Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard Hot 100

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dưới đây là danh sách các kỷ lục và thành tưu liên quan tới bảng xếp hạng đĩa đơn Billboard Hot 100 của tạp chí Billboard.

Mục lục

Thành tựu Hot 100 mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ra đời của Hot 100, tạp chí Billboard đã cho xuất bản danh sách 100 bài hát và nghệ sĩ hoạt động tốt nhất trên bảng xếp hạng này trong vòng 50 năm qua.[1][2] Năm 2013, Billboard sửa đổi nó một lần nữa cho ấn bản kỷ niệm lần thứ 55 của bảng xếp hạng.[3] Năm 2015, Billboard sửa đổi bảng xếp hạng một lần nữa..[4] Dưới đây là 10 ca khúc đứng đầu và top 10 nghệ sĩ thành công nhất trong khoảng thời gian 57 năm của Hot 100, tính đến tháng 10 năm 2015.

Top 10 bài hát của mọi thời đại (1958–2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Hang Đĩa đơn Năm phát hành Nghệ sĩ Vị trí cao nhất
1 "The Twist"
1960, 1961*
Chubby Checker #1 trong 3 tuần
2 "Smooth"
1999
Santana hợp tác với Rob Thomas #1 trong 12 tuần
3 "Mack the Knife"
1959
Bobby Darin #1 trong 9 tuần
4 "How Do I Live"
1997
LeAnn Rimes #2 trong 4 tuần
5 "Party Rock Anthem"
2011
LMFAO hợp tác với Lauren Bennett & GoonRock #1 trong 6 tuần
6 "I Gotta Feeling"
2009
The Black Eyed Peas #1 trong 14 tuần
7 "Macarena (Bayside Boys Mix)"
1996
Los Del Rio #1 trong 14 tuần
8 "Physical"
1981
Olivia Newton-John #1 trong 10 tuần
9 "You Light Up My Life"
1977
Debby Boone #1 trong 10 tuần
10 "Hey Jude"
1968
The Beatles #1 trong 9 tuần

* — phát hành lại
Nguồn:[5]

Top 10 nghệ sĩ của mọi thời đại (1958–2015)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Nghệ sĩ
1 The Beatles
2 Madonna
3 Elton John
4 Elvis Presley
5 Mariah Carey
6 Stevie Wonder
7 Janet Jackson
8 Michael Jackson
9 Whitney Houston
10 The Rolling Stones

Nguồn:[6]

Thành tựu của bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu bảng nhiều tuần nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • 16 tuần
Mariah Carey & Boyz II Men — "One Sweet Day" (1995–96)
  • 14 tuần
Whitney Houston — "I Will Always Love You" (1992–93)
Boyz II Men — "I'll Make Love to You" (1994)
Los del Río"Macarena" (Bayside Boys Mix) (1996)
Elton John — "Candle in the Wind 1997" / "Something About the Way You Look Tonight" (1997–98)
Mariah Carey — "We Belong Together" (2005)
The Black Eyed Peas — "I Gotta Feeling" (2009)
Mark Ronson hợp tác với Bruno Mars — "Uptown Funk" (2015)
  • 13 tuần
Boyz II Men — "End of the Road" (1992)
Brandy & Monica — "The Boy Is Mine" (1998)
  • 12 tuần
Santana hợp tác với Rob Thomas — "Smooth" (1999–2000)
Eminem — "Lose Yourself" (2002–03)
Usher hợp tác với Lil JonLudacris — "Yeah!" (2004)
The Black Eyed Peas — "Boom Boom Pow" (2009)
Robin Thicke hợp tác với T.I.Pharrell — "Blurred Lines" (2013)
Wiz Khalifa hợp tác với Charlie Puth — "See You Again" (2015)
The Chainsmokers hợp tác với Halsey — "Closer" (2016)
Ed Sheeran — "Shape of You" (2017)
  • 11 tuần
Elvis Presley — "Hound Dog" / "Don't Be Cruel" (1956) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Best Sellers in Stores" và "Most Played in Jukeboxes")
All-4-One — "I Swear" (1994)
Toni Braxton — "Un-Break My Heart" (1996–97)
Puff DaddyFaith Evans hợp tác với 112 — "I'll Be Missing You" (1997)
Destiny's Child — "Independent Women Part I" (2000–01)
  • 10 tuần
McGuire Sisters — "Sincerely" (1955) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Most Played by Jockeys")
Pérez Prado — "Cherry Pink and Apple Blossom White" (1955) (Tiền Hot 100: Bảng xếp hạng "Best Sellers in Stores")
Debby Boone — "You Light Up My Life" (1977)
Olivia Newton-John — "Physical" (1981–82)
Santana featuring The Product G&B — "Maria Maria" (2000)
Ashanti — "Foolish" (2002)
Nelly hợp tác với Kelly Rowland — "Dilemma" (2002)
Kanye West hợp tác với Jamie Foxx — "Gold Digger" (2005)
Beyoncé — "Irreplaceable" (2006–07)
Flo Rida hợp tác với T-Pain — "Low" (2008)
Rihanna hợp tác với Calvin Harris — "We Found Love" (2011–12)
Pharrell Williams — "Happy" (2014)
Adele — "Hello" (2015–16)
Drake hợp tác với WizkidKyla — "One Dance" (2016)

