. Dãy đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15-20%, xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp. thứ hai là vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0.5 đến 5 mét. cuối cùng là vùng hải đảo bao gồm toàn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá. Kết cấu địa chất của thành phố Hạ Long chủ yếu là đất sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét… ổn định và có cường độ chịu tải cao, từ 2.5 đến 4.5 kg/cm2, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình. Khoáng sản chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bãi tắm và bến tàu trên đảo Ti Tốp

Thành phố Hạ Long thuộc vùng khí hậu ven biển, với 2 mùa rõ rệt là mùa đôngmùa hè.

Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23.70C. Mùa đông thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình là 16.70C rét nhất là 50C. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10. nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 28.60C, nóng nhất có thể lên đến 380C.

Lượng mưa trung bình một năm của Hạ Long là 1832 mm, phân bố không đều theo 2 mùa. Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80- 85% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đông là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng từ 4 đến 40 mm.

Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84%. Đồng thời khí hậu ở Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè. Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10.[7]

Sông ngòi và chế độ thủy triều[sửa | sửa mã nguồn]

Các sông chính chảy qua địa phận thành phố gồm có các sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới. Cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long. Riêng sông Míp đổ vào hồ Yên Lập. Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, Hà Phong. Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều. Vì địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh.

Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là 3.6m. Nhiệt độ nước biển ở lớp bề mặt trung bình là 18 độ C đến 30.8 độ C, độ mặn nước biển trung bình là 21.6% (vào tháng 7) cao nhất là 32.4% (vào tháng 2 và 3 hằng năm).

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

- Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng của vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số loài thực vật sống trên các đảo, núi đá với hơn 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2009, trên địa bàn thành phố có tổng diện tích đất rừng là 5.862,08ha/tổng diện tích thành phố là 27.153,40 ha. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 %. Trong đó rừng trồng 5.445,69ha và rừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94ha, rừng tre nứa 17,31ha, rừng ngập mặn 371,14ha).

- Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động khoáng sản). Loại than chủ yếu là than Antraxit và bán Antraxit. Bên cạnh đó là trữ lượng sét phục vụ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng tại vùng Giếng Đáy, theo đánh giá triển vọng trữ lượng hiện có khoảng trên 39 triệu tấn. Ngoài ra là đá vôi phục vụ làm nguyên liệu xi măng và vật liệu xây dựng, tập trung tại phường Hà Phong và khu vực Đại Yên, theo đánh giá trữ lượng hiện còn khoảng trên 15 triệu tấn có thể khai thác được. Bên cạnh đó, còn có các khu vực có thể khai thác cát xây dựng tại ven biển phường Hà Phong, Hà Khánh, khu vực sông trới tiếp giáp Hà Khẩu, Việt Hưng… tuy nhiên trữ lượng là không đáng để (đến nay chưa có đánh giá thống kê cụ thể).

- Tài nguyên đất: Thành phố Hạ Long có tổng diện tích đất tự nhiên là 27.195,03 ha, bao gồm các loại đất sau: Đất nông nghiệp 9544,86 ha; Đất phi nông nghiệp 16.254,92 ha, đất chưa sử dụng 1395,25 ha.

- Tài nguyên biển: Do lợi thế có vịnh Hạ Long 2 lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Với tổng diện tích 1.553 km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông). Với nhiều hang động đẹp và huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch nổi tiếng trên toàn thế giới…Bên cạnh đó, vùng biển Hạ Long cũng rất phong phú về các loại động vật và thực vật dưới nước. Theo nghiên cứu có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ, cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò huyết… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm.

Tài nguyên nước: Tài nguyên nước mặt tại thành phố Hạ Long tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập (tổng dung tích chứa của cả hồ bao gồm cả huyện Yên Hưng, Hoành Bồ khoảng 107.200.000 m3 (thời điểm đo trong tháng 8/2010)), Hồ Khe Cá tại phường Hà Tu… đây là nguồn cung cấp lớn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra là các hồ điều hòa tạo cảnh quan cho thành phố như: Yết Kiêu, Ao Cá, Kênh Đồng …

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Người tiền sử đã xuất hiện trên Vịnh Hạ Long từ rất lâu. Qua nhiều năm khảo cổ, các nhà nghiên cứu kết luận rằng trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ-Cái Bèo-Hạ Long trên khu vực vịnh cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời từng là cái nôi văn hóa của nhân loại.

Vùng đất trung tâm của thành phố Hạ Long ngày nay, xưa kia chỉ là một làng chài ven biển, có tên là Bãi Hàu. Đến đầu thời Nguyễn được đổi tên thành xã Mẫu Lệ. Về sau, hình thành thêm các xã Hà Lầm, Lũng Phong, Giang Võng và Trúc Võng. Các xã phường phía Đông và phía Tây của thành phố hiện nay, trước đó đều thuộc huyện Hoành Bồ. Năm 1883, Pháp chiếm vùng vịnh Hạ Long, họ tiến hành khai thác than ở các mỏ trên bờ vịnh. Có ý kiến cho rằng do trên các đảo ở đây có nhiều cây gai nên người Pháp gọi là lle des brouilles, phiên âm là Hon Gai hay Hon Gay, sau đổi thành Hòn Gai.Còn theo các nhà nghiên cứu thì Hòn Gai là cách gọi lệch của người Pháp từ địa danh Hồng Hải lúc bấy giờ. Do tiếng Pháp âm H là âm câm. Nên đọc là Hongay hay Hòn Gai sau này. Lúc bấy giờ, Hòn Gai là một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Yên.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thị xã Hồng Gai trở thành thủ phủ của vùng mỏ. Cuối năm 1946, người Pháp tái chiếm Hòn Gai. Sau hiệp định Genève 1954, thị xã Hồng Gai lại là thủ phủ của khu Hồng Quảng. Ngày 17 tháng 6 năm 1958, xã Thành Công thuộc huyện Hoành Bồ được sáp nhập vào thị xã Hồng Gai[8]. Ngày 30 tháng 10 năm 1963, hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh, từ đó Hồng Gai trở thành thủ phủ của Quảng Ninh[9]. Ngày 26 tháng 9 năm 1966, chuyển xã Tân Hải về huyện Cẩm Phả quản lý[10]. Thị xã Hồng Gai là trung tâm cung cấp than cho toàn bộ ngành công nghiệp của Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là cửa ngõ nối với Trung Quốc nên trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của Mỹ trong chiến tranh. Bến phà Bãi Cháy (ngừng hoạt động năm 2007, nay được thay thế bằng cầu Bãi Cháy) đã từng là đầu mối giao thông quan trọng, bị bom Mỹ hủy diệt nhiều lần, 3 lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau năm 1975, thị xã Hồng Gai có 4 phường: Bạch Đằng, Hạ Long, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu; 5 thị trấn: Bãi Cháy, Cao Thắng, Cọc 5, Hà Lầm, Hà Tu và 4 xã: Hùng Thắng, Thành Công, Tuần Châu. Ngày 16 tháng 1 năm 1979, chia thị trấn Bãi Cháy thành 2 thị trấn: Bãi Cháy và Giếng Đáy[11].

