Võ Tắc Thiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Võ hoàng hậu)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Võ Tắc Thiên
武則天
Hoàng đế Trung Hoa
A Tang Dynasty Empress Wu Zetian.JPG
Hoàng đế Võ Chu
Tại vị 19 tháng 10 năm 690[1]
- 22 tháng 2 năm 705[2]
(&0000000000000014.00000014 năm, &0000000000000126.000000126 ngày)
Tiền vị Sáng lập triều đại
Kế vị Triều đại kết thúc
Hoàng hậu nhà Đường
Tại vị 655683
Tiền nhiệm Vương hoàng hậu (Đường Cao Tông)
Kế nhiệm Vi Hoàng hậu (Đường Trung Tông)
Hoàng thái hậu nhà Đường
Tại vị 683 - 690
Tiền nhiệm Hoàng thái hậu đầu tiên
Kế nhiệm Vi Thái hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Đường Thái Tông
Đường Cao Tông
Hậu duệ
Tên đầy đủ Võ Chiếu [3] (武曌)
Tước hiệu Thánh Thần Hoàng đế
(聖神皇帝)
Thụy hiệu Tắc Thiên Thuận Thánh Hoàng hậu[4]
(則天順聖皇后)
Thân phụ Võ Sĩ Hoạch
Thân mẫu Dương Phu nhân
Sinh (624-02-17)17 tháng 2, 624[5]
Văn Thủy, Tinh Châu, Đại Đường
Mất 16 tháng 12, 705(705-12-16) (81 tuổi)
Thượng Dương cung, Trường An, Đại Đường
An táng Càn lăng
huyện Càn, Thiểm Tây
Tôn giáo Phật giáo

Võ Tắc Thiên (chữ Hán: 武則天, 17 tháng 2, 624 - 16 tháng 2, 705[1]), cũng được đọc là Vũ Tắc Thiên[ten-nhan-vat 1], thường gọi Võ hậu (武后) hoặc Thiên Hậu (天后), là một Hậu cung phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, sau trở thành Hoàng hậu của Đường Cao Tông Lý Trị. Cùng với tôn hiệu Thiên hậu của bà và tôn hiệu Thiên Hoàng (天皇) của Cao Tông, 2 người đã đồng trị vì nhà Đường trong một thời gian và cùng được gọi là Nhị Thánh (二聖).

Sau khi Đường Cao Tông qua đời, Thiên Hậu trải qua các đời Đường Trung Tông Lý Hiển và Đường Duệ Tông Lý Đán với tư cách Hoàng thái hậu, và cuối cùng trở thành Hoàng đế duy nhất của triều đại Võ Chu (690 - 705), trở thành Nữ hoàng duy nhất[5] trong lịch sử Trung Quốc.

Trong 15 năm cai trị với tôn hiệu Thánh Thần hoàng đế (聖神皇帝), Võ Tắc Thiên mở mang lãnh thổ Trung Quốc, vươn sang Trung Á, hoàn thành cuộc chinh phục bán đảo Triều Tiên. Nội địa khuyến khích phát triển Phật giáo, tập trung phát triển kinh thế - xã hội, duy trì sự ổn định trong nước. Tuy nhiên, do tư tưởng nam tôn nữ ti đã ăn sâu trong lòng xã hội phong kiến, lại thêm tính cách độc ác, hà khắc trong việc cai trị khiến đông đảo cựu thần nhà Đường không phục. Cuối đời, bà sủng ái hai nam sủng họ Trương, dâm loạn trong cung, khiến nhiều quần thần bất bình.

Năm 705, ngày 22 tháng 2, tể tướng Trương Giản Chi cùng các đại thần phát động binh biến, ép Võ hậu thoái ngôii và đưa Đường Trung Tông lên ngôi lần thứ hai. Bà bị giam lỏng ở biệt cung cho đến khi qua đời không lâu sau đó ở tuổi 82. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ, thường so sánh bà với Lã hậu nhà Hán, Từ Hy thái hậu nhà Thanh trong việc chuyên quyền và tàn độc. Tuy nhiên, các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.

Thân thế và tên thật[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dung mô phỏng Võ Tắc Thiên những năm 1690, tức gần 1000 năm sau cái chết của bà.