Nguồn:[7]

Đứng nhì nhiều tuần nhất (mà không đạt hạng nhất)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 10 tuần
Foreigner — "Waiting for a Girl Like You" (1981–82)
Missy Elliott — "Work It" (2002–03)
  • 9 tuần
Donna Lewis — "I Love You Always Forever" (1996)
Shania Twain — "You're Still the One" (1998)
  • 8 tuần
Shai — "If I Ever Fall in Love" (1992–93)
Deborah Cox — "Nobody's Supposed to Be Here" (1998–99)
Brian McKnight — "Back at One" (1999–2000)
Mario Winans hợp tác với Enya và P. Diddy — "I Don't Wanna Know" (2004)
Ed Sheeran — "Thinking Out Loud" (2015)

Nguồn:[8]

Nhiều tuần trong top 10 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tuần trong bảng xếp hạng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm được thể hiện trong ngoặc là năm được tính trong tuần cuối cùng của bài hát trên bảng xếp hạng.

Ra mắt ở vị trí số một[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2009, mỗi năm có ít nhất 1 bài hát mở đầu tại vị trí quán quân. Năm 1995, có bốn bài hát mở đầu tại vị trí quán quân (kỷ lục). Nguồn:[19]

Bước nhảy lên đầu bảng lớn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1955–2001, dưới phương pháp thống kê trước đây của Billboard, việc nhảy hạng đối với các bài hát là rất khó xảy ra, và chỉ có hai đĩa đơn nhảy lên vị trí số một từ một thứ hạng dưới Top 20: "Can't Buy Me Love" của The Beatles, từ vị trí thứ 27 đến vị trí quán quân vào tháng 4 năm 1964, và "The Boy Is Mine" của BrandyMonica từ hạng 23 đến hạng 1 vào tháng 6 năm 1998.

Bước nhảy lớn nhất trong một tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Mất nhiều thời gian để đạt vị trí quán quân nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Bước tụt khỏi đầu hàng lớn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[45]

Bước lùi lớn nhất trong một tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[56]

Bước lùi khỏi bảng xếp hạng lớn nhất[sửa | sửa mã nguồn]

† — "Purple Rain" và "When Doves Cry" xuất liện lại trên Hot 100 trong 2 tuần vào năm 2016, và thứ hạng trên chỉ được thể hiện vào lần xuất hiện lại này. Khi những bài hát này xuất hiện lần đầu vào năm 1984, thứ hạng của chúng trong tuần cuối cùng trên Hot 100 đều là dưới top 10.

†† — Một bài hát chỉ xuất hiện vào mùa Giáng sinh.

* — "You Belong With Me" sau này đã tái xuất trên Hot 100 như là một đĩa đơn vào năm 2009, và đạt vị trí thứ 2. Tuần cuối cùng chính thức của bài hát là vào năm 2010, với thứ hạng thấp hơn được thể hiện trong danh sách trên.

Nguồn:[64]

Đĩa đơn quán quân hai lần bởi hai nghệ sĩ khác nhau[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[65][66]

Những bài hát quán quân không phải/hoàn toàn bằng tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Những bài hát quán quân không lời[sửa | sửa mã nguồn]

† — Có chứa một phần giọng hát, nhưng vẫn được xem xét là một bản nhạc không lời.

Thành tựu của nghệ sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều đĩa đơn quán quân nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng đĩa đơn quán quân Nghệ sĩ Hit quán quân lớn nhất
20
The Beatles "Hey Jude"[67]
18
Elvis Presley (Tiền Hot 100 và Hot 100) "Don't Be Cruel / Hound Dog"[68][69]
Mariah Carey "We Belong Together"[70]
14
Rihanna "We Found Love" (hợp tác với Calvin Harris)[71]
13
Michael Jackson "Say Say Say" (song ca với Paul McCartney)[72]
12
The Supremes "Love Child"[73]
Madonna "Like a Virgin"[74]
11
Whitney Houston "I Will Always Love You"[75]
10
Stevie Wonder "Ebony and Ivory" (song ca với Paul McCartney)[76]
Janet Jackson "That's the Way Love Goes"[77]

Nguồn:[78] [79] [80]

Nhiều tuần ở ngôi vị đầu bảng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số tuần ở vị trí quán quân Nghệ sĩ
79
Elvis Presley†
Mariah Carey
60
Rihanna[81]
59
The Beatles
50
Boyz II Men
47
Usher
37
Michael Jackson
36
Beyoncé
34
Elton John
33
Janet Jackson
Katy Perry
*† Tiền Hot 100 và Hot 100. Presley thường được đề cập đã đạt được 80 tuần ở ngôi vị quán quân, khi "All Shook Up" có 9 tuần đứng đầu bảng xếp hạng "Most Played in Jukeboxes". Mặc dù nhà thống kê của Billboard Joel Whitburn vẫn tính tuần thứ 80 này dựa trên những nghiên cứu tồn tại trước đó, tạp chí Billboard vẫn đề cập Presley với 79 tuần.[82]
*Hầu hết số tuần của Presley được tính trong giai đoạn tiền Hot 100. Nếu chỉ tính từ khi Billboard chuyển đổi hệ thống xếp hạng thành Hot 100, Presley có tổng cộng 22 tuần ở vị trí số một.