Ngày 11 tháng 8 năm 1981, chia thị trấn Hà Tu thành 2 phường: Hà Tu và Hà Phong; chia thị trấn Hà Lầm thành 3 phường: Hà Lầm, Hà Trung, Hà Khánh; chia thị trấn Cọc 5 thành 2 phường: Hồng Hà và Hồng Hải; chia thị trấn Cao Thắng thành 2 phường: Cao Thắng và Cao Xanh; chia thị trấn Giếng Đáy thành 2 phường: Giếng Đáy và Hà Khẩu; chuyển thị trấn Bãi Cháy thành phường Bãi Cháy [12]. Ngày 28 tháng 5 năm 1991, sáp nhập xã Thành Công vào phường Hà Khẩu.

Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Chính phủ bàn hành Nghị định số 102/CP, thành phố Hạ Long được chính thức thành lập trên cơ sở của thị xã Hòn Gai[13]. Ngày 28 tháng 10 năm 1996, phường Hạ Long được đổi tên thành phường Hồng Gai[14]. Ngày 16 tháng 8 năm 2001, hai xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện Hoành Bồ được sáp nhập về thành phố Hạ Long[15]. Ngày 26 tháng 9 năm 2003, thành phố Hạ Long được công nhận là đô thị loại 2[16]. Ngày 1 tháng 10 năm 2003, chuyển 2 xã: Hùng Thắng và Tuần Châu thành 2 phường có tên tương ứng[17]. Ngày 5 tháng 2 năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị quyết 07/NQ-CP[18], thành lập các phường Đại Yên và Việt Hưng thuộc thành phố Hạ Long. Giới hạn phía đông thành phố ngăn cách với Thành phố Cẩm Phả là dốc Đèo Bụt. Dốc Đèo Bụt trước đây còn gọi là Khe Hùm, theo những người già kể lại thì trước đây có nhiều hổ tại đây, khi đi từ Hòn Gai sang Cẩm Phả phải qua khe này. Giới hạn phía Tây là hồ Yên Lập, giáp với thị xã Quảng Yên..

Ngày 10 tháng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Quyết định số 1838/QĐ-TTg công nhận thành phố Hạ Long là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Quảng Ninh[19].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hạ Long hiện có 20 phường trực thuộc.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Hạ Long[4][20]
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Các Phường
Hà Khánh 31,9 6.306
Hà Lầm 4,01 9.807
Hà Trung 5,68 7.442
Hà Phong 5,68 9.220
Hà Tu 15,94 12.234
Hồng Hải 2,77 17.815
Cao Thắng 2,47 16.167
Cao Xanh 7,14 15.756
Yết Kiêu 1,57 9.440
Trần Hưng Đạo 0,64 9.643
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Các Phường
Bạch Đằng 1,7 9.334
Hồng Gai 1,67 7.232
Bãi Cháy 21 19.890
Hồng Hà 3,81 15.058
Hà Khẩu 8,28 11.588
Giếng Đáy 6,24 14.822
Hùng Thắng 5,97 5.730
Tuần Châu 7,1 1.763
Việt Hưng 31,7 8.648
Đại Yên 45,37 7.900

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu kinh tế của thành phố được xác định là: Công nghiệp - du lịch, Dịch vụ, Thương mại, Nông - lâm nghiệp và hải sản. Năm 2014, GDP của thành phố đạt 22000 tỷ đồng chiếm 41% toàn tỉnh (trong đó Công nghiệp & xây dựng chiếm 31%, Dịch vu & du lịch chiếm 53%), tổng thu ngân sách chiếm 69,3% toàn tỉnh. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 12%/năm.[21]

Theo quy hoạch, thành phố Hạ Long hình thành 5 vùng kinh tế:

  • Vùng 1: Thương mại, dịch vụ gồm các phường Yết Kiêu, Trần Hưng Đạo, Hồng Gai, Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà, Cao Xanh, Cao Thắng
  • Vùng 2: Công nghiệp, lâm nghiệp gồm các phường Hà Trung, Hà Tu, Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Phong
  • Vùng 3: Khu công nghiệp, cảng biển gồm phường Bãi Cháy, Việt Hưng, Hà Khẩu, Giếng Đáy
  • Vùng 4: Du lịch, thương mại gồm phường Bãi Cháy, Hùng Thắng, Tuần Châu
  • Vùng 5: Nông, lâm, ngư nghiệp gồm phường Đại Yên và Việt Hưng

Thành phố có 1470 cơ sở sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp bao gồm các ngành khai thác chế biến than, vật liệu xây dựng, cơ khí, chế biến gỗ, lương thực thực phẩm, may mặc. Có 3 khu công nghiệp tập trung là Cái Lân, Việt Hưng và Hà Khánh, 4 cảng lớn là Cửa Dứa, Cái Lân, Hồng Gai, B12 và 11 cảng nhỏ.

Khai thác than được xem một thế mạnh của thành phố với nhiều mỏ lớn như Hà Tu, Hà Lầm, Tân Lập, Núi Béo, lượng than khai thác mỗi năm ước đạt trên 10 triệu tấn. Gắn liền với các mỏ là các nhà máy sàng tuyển, cơ khí các xí nghiệp vận tải và bến cảng. Hạ Long phát triển mạnh công nghiệp đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm hải sản. Nhà máy đóng tàu Hạ Long có thiết kế đóng tàu dưới 53.000 tấn, nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh có tổng công suất 1.200 MW. Hạ Long còn có nhiều mỏ đất sét rất tốt, với khoảng 6 nhà máy sản xuất gạch ngói chất lượng cao, cung cấp cho trong và ngoài tỉnh, có một phần xuất khẩu. Cảng quốc gia Cái Lân là cảng nước sâu của thành phố. Nhiều thương hiệu nổi tiếng trong nước như: Viglacera Hạ Long, Công ty Dầu thực vật Cái Lân (Neptune, Cái Lân), Bột mì VIMA FLOUR (Hoa Ngọc Lan), Bia Hạ Long, Hải sản Hạ Long...

Ngư nghiệp là một thế mạnh với nhiều chủng loại hải sản, và yêu cầu tiêu thụ lớn, nhất là phục vụ cho khách du lịch và cho xuất khẩu. Thành phố đã và đang đóng mới nhiều tàu thuyền lớn để chuyển ra đánh bắt tuyến ngoài khơi. Hàng xuất khẩu chủ yếu là than và hải sản, hàng nhập khẩu là xăng dầu, máy mỏ, sắt thép, phương tiện vận tải. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2002 đạt 160 triệu USD.