Võ Tắc Thiên tên thật không ghi lại, sở dĩ cái tên Võ Chiếu (武曌) là sau khi lên ngôi, bà tự ví mình như mặt trời, mặt trăng trên không trung[6][7][8]. Năm sinh của bà, căn cứ theo các cuốn Cựu Đường thư, Tân Đường thư lẫn Tư trị thông giám đều có mâu thuẫn. Trong Cựu Đường thư, Võ thị được ghi qua đời khi năm 83 tuổi[9], suy ra bà ra đời ở năm Vũ Đức thứ 7 (624), tuy nhiên Tân Đường thư lại ghi nhận Võ thị qua đời khi năm 81 tuổi[10], còn Tư trị thông giám là khi năm 82 tuổi[11], đảo suy ra là năm Vũ Đức thứ 8 (625) sinh ra. Tuy nhiên, bản thân Tư trị thông giám vào năm Trinh Quán thứ 11 (637), Võ thị 14 tuổi nhập cung là hoàn toàn mâu thuẫn[12]. Một số đưa ra rằng Võ thị sinh ra năm Trinh Quán thứ 2 (628)[13][14], đến cuối cùng nhiều nhận định vẫn lấy năm Vũ Đức thứ 7 (624) làm năm sinh của bà.

Bà xuất thân từ gia tộc họ Võ có nguồn gốc từ vùng Văn Thủy, Tinh Châu (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây, Trung Quốc). Cha bà là Võ Sĩ Hoạch, xuất thân trong một gia đình quý tộc danh tiếng ở Sơn Tây, ông nội Võ Hoa, từng nhậm Quận thừa Lạc Dương giàu có. Mẹ bà là Kế thất phu nhân Dương thị, xuất thân từ gia đình quý tộc hoàng gia nhà Tuỳ, là con gái của tông thất Dương Đạt (楊達), là em trai của Kiến Đức vương Dương Hùng (杨雄), con trai của Dương Thiệu (杨绍), tộc huynh của Tùy Văn Đế Dương Kiên của nhà Tùy. Trong nhà bà có 2 anh trai là Võ Nguyên KhánhVõ Nguyên Sảng là con của chính thất Lý thị đã qua đời; 1 người chị cùng mẹ là Võ Thuận và 1 em gái là phu nhân của Quách Hiếu Thuận (郭孝慎).

Ban đầu, Võ Sĩ Hoạch làm nghề buôn bán gỗ, cuộc sống gia đình tương đối khá giả, được triều Tùy ban chức "Ưng Dương phủ đội chính". Những năm Đại Nghiệp thời Tùy Dượng Đế, Đường Cao Tổ Lý Uyên khi ấy giữ tước Đường quốc công, từng nhiều lần đến vùng Phần, Tấn và thăm nhà họ Võ, hai bên có quan hệ thân thiết với nhau. Khi nhà Đường thành lập, nhà họ Võ được Đường Cao Tổ hậu đãi, ban cho bổng lộc, đất đai và trang sức rất nhiều. Về sau, Võ Sĩ Hoạch được ban nhiều chức vị quan trọng, làm đến chức Đô đốc Kinh châu[15], Thượng thư bộ Công, tước Ứng quốc công (應國公).

Do được sinh trưởng trong một gia đình khá giả, từ nhỏ Võ thị không cần làm nhiều công việc, bản thân bà cũng không thích may vá, thêu thùa và làm việc nhà, thay vào đó bà rất quan tâm đến việc đọc sách. Cha bà Võ Sĩ Hoạch lại khuyến khích bà học chữ và đọc nhiều sách, trái ngược với tư tưởng thời bấy giờ là phụ nữ không cần phải học hành mà phải tập làm công việc nhà. Do đọc nhiều sách, bà có kiến thức uyên bác hơn nhiều phụ nữ đương thời, tinh thông về chính trị, văn học, nghi lễâm nhạc.

Năm Trinh Quán thứ 9 (635), Võ Sĩ Hoạch qua đời; đường huynh Võ Duy Lương, Võ Hoài Vận cùng anh cả Võ Nguyên Sảng đối với mẹ bà là Dương phu nhân rất vô lễ.

Phi tần của Đường Thái Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Trinh Quán thứ 11 (637), tháng 11, Võ thị được Đường Thái Tông triệu vào cung, phong làm Tài nhân, cấp bậc thứ năm trong chín bậc thuộc hậu cung[12][16][17]. Lúc đó, mẫu thân bà là Dương thị than khóc không thôi, bà cố gắng an ủi mẹ mình: "Cớ chi mẫu thân lại bảo gặp được Thiên tử không phải là phúc phận của con"[18].

Qua lời an ủi đó, Dương thị đoán ra được chí lớn của con mình, nên thôi không khóc nữa. Sau khi tiến cung, bà được Đường Thái Tông ban cho chữ Mỵ (媚) làm tên[16], vì thế người ta cũng thường gọi bà là Võ Mỵ Nương (武媚娘)[19].