Nguồn:[78]

Nhiều đĩa đơn quán quân liên tiếp nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng đĩa đơn Nghệ sĩ Hit đầu tiên và ngày lên ngôi đầu bảng Hit cuối cùng và ngày lên ngôi đầu bảng Bài hát phá vỡ kỷ lục
7
Whitney Houston "Saving All My Love for You"
(26 tháng 10 năm 1985)
"Where Do Broken Hearts Go"
(23 tháng 4 năm 1988)
"Love Will Save the Day"
(#9 – 27 tháng 8 năm 1988)
6
The Beatles "I Feel Fine"
(26 tháng 12 năm 1964)
"We Can Work It Out"
(8 tháng 1 năm 1966)
"Nowhere Man"
(#3 – 26 tháng 3 năm 1966)
Bee Gees "How Deep Is Your Love"
(24 tháng 12 năm 1977)
"Love You Inside Out"
(9 tháng 6 năm 1979)
"He's A Liar"
(#30 – 24 tháng 10 năm 1981)
5
Elvis Presley "A Big Hunk o' Love"
(10 tháng 8 năm 1959)
"Surrender"
(20 tháng 5 năm 1961)
"I Feel So Bad"
(#5 – tháng 5 năm 1961)
The Supremes "Where Did Our Love Go"
(22 tháng 8 năm 1964)
"Back in My Arms Again"
(12 tháng 6 năm 1965)
"Nothing but Heartaches"
(#11 – 4 tháng 9 năm 1965)
Michael Jackson "I Just Can't Stop Loving You" (với Siedah Garrett)
(19 tháng 9 năm 1987)
"Dirty Diana"
(2 tháng 7 năm 1988)
"Another Part of Me"
(#11 – 10 tháng 9 năm 1988)
Mariah Carey "Vision of Love"
(4 tháng 8 năm 1990)
"Emotions"
(12 tháng 10 năm 1991)
"Can't Let Go"
(#2 – 25 tháng 1 năm 1992)
"Fantasy"
(30 tháng 9 năm 1995)
"My All"
(23 tháng 5 năm 1998)
"When You Believe" (với Whitney Houston)
(#15 – 30 tháng 1 năm 1999)
Katy Perry "California Gurls" (hợp tác với Snoop Dogg)
(19 tháng 6 năm 2010)
"Last Friday Night (T.G.I.F.)"
(17 tháng 8 năm 2011)
"The One That Got Away"
(#3 – 7 tháng 1 năm 2012)

Lưu ý: Đĩa đơn Thinking About You của Houston không được tính là đã can thiệp vào kỷ lục của cô, vì nó không được phát hành trên các đài phát thanh nhạc Pop nên không xuất hiện trên Hot 100. Trường hợp này cũng được tính cho Not Like the MoviesCircle the Drain của Perry vì chúng chỉ là những đĩa đơn quảng bá, không phải đĩa đơn chính thức.

Nguồn:[83][84][85][86][87][88][88][89]

Nhiều tuần liên tiếp thống trị song song Hot 100 và Billboard 200 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số tuần Nghệ sĩ Năm
Xếp hạng
Đĩa đơn Album
12
The Beatles
1964
"I Want to Hold Your Hand", "She Loves You", "Can't Buy Me Love"
Meet the Beatles!, The Beatles' Second Album
Whitney Houston
1992-93
"I Will Always Love You"
The Bodyguard: Original Soundtrack Album
7
Michael Jackson
1983
"Billie Jean"
Thriller
Drake
2016
"One Dance" (hợp tác với WizkidKyla)
Views
The Monkees
1966-67
"I'm a Believer"
The Monkees, More of the Monkees

Nguồn:[90]

Nhiều năm liên tiếp có đĩa đơn quán quân nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số
năm
Nghệ sĩ Hit đầu tiên và ngày lên ngôi đầu bảng Hit cuối cùng và ngày lên ngôi đầu bảng
11
Mariah Carey "Vision of Love"
(4 tháng 8 năm 1990)
"Thank God I Found You"
(19 tháng 2 năm 2000)
7
Elvis Presley (tiền Hot 100 và Hot 100) "Heartbreak Hotel"
(17 tháng 3 năm 1956)
"Good Luck Charm"
(28 tháng 4 năm 1962)
The Beatles "I Want to Hold Your Hand"
(1 tháng 2 năm 1964)
"The Long and Winding Road"
(20 tháng 6 năm 1970)
6
The Supremes "Where Did Our Love Go"
(22 tháng 8 năm 1964)
"Someday We'll Be Together"
(27 tháng 12 năm 1969)
Lionel Richie "Endless Love"
(15 tháng 8 năm 1981)
"Say You, Say Me"
(11 tháng 1 năm 1986)

Nguồn:[91][92][93]