Năm 2011 thu ngân sách của thành phố là 19.445 tỷ đồng, và thu nhập bình quân đầu người năm 2011 là 3.718 USD/người/năm bằng 2,86 lần so với cả nước.[2]

Cầu Bãi Cháy, nối liền hai bờ Hạ Long và đường 18

Giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Về giao thông, Hạ Long nằm chính giữa quốc lộ 18 nối từ Bắc Ninh tới cửa khẩu Móng Cái đã và đang liên tục được nâng cấp, mở rộng do nhu cầu đi lại tăng rất nhanh. Từ Hạ Long theo quốc lộ 10 có thể đến Uông Bí và qua Hải Phòng, Nam Định tới đường quốc lộ 1A xuyên Việt tại Ninh Bình cũng sẽ được nâng cấp thành đường cao tốc theo chương trình "Hai hành lang, một vành đai kinh tế". Trong tương lai sẽ xây dựng các tuyến đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, Hải Phòng - Hạ Long, Móng Cái - Hạ Long. Khối lượng hàng hóa luân chuyển năm 2010 ước đạt 1.200 triệu tấn, tăng 1,7 lần so với năm 2005, tốc độ tăng bình quân 5 năm 11,2%; khối lượng hành khách vận chuyển ước đạt 6,5 triệt lượt, tăng 1,73 lần so với năm 2005, tốc độ tăng bình quân 5 năm 11,6%.[22]

Thành phố còn có những bãi đỗ cho sân bay trực thăng và thuỷ phi cơ. Hiện nay mới có máy bay trực thăng hàng tuần đưa khách đi du lịch từ Hà Nội tới Bãi Cháy. Tuyến đường sắt nối Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long trên tuyến đường sắt Quốc gia Kép – Bãi Cháy đã có. Hiện nay tuyến đường sắt đang được nỗ lực triển khai đầu tư nâng cấp để đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hóa từ Hà Nội tới Hạ Long và cảng Cái Lân.

Thành phố còn có tiềm năng lớn phát triển giao thông thuỷ. Cảng Cái Lân có khả năng tiếp nhận 1 triệu tấn hàng hoá mỗi năm. Cảng xăng dầu B12 cảng chuyên dùng (xăng, dầu) công suất khoảng 1 triệu tấn/năm, độ sâu bến 7-9m cho tàu 1 vạn tấn. Hệ thống đường ống dẫn dầu đi từ cảng B12 là hệ thống giao thông đường ống lớn nhất và duy nhất ở nước ta. Cảng Hòn Gai có thể đón tàu 1 vạn tấn vào sát bờ, các tàu lớn hơn có thể chuyển tải từ vùng cảng nổi trong vịnh. Việc cải tạo cảng Hòn Gai thành cảng hành khách và dịch vụ tổng hợp đã thực hiện xong, độ sâu bến 7-9m, có khả năng phục vụ các tàu du lịch loại lớn của Quốc tế, đang được quy hoạch trở thành cảng khách quốc tế trong khu vực.

Cảng tàu du lịch Bãi Cháy được mở rộng, quy hoạch được một số bến đỗ tàu du lịch, tàu cao tốc tại khu vực Băi Cháy, Hùng Thắng, Tuần Châu như bến thuyền của công viên Hoàng Gia hiện nay đã có 1 bến của Sài gòn Tour, Bến Cái Dăm đã được cải tạo. Ông Đào Hồng Tuyển đã xây dựng xong bến du thuyền đầu tiên ở Việt Nam trên đảo Tuần Châu cùng với bến phà nối Tuần Châu - Cát Bà. Hiện tại Tuần Châu đang xây dựng cảng tàu, bến du thuyền thứ 2 lớn nhất châu Á, gấp 10 lần bến hiện có. Thành phố còn có bến tàu khách thuỷ đi nhiều nơi trong tỉnh và về thành phố Hải Phòng.

Cảng tàu du lịch, bến du thuyền Nam Tuần Châu

Các địa danh, đường phố, công trình công cộng tại Hạ Long[sửa | sửa mã nguồn]