Võ Tài nhân vào cung, bà cùng Yến Đức phi, Dương Tiệp dư cùng Sào Vương phi Dương thị của Thái Tông đều có họ hàng bên ngoại. Võ thị tuy có vài lần được ngự hạnh nhưng nói chung là không được Đường Thái Tông sủng ái[20]. Sử sách ghi chép rất ít về những hành trạng của bà trong thời gian này. Sách Tư trị thông giám dẫn lời của bà khi trách cứ tể tướng, kể về một sự tích thuần phục ngựa như sau:

"Thái Tông hoàng đế có một con ngựa do Tây Vực tiến cống, tên là Sử Tử Thông. Con ngựa đó rất cao to và dữ dằn, không chịu cho ai cưỡi trên lưng cả. Lúc đó trẫm chỉ là cung thiếp hầu hạ, đã bảo rằng: "Thần thiếp chỉ cần ba thứ để trị nó: Trước hết dùng roi sắt mà đánh nó bắt khuất phục; nếu không chịu thì dùng búa sắt đánh vào đầu nó; còn nếu dùng búa sắt đánh vẫn không được thì dùng dao đâm chết nó đi, vì thứ không trị được thì để làm gì?" Thái Tông hoàng đế vẫn khen ta vì việc đó. Nay ông tự thấy có đáng làm bẩn con dao găm của ta không"?[21].

Năm Trinh Quán thứ 17 (643), Đường Thái Tông phế truất Thái tử Lý Thừa Càn, lập Tấn vương Lý Trị làm Thái tử. Từ đây, Võ Tài nhân thường ở bên cạnh phụng dưỡng, hầu thuốc cho Thái Tông, liền bị Thái tử trông thấy mà say mê[22].

Xuất gia ở chùa Cảm Nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Trinh Quán thứ 23 (649), Đường Thái Tông qua đời. Thái tử Lý Trị lên nối ngôi, tức Đường Cao Tông[20].

Trong hơn 10 năm làm Tài nhân, Võ Mỵ Nương không hề sinh được một người con nào, vì thế theo di mệnh của Tiên hoàng đế, bà và tất cả các phi tần không con khác phải cạo tóc, xuất gia làm ni cô, vào tu ở Cảm Nghiệp tự (感業寺). Tuy nhiên, bà không chấp nhận việc này và vẫn hy vọng có ngày được trở về cung. Trước kia Cao Tông còn làm Hoàng thái tử đã thầm thương yêu bà, nhưng không thổ lộ ra ngoài.

Năm Vĩnh Huy nguyên niên (650), tháng 5, nhân ngày giỗ của Đường Thái Tông, Cao Tông đến Cảm Nghiệp tự và tình cờ gặp lại bà, hai người ôm nhau mà khóc. Võ Mỵ Nương lúc đó đã cạo đầu song nhan sắc vẫn diễm lệ, nói năng êm tai nên tình cũ trỗi dậy, nảy ý rước bà về cung.

Đường Cao Tông lên ngôi lúc tuổi trẻ, lại không có tài năng gì, chỉ vì hai người anh đều phạm lỗi mà mới đến lượt mình nối ngôi. Sức khỏe nhà vua lại không tốt, thường bị hoa mắt, chóng mặt, khó quản hết việc triều chính[23]. Khi ấy trong hậu cung, Vương hoàng hậuTiêu thục phi đấu đá lẫn nhau. Hoàng hậu không có con, nhận nuôi thái tử Lý Trung, còn Thục phi sinh ra Hoàng tử Lý Tố Tiết và hai công chúa (Tuyên Thành và Nghi Dương). Thấy Thục phi được sủng ái, Vương hoàng hậu ghen ghét, muốn mượn tay Võ Mỵ Nương giành lấy sự sủng ái của Thục phi[24], bèn bảo bà để tóc dài, sau đó xin Cao Tông cho rước về cung[25].

Năm Vĩnh Huy thứ 2 (651), tháng 5, Đường Cao Tông mãn tang, lệnh Võ thị hoàn tục, chính thức đưa Võ thị trở lại hậu cung. Vào lúc này, Võ thị đang mang thai đứa con đầu lòng.

Quay lại hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

Độc sủng[sửa | sửa mã nguồn]

Võ thị vốn gian manh xảo quyệt; từ khi vào cung ra sức lấy lòng Đường Cao Tông và Vương hoàng hậu[20]. Cao Tông cũng hết mực sủng ái bà, do thế mà Tiêu Thục phi thất sủng. Tức giận, Tiêu Thục phi nhiều lần nói xấu Võ thị trước mặt Cao Tông, nhưng ông không nghe mà còn xa lánh Tiêu phi hơn nữa.

Năm Vĩnh Huy thứ 3 (652), Võ thị sinh con trai Lý Hoằng, Hoàng tử thứ năm của Cao Tông. Nhiều sử sách nói bà mang thai và hạ sinh tại chùa Cảm Nghiệp, càng khiến Cao Tông muốn đưa bà hồi cung trao danh phận. Tháng 5 năm sau, bái làm Chiêu nghi. Tuy Võ Chiêu nghi sinh hạ con trai, được Hoàng đế rất mực yêu quý, song ngôi vị Hoàng thái tử trong cung vẫn đang thuộc về Lý Trung, con trai cung nhân Lưu thị, được Vương hoàng hậu nhận làm con nuôi.