Nhiều đĩa đơn quán quân nhất trong một năm[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng
đĩa đơn
Nghệ sĩ Năm
xếp hạng
Đĩa đơn
6
The Beatles
1964
"I Want to Hold Your Hand", "She Loves You", "Can't Buy Me Love", "Love Me Do", "A Hard Day's Night", "I Feel Fine"
5
1965
"I Feel Fine", "Eight Days a Week", "Ticket to Ride", "Help!", "Yesterday"
4
Elvis Presley
(tiền Hot 100)
1956
"Heartbreak Hotel", "I Want You, I Need You, I Love You", "Hound Dog" / "Don't Be Cruel", "Love Me Tender"
1957
"Too Much", "All Shook Up", "(Let Me Be Your) Teddy Bear", "Jailhouse Rock"
The Supremes
1965
"Come See About Me", "Stop! In the Name of Love", "Back in My Arms Again", "I Hear a Symphony"
Jackson 5
1970
"I Want You Back", "ABC", "The Love You Save", "I'll Be There"
George Michael
1988
"Faith", "Father Figure", "One More Try", "Monkey"
Usher
2004
"Yeah!" (hợp tác với Lil JonLudacris), "Burn", "Confessions Part II", "My Boo" (song ca với Alicia Keys)
Rihanna
2010
"Rude Boy", "Love the Way You Lie" (Eminem hợp tác với Rihanna), "What's My Name?" (hợp tác với Drake), "Only Girl (In the World)"

Nguồn:[83][94][95][96]

Nhiều đĩa đơn lọt vào top 10 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng
đĩa đơn
Nghệ sĩ
38
Madonna
36
Elvis Presley (tiền Hot 100 và Hot 100)
34
The Beatles
29
Michael Jackson
Rihanna
28
Stevie Wonder
27
Elton John
Janet Jackson
Mariah Carey
23
The Rolling Stones
Whitney Houston
Paul McCartney

Nguồn:[78][97][98]

Lưu ý: Nếu kết hợp những tác phẩm của Paul McCartney và the Beatles lại với nhau, ông sẽ đứng đầu danh sách với 57 hit top 10

Nhiều tuần liên tiếp trong top 10 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số
tuần
Nghệ sĩ Năm
xếp hạng
Đĩa đơn
69
Katy Perry
2010–11
"California Gurls" (hợp tác với Snoop Dogg), "Teenage Dream", "Firework", "E.T." (hợp tác với Kanye West), "Last Friday Night (T.G.I.F.)"
51
Drake
2015–16
"Hotline Bling", "Work" (Rihanna hợp tác với Drake), "Summer Sixteen", "One Dance" (hợp tác với WizkidKyla)
48
Ace of Base
1993–94
"All That She Wants", "The Sign", "Don't Turn Around"
46
Rihanna
2010–11
"Love the Way You Lie" (Eminem hợp tác với Rihanna), "Only Girl (In the World)", "What's My Name?" (hợp tác với Drake), "S&M"
45
The Weeknd
2015–16
"Earned It", "Can't Feel My Face", "The Hills"

Nguồn:[99][100][101]

Nhiều đĩa đơn á quân nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Số đĩa đơn á quân Nghệ sĩ
6
Madonna
5
Elvis Presley
The Carpenters
Creedence Clearwater Revival

Nhiều đĩa đơn lọt vào top 40 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[79][102][103]

Nhiều bài hát lọt vào Hot 100 nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[104]

Thay thế chính mình ở vị trí số một[sửa | sửa mã nguồn]

† The Beatles là nghệ sĩ duy nhất trong lịch sử thay thế chính mình ở vị trí số một với 3 bài hát khác nhau.

Nguồn:[106]

Đạt hạng nhất sau khi qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:[107]

Kỷ lục về độ tuổi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Louis Armstrong (62 năm, 279 ngày tuổi) là nghệ sĩ lớn tuổi nhất từng đứng đầu Hot 100. Ông thiết lập kỷ lục này với "Hello, Dolly!" vào ngày 9 tháng 5 năm 1964.
  • Cher (52 năm, 297 ngày tuổi) là nghệ sĩ lớn tuổi nhất từng đứng đầu Hot 100. Bà thiết lập kỷ lục này với "Believe" vào ngày 13 tháng 3 năm 1999.
  • Michael Jackson (11 năm, 155 ngày tuổi) là nghệ sĩ nhỏ tuổi nhất từng đứng đầu Hot 100. Ông thiết lập kỷ lục này, dưới tư cách là thành viên của the Jackson 5, với "I Want You Back" vào ngày 31 tháng 1 năm 1970.
  • Stevie Wonder (13 năm, 89 ngày tuổi) là nghệ sĩ đơn ca nhỏ tuổi nhất từng đứng đầu Hot 100. Ông thiết lập kỷ lục này với "Fingertips Pt. 2" vào ngày 10 tháng 8 năm 1963.
  • Little Peggy March (15 năm, 50 ngày tuổi) là nghệ sĩ nữ nhỏ tuổi nhất từng đứng đầu Hot 100. Bà thiết lập kỷ lục này với "I Will Follow Him" vào ngày 27 tháng 4 năm 1963.
  • Tony Bennett, khi đó 85 năm, 59 ngày tuổi, là nghệ sĩ lớn tuổi nhất từng xuất hiện trên Hot 100, với "Body and Soul", song ca với Amy Winehouse, đạt vị trí thứ 87 vào ngày 1 tháng 10 năm 2011.
  • Nghệ sĩ người Pháp Jordy Lemoine (5 năm, 156 ngày tuổi) là nghệ sĩ nhỏ tuổi nhất từng xuất hiện trên Hot 100, với "Dur dur d'être bébé! (It's Tough to Be a Baby)", khi đó mang nghệ danh Jordy, xuất hiện trên bảng xếp hạng vào ngày 19 tháng 6 năm 1993.[108][109]