Đường

Tên đường Đặc điểm, vị trí Thông tin thêm
25 Tháng 4 Từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Lê Thánh Tông, dài 950m, rộng 18,8m Ngày giải phóng vùng Mỏ (1955)
279 Từ ngã tư Ao Cá đến đường An Tiêm Là đoạn đầu của quốc lộ 279 (tháng 2/1979, xảy ra chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc), đi qua Bệnh viện Bãi Cháy
30 Tháng 10 Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến ngã tư Trần Quốc Nghiễn - Hải Lộc Ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh (1963)
An Tiêm Từ đường 279 đến cầu Puse (Bút Xê), giáp đường Đồng Đăng Đường đi qua UBND phường Hà Khẩu
Ba Đèo Từ đường Lê Thánh Tông đến đường 25 Tháng 4 Tên ngọn đồi đường đi qua
Bãi Cháy Từ phố Vườn Đào đến đường Hạ Long, dài 4.000m, rộng 15m Gắn với tên gọi khu du lịch Bãi Cháy, tên cũ là đường Hậu cần
Bãi Muối Từ đường Cao Thắng đến khu đô thị mới Gắn với địa danh cũ
Cái Dăm Từ đường Hạ Long đến giáp núi Đường đi qua trường Tiểu học Bãi Cháy
Cái Lân Là đoạn Quốc lộ 18A từ ngã ba Tuần Châu đến cầu Bãi Cháy Đường đi qua khu công nghiệp Cái Lân và cảng Cái Lân
Cao Thắng Từ ngã tư Loong Toòng đến ngã ba Hà Lầm - Bãi Muối Gắn với địa danh phường Cao Thắng
Đại Yên Là đoạn Quốc lộ 18A chạy qua phường, điểm đầu từ cầu Yên Lập 2, giáp phường Minh Thành, thị xã Quảng Yên đến khu Cầu Trắng, dài 8.000m, rộng 12m Gắn với địa danh phường Đại Yên
Đồi Cao Từ đường An Tiêm đến đường Tiêu Giao, dài 2.400m, chiều rộng từ 3,5 đến 04m Tên gọi quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Đặng Bá Hát Từ đường dẫn cầu Bãi Cháy, phường Yết Kiêu đến đường Ba Đèo, dài gần 1.600m, rộng 12,5m Anh hùng Liệt sĩ, Đại đội trưởng Đại đội pháo cao xạ - Xí nghiệp Tuyển than Hồng Gai
Đồng Đăng Từ cầu Puse phường Hà Khẩu, giáp đường An Tiêm đến đập Yên Lập, dài 2.950m, rộng 10,5m Gắn với địa danh cũ
Giếng Đáy Từ ngã ba Kênh Đồng, giáp đường 279 đến đường Cái Lân, dài 1300m, rộng 7,5m Đường đi qua UBND phường Giếng Đáy
Hà Lầm Từ đường Cao Thắng đến cầu Trắng, ngã ba Nguyễn Văn Cừ - Vũ Văn Hiếu Gắn với địa danh phường Hà Lầm
Hải Quân Từ đường Cái Lân đến đường Hạ Long Đường đi qua doanh trại của quân chủng Hải quân
Hoàng Quốc Việt Từ đường Hạ Long đến đường Cái Lân, dài trên 4.000m, rộng 42m Nguyên Bí thư xứ uỷ Bắc Kỳ
Hùng Thắng Từ đường Cái Lân đến khu biệt thự Tây Hùng Thắng Gắn với địa danh phường Hùng Thắng
Hữu Nghị Từ ngã ba giáp đường Đồng Đăng, đến giáp thị trấn Trới huyện Hoành Bồ, dài 2.700m, rộng 10,5m Gắn với địa danh cũ
Kênh Liêm Từ đường Cao Thắng, ngã ba Cứu Hỏa đến cầu Kênh Liêm, giáp đường Nguyễn Văn Cừ Gắn với địa danh cũ
Khe Cá Từ đường Vũ Văn Hiếu đến đập tràn, nối dài đoạn từ ngã ba hợp tác xã đến đồi Độc Lập, dài 3.000m, rộng 5,5m Gắn với địa danh cũ
Lê Lợi Từ ngã tư Loong Toòng đến đường Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông Từ đường Lê Lợi đến ngã 5 cầu Kênh Liêm Vị Hoàng đế thứ 5 nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1460 đến 1497. Ông đã đề thơ lên núi Bài Thơ ở trung tâm thành phố.
Ngọc Châu Từ đường Tuần Châu đến khu nhà nghỉ Ban Tài chính Quản trị Trung ương, dài 3.172m, rộng 10m Gắn với sự kiện Bác Hồ về thăm đảo Tuần Châu
Nguyễn Thị Minh Khai Từ đường Vũ Văn Hiếu, đối diện trường PTCS Minh Khai kéo dài qua Nhà máy Xi măng Hà Tu, đến điểm cuối tại hang Luồn, dài 3.000m, rộng 6m. Liệt sĩ cách mạng
Nguyễn Văn Cừ Từ đường Kênh Liêm đến đường Vũ Văn Hiếu, dài gần 8.000m Bí thư đặc khu Hồng Gai – Uông Bí, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1938-1940)
Tân Lập Từ đường Vũ Văn Hiếu, qua chợ Hà Phong, qua Xí nghiệp Than Tân Lập, tới điểm cuối giáp sân bóng C2 Xí nghiệp Hương Phong, dài 2.643m, rộng 7m Gắn với địa danh cũ
Tiêu Giao Từ ngã ba đường mới, giáp đường Cái Lân đến cổng Xí nghiệp gốm Giếng Đáy 2, dài 2000m, rộng 5m Gắn với địa danh chùa Tiêu Giao
Trần Hưng Đạo Từ ngã tư Loong Toòng đến đường Trần Quốc Nghiễn Gắn với địa danh phường Trần Hưng Đạo
Trần Phú Từ ngã tư Loong Toòng đến giáp Cầu Bang, dài 8.000m, chiều rộng từ 15m đến 20m Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trần Quốc Nghiễn Từ đường Lê Thánh Tông đến phố Điện Biên Phủ, dài 8.300m, chiều rộng từ 15m đến 20m Tướng tài nhà Trần, có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông. Đường bao biển, đi qua Đền Đức Ông Trần Quốc Nhiễn, Công viên Hạ Long, Thư viện - Bảo Tàng tỉnh, Quảng trường 30 Tháng 10, Cung quy hoạch triển lãm tỉnh,...
Trần Thái Tông Từ đường Lê Thánh Tông đến đồi Hoá Chất (phường Hà Khánh), dài 7.300m, chiều rộng 20m Vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần. Ông đã lãnh đạo quân và dân ta chiến thắng giặc ngoại xâm Nguyên Mông năm 1258
Tuần Châu Từ ngã ba Tuần Châu, giáp quốc lộ 18A, tới điểm cuối khu 2 chân đồi Kèo, dài 2.010m, rộng 7m Gắn với địa danh đảo Tuần Châu
Tuyển Than Từ phố Núi Hạm phường Hồng Hà, đi qua gầm Cầu Trắng, tới tổ 2 khu 1 phường Hà Trung, dài 3.000m, rộng 10m Gắn với khu vực tuyển than
Vũ Văn Hiếu Từ ngã ba Cầu Trắng (Nguyễn Văn Cừ, Hà Lầm) đến hết địa phận thành phố Hạ Long, giáp thành phố Cẩm Phả. Bí thư đầu tiên của Đặc khu ủy Vùng mỏ Quảng Ninh