Kỷ lục về khoảng cách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khoảng cách dài nhất giữa những đĩa đơn quán quân của một nghệ sĩ là 24 năm, 355 ngày của Cher. Đĩa đơn "Believe" của cô đạt hạng nhất vào ngày 13 tháng 3 năm 1999, lần đầu tiên kể từ đĩa đơn quán quân gần nhất của cô "Dark Lady" vào ngày 23 tháng 3 năm 1974.
  • Cher còn giữ kỷ lục về khoảng cách giữa đĩa đơn quán quân đầu tiên và gần nhất trên Hot 100 từ trước đến nay: 33 năm, 232 ngày (từ "I Got You Babe" của Sonny & Cher ngày 14 tháng 8 năm 1965 đến tuần cuối ở hạng nhất của "Believe" ngày 3 tháng 4 năm 1999).
  • Kỷ lục về khoảng cách chờ đợi dài nhất giữa đĩa đơn xuất hiện đầu tiên trên Hot 100 đến đĩa đơn quán quân đầu tiên thuộc về Santana, với 30 năm kể từ lần đầu tiên ông xuất hiện trên Hot 100 với "Jingo" (25 tháng 10 năm 1969) và tuần đầu tiên trong số 12 tuần ở hạng nhất với "Smooth," hợp tác với Rob Thomas (23 tháng 10 năm 1999).
  • Khi bản song ca "Body and Soul" của Tony Bennett và Amy Winehouse ra mắt ở hạng 87 vào ngày 1 tháng 10 năm 2011,[110] Bennett trở thành nghệ sĩ có khoảng cách về khoảng cách giữa những đĩa đơn trên Hot 100 — 53 năm, 58 ngày tính từ đĩa đơn đầu tiên của ông "Young and Warm and Wonderful" xuất hiện ở hạng 59 trong phiên bản đầu tiên của hệ thống Hot 100, ngày 4 tháng 8 năm 1958.

Thành tựu của album[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều đĩa đơn quán quân nhất từ một album[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ Album Năm Số lượng
đĩa đơn
Michael Jackson Bad
1987
5
Katy Perry Teenage Dream
2010
Various artists Saturday Night Fever
1977
4
Whitney Houston Whitney
1987
George Michael Faith
Paula Abdul Forever Your Girl
1988
Janet Jackson Janet Jackson's Rhythm Nation 1814
1989
Mariah Carey Mariah Carey
1990
Usher Confessions
2004

Nguồn:[111]

Nhiều đĩa đơn lọt vào top 10 nhất từ một album[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ Album Năm Số lượng
đĩa đơn
Michael Jackson Thriller
1982
7
Bruce Springsteen Born in the U.S.A.
1984
Janet Jackson Janet Jackson's Rhythm Nation 1814
1989
Michael Jackson Bad
1987
6
George Michael Faith
Janet Jackson Janet.
1993
Katy Perry †† Teenage Dream
2010
Lionel Richie Can't Slow Down
1983
5
Janet Jackson Control
1986
Genesis Invisible Touch
Madonna True Blue
Huey Lewis and the News Fore!
Whitney Houston Whitney
1987
Paula Abdul Forever Your Girl
1988
Bobby Brown Don't Be Cruel
New Kids on the Block Hangin' Tough
Bon Jovi New Jersey
Milli Vanilli Girl You Know It's True
1989
Nhiều nghệ sĩ † Waiting to Exhale
1995
Fergie The Dutchess
2006
The Black Eyed Peas The E.N.D.
2009
Taylor Swift 1989
2014

Nguồn:[113]

Waiting to Exhale bao gồm những đĩa đơn top 10 của 5 nghệ sỉ khác nhau: "Exhale (Shoop Shoop)" và "Count on Me" bởi Whitney Houston (bài hát sau là bản song ca với CeCe Winans), "Not Gon' Cry" bởi Mary J. Blige, "Sittin' Up in My Room" bởi Brandy, and "Let It Flow" bởi Toni Braxton.

†† Teenage Dream: The Complete Confection là một phiên bản tái phát hành của album Teenage Dream của Katy Perry, và bao gồm thêm hai đĩa đơn khác lọt vào top 10, nâng tổng số cuối cùng của cô thành 8. Tuy nhiên, thành tích này không được tính vì những đĩa đơn từ phiên bản tái phát hành của một album và không phải từ bản gốc đều không được tính.[112]