Phố

Phường Tên phố Đặc điểm, vị trí Thông tin thêm
Bạch Đằng Bạch Long Từ đường Lê Thánh Tông đến đường Kênh Liêm
Bài Thơ Từ phố Long Tiên đến giáp núi Bài Thơ Gắn với địa danh núi Bài Thơ, tên cũ là phố Lò Vôi
Cảng Mới Từ phố Truyền Đăng đến đường Trần Hưng Đạo Gắn với địa danh cũ
Đoàn Thị Điểm Từ đường Lê Thánh Tông đến đường 25 Tháng 4
Hoàng Long Từ đường Lê Thánh Tông đến phố Cảng Mới
Hồng Ngọc Từ phố Truyền Đăng đến phố Lê Quý Đôn
Kim Hoàn Từ đường Lê Thánh Tông đến phố Vạn Xuân, cổng chợ Hạ Long 1 Phố có lịch sử chế tác vàng bạc
Lê Hoàn Từ phố Vạn Xuân đến đường Lê Thánh Tông
Lê Ngọc Hân Từ phố Kim Hoàn đến phố Lê Hoàn
Lê Quý Đôn Từ phố Long Tiên đến đường Lê Thánh Tông
Long Tiên Từ đường Lê Thánh Tông đến bến tàu Hòn Gai Phố đi qua chùa Long Tiên
Nguyễn Đức Cảnh Từ phố Tuệ Tĩnh đến đường Lê Thánh Tông. Chiều dài 1.200m, chiều rộng 3,5m Nhà cách mạng, đóng góp nhiều công sức trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc
Nhà thờ Từ đường Trần Hưng Đạo đến tổ 48, khu 3, phường Bạch Đằng. Chiều dài 950m, chiều rộng 3,5m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Trần Quốc Tảng Từ phố Vạn Xuân đến đường Trần Hưng Đạo
Truyền Đăng Từ đường Lê Thánh Tông đến đường Trần Quốc Nghiễn Tên cũ của núi Bài Thơ
Tuệ Tĩnh Từ đường Trần Hưng Đạo đến phố Nguyễn Đức Cảnh Phố đi qua Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh
Vạn Xuân Từ phố Lê Quý Đôn đến đường Lê Thánh Tông
Bãi Cháy Anh Đào Từ đường Hạ Long đến đường Hải Quân
Hồ Xuân Hương Từ đường Hạ Long (đoạn bến phà Bãi Cháy) đến giáp núi
Phan Bội Châu Từ đường Hạ Long đến đường Hoàng Quốc Việt. Chiều dài 400m, chiều rộng 10m Chí sĩ, nhà cách mạng nổi tiếng trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc
Phan Chu Trinh Từ đường Hạ Long đến đường Hoàng Quốc Việt. Chiều dài 900m, chiều rộng 10m Chí sĩ nổi tiếng cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Ông cùng các đồng chí thực hiện cuộc vận động duy tân trong phong trào đấu tranh giành độc lập
Suối Mơ Từ đường Bãi Cháy đến đường Cái Lân. Chiều dài 650m, chiều rộng 05m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Trần Bình Trọng Từ đường Hạ Long đến đường Cái Lân. Chiều dài 760m, chiều rộng 04m Vị tướng thời nhà Trần, đóng góp nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ 2
Trần Khánh Dư Từ đường Hạ Long đến giáp núi (thuộc tổ 8, khu 6, phường Bãi Cháy). Chiều dài 600m, chiều rộng 04m Danh tướng có công lớn trong chiến thắng giặc ngoại xâm Nguyên Mông thế kỉ 13
Trần Quang Diệu Từ đường Hạ Long đến đường Hoàng Quốc Việt. Chiều dài 930m, chiều rộng 10m Tướng tài có nhiều đóng góp cho việc xây dựng triều đại nhà Tây Sơn và trong cuộc kháng chiến chống giặc Thanh xâm lược nước ta thế kỉ 18
Vườn Đào Từ đường Hạ Long đến đường Hải Quân
Cao Thắng Núi Xẻ Từ đường Bãi Muối đến đường Bãi Muối
Cao Xanh Cửa Lục Từ đường Trần Thái Tông đến ô 1, lô A1, dựán khu đô thị Vụng Đâng. Chiều dài 400m, chiều rộng 7,5m Lấy theo tên địa danh Vịnh Cửa Lục (có khi gọi là eo Cửa Lục hoặc sông Cửa Lục) gần tuyến phố
Đào Duy Anh Từ đường Trần Phú đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 500m, chiều rộng 7,5m Nhà nghiên cứu khoa học xã hội nổi tiếng của Việt Nam. Các công trình nghiên cứu, giảng dạy của ông là những đóng góp quan trọng cho nền khoa học xã hội của nước ta thế kỉ 20
Đào Văn Tuất Từ đường Trần Thái Tông đến ô 11, lô B16, khu đô thị Hà Khánh A (thuộc tổ 48, khu 4A, phường Cao Xanh). Chiều dài 400m, chiều rộng 5,5m Đảng viên trẻ đã cắm lá cờ Đảng trên núi Bài Thơ để kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5 (năm 1930)
Đặng Châu Tuệ Từ đường Trần Thái Tông đến tổ 48 khu 4A, phường Cao Xanh. Chiều dài 400m, chiều rộng 5,5m Bí thư chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ở Vùng mỏ, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng ở vùng Mỏ những năm 30 của thế kỉ 20
Nguyễn Quyền Từ đường Trần Thái Tông đến ô 18, lô B18, khu đô thị Hà Khánh A (thuộc tổ 48, khu 4A, phường Cao Xanh). Chiều dài 400m, chiều rộng 5,5m Nhà nho yêu nước, hoạt động trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20
Phạm Ngọc Thạch Từ đường Trần Thái Tông đến kho 487, khu đô thị Vựng Đâng, thuộc tổ 6, khu 8, phường Cao Xanh. Chiều dài 520m, chiều rộng 7,5m Bác sĩ có nhiều cống hiến cho ngành y học của Việt Nam
Thành Công Từ đường Trần Phú đến hết đầu ghềnh thuộc khu 7, phường Cao Xanh. Chiều dài 500m, chiều rộng 6,5m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Vạn Hạnh Từ đường Trần Phú đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 450m, chiều rộng 7,5m Thiền sư giúp vua Lê Đại Hành của triều đại Lê sơ và Lý Công Uẩn trong hoạt động cai trị đất nước
Đại Yên Lôi Âm Từ đường Đại Yên đến bến cây Sai vào chùa Lôi Âm Gắn với địa danh chùa Lôi Âm
Giếng Đáy Ba Lan Từ đường Giếng Đáy (ngã ba Ba Lan) đến Nhà máy đóng tàu Hạ Long. Chiều dài 1.000m, chiều rộng 10m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Bạch Đàn Từ đường Giếng Đáy, đi vào hết khu 3 dài 402m, rộng 3,5m Trước đây là khu chợ Bạch Đàn
Đặng Dung Từ ngã tư Ao Cá đến đường Cái Lân. Chiều dài 800m, chiều rộng 12m Vị quan văn võ song toàn có công trong cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc Minh ngoại xâm thế kỉ 15
Đội Cấn Từ đường 279 đến đường Đồi Cao. Chiều dài 1.000m, chiều rộng 7,5m Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên chống lại thực dân Pháp năm 1917
Kênh Đồng Từ đường Giếng Đáy, chạy vào qua Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, dài 309,2m, rộng 12m Gắn với địa danh cũ
Lê Văn Hưu Từ đường Giếng Đáy đến Nhà máy Gạch Cotto. Chiều dài 800m, chiều rộng 10m Nhà sử học nổi tiếng, tác giả của bộ sử "Đại Việt sử ký", bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam
Lương Văn Can Từ đường 279 đến đường Giếng Đáy. Chiều dài 850m, chiều rộng 03m Nhà cách mạng, một trong những người sáng lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục năm 1907
Lý Tự Trọng Từ phố Ba Lan đến tổ 5, khu 1, phường Giếng Đáy. Chiều dài 500m, chiều rộng 05m Phố nằm bên cạnh trường THCS Lý Tự Trọng
Ngô Gia Tự Từ đường 279 đến đường Cái Lân. Chiều dài 800m, chiều rộng 10m Nhà cách mạng tiền bối đã cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
Hà Khánh Đôi Cây Từ đường Trần Phú đến tổ 28, khu 5, phường Hà Khánh. Chiều dài 710m, chiều rộng 06m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Lao động Từ cầu nước mặn, giáp phường Hà Lầm đến địa chất 905, dài 1.100m, rộng 5,5m Gắn với địa danh cũ
Mạc Thị Bưởi Từ đường Trần Phú đến phố Phan Đình Phùng. Chiều dài 790m, chiều rộng 06m Nữ du kích dũng cảm, liệt sĩ, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Nguyễn Viết Xuân Từ đường Trần Phú đến cống Giáp Khẩu, dài 810m, rộng 5,5m Tên Anh hùng Lực lượng Vũ trang
Phan Đình Phùng Từ đường Trần Phú đến tổ 26A, khu 4, phường Hà Khánh (đoạn khu tập thể cán bộ công nhân Xí nghiệp Hoá chất Mỏ). Chiều dài 490m, chiều rộng 04m Chí sĩ yêu nước, lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Hương Khê trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp thế kỉ 19
Hà Khẩu Việt Thắng Từ đường Cái Lân đến đường Tiêu Giao. Chiều dài 700m, chiều rộng 6,5m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Hà Lầm Đồi Cao Văn Hóa Từ đường Hà Lầm đến hết khu 3A đỉnh Đồi Cao Văn Hoá dài 826m, rộng 5m Tên cũ
Hà Phong Cầu Gỗ Từ đường Tân Lập, đi song song với đường Vũ Văn Hiếu, kéo dài qua cầu gỗ cũ, điểm cuối tới ngã ba chợ Hà Phong giáp đường Tân lập (ngã ba trung tâm phường), dài 676m, rộng 5,5m Gắn với địa danh cũ
Hà Trung Nguyễn Bá Ngọc Từ trụ sở UBND phường Hà Trung đến đường Hà Lầm, dài 656m, rộng 5m Liệt sĩ thiếu niên
Thống Nhất Từ đường Hà Lầm đến hết địa phận tổ 45 khu 4 phường Hà Trung, dài 558m, rộng 5m Tên cũ
Hà Tu Minh Hà Từ đường Vũ Văn Hiếu đến đường Khe Cá Phố đi qua trường THPT Vũ Văn Hiếu
Hồng Gai Bến Đoan Từ đường Lê Thánh Tông đến đường Trần Quốc Nghiễn Phố đi qua UBND thành phố Hạ Long
Cây Tháp Từ đường Lê Thánh Tông đến phố Văn Lang
Chợ Cũ Từ đường Lê Thánh Tông đến giáp núi Gắn với địa danh cũ
Dốc Học Từ phố Nguyễn Du đến phố Chợ Cũ
Đại Cồ Việt Từ phố Văn Lang đến phố Nguyễn Du
Hàng Nồi Từ đường Lê Thánh Tông đến đường Lê Thánh Tông Sau tiếp quản khu mỏ, trên phố có rạp Lúa Vàng và khu chợ bán nhiều thứ đồ trong đó có rất nhiều nồi, từ đó được gọi là phố Hàng Nồi
Hàng Than Từ đường ba Đèo đến đường Lê Thánh Tông