Thành tựu của album khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Janet Jackson's Rhythm Nation 1814 của Janet Jackson là album sở hữu nhiều đĩa đơn lọt vào top 5 nhất, với 7.[114]
  • Janet Jackson là nghệ sĩ có nhiều album với nhiều đĩa đơn top 5 hoặc top 10 nhất từ trước đến nay, với 3 album: Control, Janet Jackson's Rhythm Nation 1814, và janet.[115]
  • Lemonade của Beyoncé là album đầu tiên và duy nhất của một nghệ sĩ nữ có từ 12 bài hát trở lên đều xuất hiện trên Billboard Hot 100 trong cùng một tuần.[116]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hot 100 Anniversary: Find Out The Top Songs Of All Time”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 10 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015.  This contains the heading of the article only, no charts.
  2. ^ This site contains the Hot 100's top 100 songs of all-time in the 50th anniversary edition in 2008.
  3. ^ “Hot 100 55th Anniversary Central”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 2 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  4. ^ “Greatest Hot 100 Songs & Artists of All Time: Chubby Checker's 'The Twist' & The Beatles Reign”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ “Greatest of All Time: Hot 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  6. ^ “Greatest of All Time: Hot 100 Artists”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 12 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2016. 
  7. ^ Trust, Gary (7 tháng 11 năm 2016). “The Longest-Leading Hot 100 No. 1s”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2016. 
  8. ^ Letkemann, Jessica (15 tháng 11 năm 2012). “Biggest No. 2 Hits Ever: The Top 40 Hot 100 Tunes To Not Hit No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  9. ^ Trust, Gary (21 tháng 1 năm 2015). “Mark Ronson, Bruno Mars Top Hot 100, Maroon 5 Debuts at No. 8”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  10. ^ a ă â b c d đ e Trust, Gary (9 tháng 5 năm 2014). “Imagine Dragons' 'Radioactive' Ends Record Billboard Hot 100 Run”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2014. 
  11. ^ Trust, Gary (20 tháng 2 năm 2013). “Baauer's 'Harlem Shake' Debuts Atop Revamped Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2013. 
  12. ^ Trust, Gary (3 tháng 9 năm 2014). “Taylor Swift's 'Shake It Off' Holds At No. 1 On Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014. 
  13. ^ Trust, Gary (8 tháng 9 năm 2015). “Justin Bieber Scores First Hot 100 No. 1 With Debut of 'What Do You Mean?'. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2015. 
  14. ^ Trust, Gary (2 tháng 11 năm 2015). “Adele Says 'Hello' to No. 1 Hot 100 Debut; First Song to Sell 1 Million Downloads in a Week”. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015. 
  15. ^ Trust, Gary (8 tháng 2 năm 2016). “Zayn's 'Pillowtalk' Debuts at No. 1 on Hot 100'. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  16. ^ Trust, Gary (16 tháng 5 năm 2016). “Justin Timberlake Debuts at No. 1 on Hot 100 With 'Can't Stop the Feeling!'. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016. 
  17. ^ “Ed Sheeran Debuts Atop Hot 100 With 'Shape of You' & in Top 10 With 'Castle on the Hill'. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  18. ^ “DJ Khaled's All-Star 'I'm the One' Debuts at No. 1 on Billboard Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017. 
  19. ^ “Billboard Hot 100 No. 1 Debuts, a Guide”. Billboard. Prometheus Global Media. 23 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ Silvio Pietroluongo (28 tháng 1 năm 2009). “Kelly Clarkson Breaks Record For Hot 100 Jump”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  21. ^ Caulfield, Keith (8 tháng 10 năm 2008). “T.I. Maintains No. 1 Album While Britney Spears Zooms to No. 1 on the Hot 100”. Billboard magazine. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
  22. ^ Caulfield, Keith (8 tháng 10 năm 2008). “T.I.'s 'Paper Trail' Leads To No. 1 On The Billboard 200”. Billboard magazine. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2008. 
  23. ^ Pietroluongo, Silvio (11 tháng 2 năm 2009). “Eminem's 'Bottle' Breaks Digital Record”. Billboard magazine. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  24. ^ Trust, Gary (22 tháng 8 năm 2012). “Taylor Swift Scores First-Ever No. 1 on Billboard Hot 100 With 'Never'. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012. 
  25. ^ Pietroluongo, Silvio (27 tháng 8 năm 2008). “T.I. Sets New Record With Hot 100 No. 1 Jump”. Billboard magazine. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  26. ^ Pietroluongo, Silvio (3 tháng 11 năm 2010). “Rihanna's 'What's My Name?' Rockets to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2010. 
  27. ^ Silvio Pietroluongo (18 tháng 2 năm 2009). “Flo Rida Topples Single-Week Download Mark”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2009. 
  28. ^ Pietroluongo, Silvio (14 tháng 5 năm 2008). “Rihanna's 'Bow' Soars 52 Spots To Lead Hot 100”. Billboard magazine. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2008. 
  29. ^ Pietroluongo, Silvio (10 tháng 3 năm 2010). “Taio Cruz Cruises To Record No. 1 Jump on Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2010. 
  30. ^ “Taylor Swift's 'Bad Blood' Blasts to No. 1 on Hot 100”. 
  31. ^ “Hot 100: Week of February 7, 2009 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  32. ^ “Hot 100: Week of October 25, 2008 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  33. ^ “Hot 100: Week of April 7, 2007 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  34. ^ “Hot 100: Week of October 14, 2006 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  35. ^ Trust, Gary (26 tháng 10 năm 2011). “Adele's 'Someone Like You' Holds No. 1 on Hot 100 for Fifth Week; Rihanna, Drake on the Rise”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  36. ^ “Hot 100: Week of October 10, 2009 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  37. ^ “Hot 100: Week of March 14, 2009 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  38. ^ Trust, Gary (21 tháng 8 năm 2013). “Robin Thicke No. 1, Katy Perry No. 2 On Hot 100”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  39. ^ “Hot 100: Week of February 11, 2006 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  40. ^ “Hot 100: Week of September 22, 2007 (Biggest Jump)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  41. ^ Trust, Gary (27 tháng 2 năm 2017). “Ed Sheeran's 'Shape of You' Leads Hot 100 for Fifth Week”. Billboard. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017. 
  42. ^ Trust, Gary (13 tháng 3 năm 2017). “Ed Sheeran Stays Atop Hot 100, Clean Bandit Bounds to Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2017. 
  43. ^ Trust, Gary (4 tháng 8 năm 2009). “Backwards Bullets: This Week In Charts 1996”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2009. 
  44. ^ Trust, Gary (7 tháng 5 năm 2014). “John Legend's 'All Of Me' Tops Hot 100, Ariana Grande Debuts At No. 3”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2014. 
  45. ^ Whitburn, Joel (1998). Billboard Top 10 Charts 1958-1997. Menomonee Falls, WI, USA: Record Research. tr. 762. ISBN 0-89820-127-6. 
  46. ^ “Hot 100: Week of July 23, 2011 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  47. ^ “Hot 100: Week of January 2, 2016 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2015. 
  48. ^ “Hot 100: Week of July 26, 2014 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  49. ^ “Hot 100: Week of June 23, 2012 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  50. ^ “Hot 100: Week of March 5, 2011 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  51. ^ “Hot 100: Week of March 27, 2010 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  52. ^ “Hot 100: Week of October 16, 2010 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2010. 
  53. ^ “Hot 100: Week of August 9, 2008 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  54. ^ “Hot 100: Week of February 20, 2010 (Biggest Fall)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  55. ^ Hot 100. Billboard. 5 tháng 6 năm 1982. tr. 68. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. 
  56. ^ Trust, Gary (7 tháng 5 năm 2010). “Ask Billboard: Records About Records”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2010. 
  57. ^ a ă Trust, Gary (30 tháng 3 năm 2014). “Ask Billboard: Lady Gaga's Biggest Hot 100 Hits”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  58. ^ “US Singles Top 100 (August 30, 2008)”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2014. 
  59. ^ “US Singles Top 100 (November 13, 2010)”. 4 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2010. 
  60. ^ a ă “US Singles Top 100 (December 14, 2013)”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2014. 
  61. ^ “US Singles Top 100 (January 16, 2016)”. 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  62. ^ “US Singles Top 100 (November 29, 2008)”. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2016. 
  63. ^ “US Singles Top 100 (June 11, 2011)”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2014. 
  64. ^ Trust, Gary. “Chart Beat Chat”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  65. ^ “Originals and Covers Both that hit Number One”. Billboard. Retro Hits. 2000. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  66. ^ “Cover Me: Same Songs to Hit No. 1 By Two Different Artists”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2012. 
  67. ^ Bronson, Fred (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary: The All-time Top 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  68. ^ Hound Dog (bài hát)#Phiên bản của Elvis Presley (1956)
  69. ^ Don't Be Cruel
  70. ^ Bronson, Fred (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary: The All-time Top 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  71. ^ Bronson, Fred (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary: The All-time Top 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  72. ^ Trust, Gary (17 tháng 6 năm 2010). “Say Say Say ranks as Michael Jackson's Biggest Billboard Hit”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  73. ^ Lipshutz, Jason (28 tháng 4 năm 2014). “Top 40 Girl Group Songs Of All Time”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  74. ^ Caulfield, Keith (16 tháng 8 năm 2013). “Madonna's 40 Biggest Billboard Hits”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013. 
  75. ^ Bronson, Fred (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary: The All-time Top 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  76. ^ Bronson, Fred (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary: The All-time Top 100 Songs”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  77. ^ Megill, Carl (28 tháng 2 năm 2011). “Top 20 Janet Jackson Hits”. Yahoo Contributor Network. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2013. 
  78. ^ a ă â Staff, Billboard (2 tháng 8 năm 2013). “Hot 100 55th Anniversary By The Numbers: Top 100 Artists, Most No. 1s, Biggest No. 2s, & More”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013. 
  79. ^ a ă “Elvis's Top 40 Hits”. washingtonpost.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2015. 
  80. ^ Trust, Gary (22 tháng 2 năm 2016). “Rihanna & Drake Rise to No. 1 on Hot 100 With 'Work'. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016. 