Lê Văn Tám Từ phố Nguyễn Du đến phố Dốc Học
Nguyễn Du Từ đường 25 Tháng 4 đến đền Đức vua Trần Nhân Tông
Nhà hát Từ phố Nguyễn Du đến đường Lê Thánh Tông, dài 400m, rộng 7,5m Gắn với địa danh cũ
Thương mại Từ đường Lê Thánh Tông đến đường 25 Tháng 4
Văn Lang Từ phố Nhà hát đến phố Đoàn Thị Điểm và đoạn đến đường 25 Tháng 4, dài 350m, rộng 10m Phố đi qua trường TH-THCS-THPT Văn Lang
Hồng Hà Ký Con Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Lê Thanh Nghị, dài 450m, rộng 5,5m Tên một đơn vị Vũ trang đầu tiên của Chiến khu Trần Hưng Đạo
Bế Văn Đàn Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến phố Đặng Thùy Trâm. Chiều dài 200m, chiều rộng 7,5m Chiến sĩ, liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông đã dũng cảm, không quản ngại hi sinh, xung phong lấy thân mình làm giá đỡ khẩu trung liên cho đồng đội
Cột 5 Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Trần Quốc Nghiễn, dài 1.000m, chiều rộng 10m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Đặng Thùy Trâm Từ đường Điện Biên Phủ đến tổ 7, khu 6, phường Hồng Hà. Chiều dài 677m, chiều rộng 7,5m Nữ liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Điện Biên Phủ Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến đường Tuyển Than, dài 1.000m, chiều rộng 20m Địa danh đồng thời là tên chiến dịch của quân và dân ta đánh tan tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp năm 1954
Hải Đăng Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến cổng phụ trụ sở Công ty Sông Đà. Chiều dài 430m, chiều rộng 07m Ngọn đèn được thiết kế với mục đích hỗ trợ cho hoạt động của các phương tiện giao thông trên biển định hướng và tìm đường
Huỳnh Thúc Kháng Từ phố Lê Thanh Nghi đến tổ 1, khu 2, phường Hồng Hà. Chiều dài 1.500m, chiều rộng 07m Chí sĩ yêu nước nổi tiếng. Ông tham gia lãnh đạo phong trào Duy Tân, là Bộ trưởng Bộ Nội vụ của Chính phủ Liên hiệp lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quyền Chủ tịch nước
Kim Đồng Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Nguyễn Văn Cừ. Chiều dài 540m, chiều rộng 18m Liệt sĩ, đội trưởng đầu tiên của tổ chức
Lê Chân Từ trụ sở Công ty kho vận than Hòn Gai, đến tổ 12, khu 2, phường Hồng Hà. Chiều dài 540m, chiều rộng 07m Nữ tướng thời Hai Bà Trưng, quê tại làng An Biên, có công giúp Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại nhà Hán
Lê Thanh Nghị Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Trần Quốc Nghiễn, dài 700m, chiều rộng 20m Một nhà cách mạng, tham gia phong trào công nhân mỏ, từng làm công nhân nhà máy điện cột 5 và khu mỏ Vàng Danh
Lương Ngọc Quyến Từ phố Lê Thanh Nghị đến ô số A11, lô A14 dự án quy hoạch mở rộng khu đô thị cột 5, cột 8. Chiều dài 437m, chiều rộng 7,5m Chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ 20. Ông hoạt động tích cực trong phong trào Đông Du và tổ chức Việt Nam Quang phục hội, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917
Nguyễn Thượng Hiền Từ phố Lê Thanh Nghị đến tổ 1, khu 2, phường Hồng Hà. Chiều dài 1.300m, chiều rộng 07m Một chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ 20, hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quang phục hội
Nguyễn Thái Bình Từ phố Lê Thanh Nghi đến giáp trạm điện khu đô thị Licogi (thuộc tổ 1, khu 4, phường Hồng Hà). Chiều dài 700m, chiều rộng 7,5m Sinh viên, tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước của sinh viên Việt Nam
Nguyễn Văn Trỗi Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến phố Bế Văn Đàn. Chiều dài 677m, chiều rộng 7,5m Chiến sĩ cách mạng, liệt sĩ, người đã thực hiện cuộc đánh bom nhằm vào Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ năm 1964
Núi Hạm Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến cảng
Phan Thị Khương Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến Công ty Sông Đà, dài 400m, rộng 7,5m Nữ chiến sĩ cách mạng hoạt động tại khu mỏ Hòn Gai từ những năm 1930 - 1931
Tạ Quang Bửu Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến phố Điện Biên Phủ. Chiều dài 245m, chiềurộng 7,5m Nhà chính trị, khoa học và hoạt động giáo dục nổi tiếng. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của ông có tính chất định hướng cho một số ngành khoa học cơ bản tại Việt Nam
Tô Vĩnh Diện Từ đường Trần Quốc Nghiễn đến phố Bế Văn Đàn. Chiều dài 650m, chiều rộng 7,5m Chiến sĩ, liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đã dũng cảm, không quản ngại hi sinh, lấy thân mình cứu pháo
Trần Cao Vân Từ phố Cột 5 đến tổ 7, khu 2, phường Hồng Hà. Chiều dài 310m, chiều rộng 07m Nho sĩ, nhà thơ, nhà cách mạng nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20
Trần Quốc Toản Từ Sở Lương thực cũ đến Trường tiểu học Trần Quốc Toản, dài 400m, rộng 5m Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản
Võ Thị Sáu Từ phố Kim Đồng đến đồi Truyền hình. Chiều dài 439m, chiều rộng 18m Nữ chiến sĩ cách mạng, liệt sĩ, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Hồng Hải Bùi Thị Xuân Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến giáp núi
Chu Văn An Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến phố Đông Hồ Phố đi qua trường THCS Trọng Điểm
Đoàn Kết Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến giáp núi
Đồi Văn Nghệ Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến doanh trại Tiểu đoàn 183 (thuộc tổ 8, khu 5, phường Hồng Hải). Chiều dài 450m, chiều rộng 10m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Đông Hồ Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến phố Hải Long
Hải An
Hải Bình
Hải Đông Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Trần Quốc Nghiễn. Chiều dài 255m, chiều rộng 14m Địa danh cổ trước đây của vùng đất Quảng Ninh
Hải Hà Tên một huyện của tỉnh Quảng Ninh
Hải Long Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Trần Quốc Nghiễn Phố đi qua trường THPT Chuyên Hạ Long
Hải Lộc
Hải Nam
Hải Ninh Tên tỉnh cũ, một phần của tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
Hải Phú
Hải Phúc
Hải Phượng
Hải Sơn
Hải Thanh
Hải Thắng
Hải Thịnh
Hải Thụy
Hải Trường
Hải Vân
Hải Yến
Hoàng Diệu Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến phố Đông Hồ
Hồng Long
Hồng Quảng Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Trần Quốc Nghiễn. Chiều dài 255m, chiều rộng 14m Tên cũ của một phần tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1955-1963
Kim Hoàng Từ cầu Kênh Liêm đến phố Đông Hồ
Phan Đăng Lưu Từ phố Hải Long đến hết đường đôi
Quang Trung Từ đường Nguyễn Văn Cừ đến ngã ba
Hùng Thắng Thanh Niên Từ đường Hùng Thắng đến đường Hạ Long
Trần Hưng Đạo Giếng Đồn Từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Cao Thắng
Hồng Tiến Từ phố Tô Hiến Thành đến phố Trần Nhật Duật. Chiều dài 350m, chiều rộng 05m Địa danh quen thuộc đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân địa phương
Tô Hiến Thành Từ đường Trần Hưng Đạo đến phố Hồng Tiến
Trần Nguyên Hãn Từ đường Trần Hưng Đạo đến giáp núi
Trần Nhật Duật Từ đường Trần Hưng Đạo đến phố Năm Cống
Tuần Châu
Việt Hưng Việt Hưng Từ đường Đồng Đăng đến đường Đồng Đăng Gắn với địa danh phường Việt Hưng
Yết Kiêu Dã Tượng Từ đường Lê Lợi đến đường Trần Phú
Lam Sơn Từ đường Lê Lợi chạy thẳng ra đường bao biển, dài 200m, rộng 7,5m, vỉa hè 3m Tên cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Anh hùng dân tộc Lê Lợi lãnh đạo
Lương Thế Vinh Từ đường Lê Lợi đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 500m, chiều rộng 5,5m Nhà toán học, nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng thế kỉ 15. Ông nổi tiếng tài năng về toán học, thường được gọi là Trạng Lường
Năm Cống Từ đường Lê Lợi đến phố Hồng Tiến, dài 300m, rộng 5,5m Gắn với địa danh cũ
Ngô Sỹ Liên Từ phố Ngô Thì Nhậm đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 500m, chiều rộng 5,5m Nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam sống ở thế kỉ 15. Ông là tác giả biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư
Ngô Thì Nhậm Từ đường Lê Lợi đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 500m, chiều rộng 5,5m Danh sĩ đời Hậu Lê - Tây Sơn, giúp Triều Tây Sơn đánh lui giặc Thanh xâm lược cuối thế kỉ 18
Nguyễn Thái Học Từ nhà văn hoá khu 5, phường Yết Kiêu đến đường Trần Thái Tông. Chiều dài 900m, chiều rộng 5,5m Nhà cách mạng Việt Nam, sáng lập Việt Nam Quốc Dân Đảng,lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930
Phạm Ngũ Lão Từ đường Lê Lợi đến giáp kênh

Văn hóa xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, Thành phố Hạ Long có dân tộc Kinh chiếm đa số còn có 15 dân tộc khác gồm có Sán Dìu, Hoa, Tày, Nùng, Hán, Dao, Thổ, Mường, Vân Kiều, Cao Lan... với 2.073 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Sán Dìu, Tày, Hoa.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có các trường đào tạo hệ cao đẳng, đại học là: Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, Đại học Hạ Long cơ sở 2, Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm và 4 trường Trung cấp dạy nghề, 6 trường THPT (Trường THPT Hòn Gai lâu đời nhất thành lập năm 1959), 38 trường Trung học cơ sở, PTCS và Tiểu học. Năm 2002, thành phố được công nhận phổ cập Trung học cơ sở.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo Phật ở Hạ Long có khoảng 5032 phật tử với hơn 5 chùa, trong đó có 3 chùa nổi tiếng là chùa Long Tiên tọa lạc tại phường Hồng Gai, chùa Lôi Âm ở phường Đại Yên và chùa Quang Nghiêm ở phường Hà Tu. Công giáo ở đây có khoảng 1759 tín đồ với 1 nhà thờ. Ngoài ra ở phố Bến Đoan có đền thờ Trần Quốc Nghiễn và bốn miếu nhỏ, trong đó 2 miếu thờ Thành Hoàng đã bị bom Mỹ san bằng.

Thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố vẫn tiếp tục thực hiện theo quy hoạch: mở rộng hệ thống bưu điện và các dịch vụ bưu điện, điện thoại tới các phường, xã, hải đảo, khuyến khích tạo mọi điều kiện cho nhân dân khai thác và sử dụng, đầu tư phát triển mạng điện thoại, bưu điện phục vụ sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Ngoài hệ thống thông tin liên lạc đường dây còn có hệ thống thông tin liên lạc không dây của Vinaphone, Mobifone, Viettel, phủ sóng khắp Thành phố và cả khu vực Vịnh Hạ Long, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho phục vụ khách du lịch cũng như nhân dân Thành phố. Thành phố có một bưu cục trung tâm, một tổng đài có hơn 80.000 số hoà mạng lưới quốc gia tuyến đường cáp quang nối với Hà Nội đã được xây dựng, dịch vụ internet cũng phát triển rất nhanh. Tổng số máy điện thoại cố định trên địa bàn năm 2010 đạt trên 80.000 máy, mật độ điện thoại đạt hơn 36 máy/100 dân; có hơn 43% người dân sử dụng dịch vụ Internet; trên 380.000 thuê bao di động trả trước và trả sau. Toàn thành phố có hơn 17.500 hộ thuê bao dịch vụ truyền hình cáp. Hiện tại toàn bộ thành phố, kể cả vùng Vịnh Hạ Long đã được phủ sóng Wifi miễn phí.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Chả mực - món chả được chế biến công phu và đắt tiền

Ẩm thực Hạ Long là một trong những yếu tố đặc trưng của thành phố này. Các món ăn ở đây chủ yếu được chế biến từ hải sản nhưng theo những phương pháp truyền thống của dân miền biển và bằng những loài hải sản độc đáo mà nhiều người còn chưa được nhìn thấy bao giờ. Ví dụ như ngán là một loài nhuyễn thể chỉ sống ở Quảng Ninh. Ngán rất bổ dưỡng và chế biến được nhiều món ăn ngon khác nhau như ngán luộc, ngán nướng, gỏi ngán, cháo ngán, bún ngán. Mỗi món ngán được chế biến theo những cách khác nhau lại có hương vị riêng.

Ngoài ra còn rất nhiều đặc sản khác mà du khách không thể bỏ qua khi đến Hạ Long như: chả mực (ăn với xôi, bánh cuốn), canh , cà sáy (cà sáy là con vịt lai ngan), sam Hạ Long, sò huyết, ruốc (Ruốc lỗ là một loài thuộc họ bạch tuộc nhưng chỉ nhỏ bằng ngón chân cái đứa trẻ), tu hài, tôm hùm, bề bề, sá sùng, cù kỳ (cù kỳ là một loại cua biển có hai càng rất to, chân có nhiều lông, thịt chắc và rất thơm), ghẹ, hàu, mực...

Du lịch dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Long được mệnh danh là thành phố du lịch,trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Năm 2012 số du khách đến Vịnh Hạ Long đạt trên 7 triệu lượt người. Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Ngoài ra vào lúc 2 giờ của ngày 12 tháng 11 năm 2012 (theo giờ Việt Nam), vịnh Hạ Long được tổ chức New7Wonders tuyên bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới. Hạ Long đã được nhận Cúp quốc gia về môi trường là Thành phố xanh - sạch - đẹp.

Gắn liền với vịnh Hạ Long, phường Bãi Cháy và các phường Tuần Châu, Hùng Thắng đang là vùng phát triển các khách sạn nhà hàngxây dựng các công trình du lịch. Hạ Long có khoảng 20 khách sạn lớn nhỏ với nhiều khách sạn 4, 5 sao, trang thiết bị đầy đủ đón khách quốc tế và hơn 300 khách sạn nhỏ. Các bãi tắm Bãi Cháy, Thanh Niên, Tuần Châu ngày càng được tu bổ, phát triển, ngoài ra một công viên vui chơi đã hình thành. Ngoài vịnh, với gần 30 hang động đã được phát hiện, các hang động Thiên Cung, Ðầu Gỗ, hang Sửng Sốt đã được đưa vào phục vụ du lịch tạo thêm sức hấp dẫn.

Cụm di tích lịch sử và danh thắng ở trung tâm thành phố bao gồm Núi Bài Thơ, Đền Thờ Đức Ông Đông Hải Đại Vương Trần Quốc Nghiễn, Chùa Long Tiên ở bên núi Bài Thơ. Các địa chỉ lịch sử, các sinh hoạt văn hoá và sinh cảnh, các đồi thông, các công viên thành phố đang được khai thác để đón hơn 1 triệu khách trong những năm tới.

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Hòn Cánh Buồm

[23]

[24]

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về việc thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
  2. ^ a ă Công nhận thành phố Hạ Long đô thị loại I Báo Hà Nội Mới
  3. ^ Nghị định số 102-CP ngày 27 tháng 12 năm 1993 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh.
  4. ^ a ă “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ Nghị định số 102/CP của Chính phủ: Nghị định về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ Hạ Long- Thành phố du lịch, Sở VHTT Quảng Ninh, 2003, trang 12
  7. ^ [1] Điều kiện tự nhiên và xã hội Hạ Long
  8. ^ Nghị định 302-TTg năm 1958 về việc sát nhập xã Thành Công, thuộc huyện Hoành Bồ vào thị xã Hòn Gai, khu Hồng Quảng
  9. ^ Nghị Quyết về việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng và sáp nhập xã Hữu Sản thuộc huyện Đình Lập, tỉnh Hải Ninh, huyện Sơn Động, tỉnh Hà Bắc do Quốc hội ban hành
  10. ^ Quyết định 185-CP về việc sáp nhập xã Tân-hải thuộc thị xã Hồng-gai và xã Thắng-lợi thuộc thị xã Cẩm-phả vào huyện Cẩm-phả, tỉnh Quảng-ninh
  11. ^ Quyết định 17-CP năm 1979 phân vạch địa giới hành chính một số xã, thị trấn và đổi tên một số xã và thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh
  12. ^ Quyết định 63-HĐBT năm 1981 về việc phân vạch địa giới một số thị trấn của thị xã Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh
  13. ^ Nghị định về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, Nghị định Chính phủ.
  14. ^ Nghị định 66-CP năm 1996 về việc đổi tên phường Hạ Long (thuộc thành phố Hạ Long) và giao đảo Chằn của huyện Hải Ninh về huyện Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh) quản lý
  15. ^ Nghị định 51/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hoành Bồ để mở rộng thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
  16. ^ Quyết định 199/2003/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Hạ Long là đô thị loại II
  17. ^ Nghị định 111/2003/NĐ-CP về việc thành lập 2 phường Tuần Châu và Hùng Thắng thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
  18. ^ Nghị quyết số 07/NQ-CP của Chính phủ: V/v thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
  19. ^ Quyết định 1838/QĐ-TTg năm 2013 công nhận thành phố Hạ Long là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Quảng Ninh do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  20. ^ Dân số và và dân số các phường của Hạ Long tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Website Thành phố Hạ Long.
  21. ^ Số liệu từ báo cáo kinh tế của Cục thống kê Tỉnh Quảng Ninh 2002
  22. ^ [2] Hệ thống giao thông Hạ Long
  23. ^ Trần Nhuận Minh dịch, Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Viện Hán Nôm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 1994, tái bản 1996, 1998, 2002, 2004
  24. ^ Sổ vàng UBND thành phố Hạ Long