  81. ^ Trust, Gary (18 tháng 4 năm 2016). “Rihanna Rules Hot 100, Desiigner's 'Panda' Pushes to No. 2 & Justin Bieber Makes History”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2016. 
  82. ^ Bronson, Fred (10 tháng 4 năm 2008). “Chart Beat”. Billboard magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2008. 
  83. ^ a ă Bronson, Fred (19 tháng 8 năm 2011). “How Katy Perry's Hot 100 Record Stacks-Up Against The Beatles, Elvis, Michael, Mariah & Whitney Summit”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  84. ^ [1] Lưu trữ February 7, 2012, tại Wayback Machine.
  85. ^ “The Bee Gees Biography | The Rock and Roll Hall of Fame and Museum”. Rockhall.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2015. 
  86. ^ “The Supremes Biography | The Rock and Roll Hall of Fame and Museum”. Rockhall.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2015. 
  87. ^ Trust, Gary (17 tháng 8 năm 2011). “Katy Perry Ties Michael Jackson's Historic Hot 100 Record Summit”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  88. ^ a ă “Mariah Carey Biography - Made Chart-Topping Entrance, Mixed Musical Styles, Life Took a Turn, Selected works - Album, Single, Columbia, and Artist - JRank Articles”. Biography.jrank.org. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2015. 
  89. ^ Whitburn, Joel (2007). “Top Pop Singles 1955–2006”. Record Research. tr. 669–674. ISBN 978-0-89820-172-7. 
  90. ^ “Drake's 'One Dance' No. 1 on Hot 100 for Eighth Week”. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2016. 
  91. ^ Lamb, Bill. “Top 100 Pop Songs 2000”. About.com. About Entertainment. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2015. 
  92. ^ Kurp, Josh (6 tháng 10 năm 2014). “The 7 Billboard Hot 100 Milestones That Will (Probably) Never Be Broken”. UPROXX Music. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2015. 
  93. ^ Trust, Gary (1 tháng 9 năm 2014). “This Week In Billboard Chart History: Aerosmith Ascends To No. 1”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2015. 
  94. ^ “Number One Trivia: Artist With The Most #1's In The Same Calendar Year”. Billboard. Retro Hits. 2000. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  95. ^ Pietroluongo, Silvio (25 tháng 11 năm 2010). “Rihanna's 'Only Girl' Rebounds to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  96. ^ “George Michael Album & Song Chart History”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  97. ^ Trust, Gary (11 tháng 2 năm 2015). “Rihanna, Kanye West, Paul McCartney & Ellie Goulding Hit Hot 100's Top 10; Mark Ronson, Bruno Mars Still No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  98. ^ a ă Trust, Gary (1 tháng 2 năm 2016). “Justin Bieber Replaces Himself at No. 1 on Hot 100 With 'Love Yourself'. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2016. 
  99. ^ “The Chainsmokers Hold Atop Hot 100, Shawn Mendes Hits Top 10”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 29 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016. 
  100. ^ “The Chainsmokers & Halsey Lead Hot 100 & Rihanna Returns to Top 10, Fueled by VMAs Gains”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. 6 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2016. 
  101. ^ “Drake & Rihanna's 'Too Good' Hits New Heights on Hot 100”. 
  102. ^ Trust, Gary (17 tháng 10 năm 2013). 'Glee' Cast, Taylor Swift Add Hot 100 Milestones”. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  103. ^ Anderson, Trevor (5 tháng 8 năm 2016). “Hot 100 Chart Moves: Shawn Mendes' 'Treat' Climbs, Kanye West Earns His 40th Top 40 Hit”. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2016. 
  104. ^ Trust, Gary (27 tháng 12 năm 2016). “Drake Ties Lil Wayne for Most Hot 100 Hits Among Soloists”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2016. 
  105. ^ Trust, Gary (21 tháng 9 năm 2015). “The Weeknd Replaces Himself Atop Hot 100 as 'The Hills' Hits No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015. 
  106. ^ Trust, Gary (19 tháng 11 năm 2014). “Taylor Swift Makes Hot 100 History With 'Blank Space'. Billboard.com. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 
  107. ^ Radish, Robert of the (17 tháng 2 năm 2011). “Billboard Hot 100 Posthumous Number One Singles”. Y! Music. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013. 
  108. ^ Bronson, Fred (11 tháng 1 năm 2012). “Blue Ivy Carter, Jay-Z and Beyonce's Daughter, Becomes Youngest Person Ever to Appear on a Billboard Chart”. Billboard.biz. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2014. 
  109. ^ Whitburn, Joel (2009). Top Pop Singles 12th Edition. Record Research. tr. 515. ISBN 0-89820-180-2. 
  110. ^ Trust, Gary (21 tháng 9 năm 2011). “Tony Bennett Oldest Living Artist Ever On Hot 100”. Chart Beat. Billboard.com. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  111. ^ Trust, Gary (31 tháng 5 năm 2015). “Ask Billboard: Is Taylor Swift's '1989' the Next 'Teenage Dream'?”. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015. 
  112. ^ a ă “Katy Perry - Chart history - Billboard”. 
  113. ^ Anderson, Trevor (28 tháng 10 năm 2015). “Taylor Swift's '1989' and Other Albums With Five Top 10 Hits (or More)”. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2015. 
  114. ^ Partridge, Kenneth (18 tháng 9 năm 2014). “Janet Jackson's 'Rhythm Nation 1814' Revisited By Jimmy Jam & Terry Lewis: Track-by-Track Review”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2015. 
  115. ^ “Taylor Swift's 1989 and Other Albums With Five Top 10 Hits or More - Billboard”. 
  116. ^ Bản mẫu:Chú thích webb

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]