Càng về sau, Võ Chiêu nghi thông minh tài giỏi lấy luôn được lòng tin của Cao Tông, Vương hoàng hậu biết bà còn đáng sợ hơn cả Tiêu thục phi, nên hối hận đã cho bà vào cung. Chiêu nghi cũng không còn tôn trọng Hoàng hậu nữa, lại nhiều lần mua chuộc người trong cung của Hoàng hậu và Thục phi để theo dõi động tĩnh. Hoàng hậu và Thục phi tố cáo với Cao Tông nhưng Cao Tông không tin lời họ.

Mưu hại Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Vĩnh Huy thứ 5 (654), tháng giêng, Võ Chiêu nghi hạ sinh người con thứ 3 là công chúa, tỏ ra uất ức. Tuy nhiên, Đường Cao Tông lại rất yêu thương công chúa này. Tương kế tựu kế, Chiêu nghi bèn nhân một hôm khi Hoàng hậu đi thăm công chúa vừa về, liền đóng hết cửa rèm lại (cho không khí không lọt vào), rồi bóp mũi giết chết công chúa; sau đó mua chuộc các cung nhân, bảo họ khai rằng việc này là do Vương hoàng hậu ra tay[20][23]. Võ Chiêu nghi lại giả vờ khóc lóc thảm thương cho Cao Tông động lòng, còn Vương hoàng hậu không còn cách nào để tự biện minh.

Từ đó, Đường Cao Tông nảy ý phế hậu, đưa Võ Chiêu nghi lên thay, nhưng cần phải có người đề xướng. Cao Tông bèn đến nhà cậu là Trưởng Tôn Vô Kỵ đề nghị ông ta đứng tên tâu xin phế hậu với lý do Vương hoàng hậu không có con. Mẹ của Chiêu nghi là Dương phu nhân cùng Lễ bộ Thượng thư Hứa Kính Tông (許敬宗) cũng ra sức thuyết phục nhưng Vô Kỵ cũng không chịu. Khi lên triều, khi Cao Tông nói việc của hoàng hậu, Vô Kỵ cố tình lờ đi và bàn sang chuyện khác[20]. Phụ thân của Chiêu nghi là Võ Sĩ Hoạch được truy tặng là Tư đồ, tước Chu quốc công (周國公).

Năm Vĩnh Huy thứ 6 (655), mùa hạ, Võ Chiêu nghi tố cáo mẫu thân của Vương hoàng hậu là Ngụy quốc phu nhân Liễu thị đã cùng Vương hoàng hậu dùng bùa phép hãm hại mình, từ đó Liễu thị không được vào cung nữa. Chú của hoàng hậu là Trung thư lệnh Liễu Thích (柳奭) bị giáng chức. Trong lúc đó, Trung thư Xá nhân Lý Nghĩa Phủ (李義府) vốn bị Trưởng Tôn Vô Kỵ ghét, vốn bị Vô Kỵ biếm chức, nhân đó dâng sớ xin phế hậu lên Cao Tông. Cao Tông vui mừng, triệu Phủ vào cung, cho phục chức. Phe cánh của Võ Chiêu nghi ngày càng lớn mạnh.

Mùa thu, năm 655, Cao Tông triệu Trưởng Tôn Vô Kỵ, Chử Toại Lương (褚遂良) và Lý Thế Tích (李世勣) vào hỏi ý kiến việc phế hậu, Lý Thế Tích cáo ốm không tới. Trong buổi nghị sự, Chử Toại Lương đều lên tiếng can ngăn Cao Tông, còn Trưởng Tôn Vô Kỵ im lặng để tỏ ra không hài lòng. Cao Tông đến hỏi Lý Thế Tích, Tích nói: "Đó là gia sự của bệ hạ, không cần hỏi đến ngoại thần".[26].

Sau đó, Cao Tông hạ chỉ giáng Chử Toại Lương làm Đô đốc Đàm Châu[27][28], Trưởng Tôn Vô Kị, Hàn Viện (韓瑗), Vu Chí Ninh (于志寧) và Lai Tế (來濟), những người phản đối việc Võ thị lập làm Hoàng hậu đều bị điều đi khỏi kinh sư.

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Mẹ con hiển quý[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 655, ngày 27 tháng 11, Đường Cao Tông ra chỉ phế truất Hoàng hậu Vương thị, Tiêu Thục phi làm thứ nhân, đày gia tộc đến Lĩnh Nam; lập Võ Chiêu nghi làm Hoàng hậu[29]. Tiêu phế phi và Vương phế hậu bị giam ở biệt viện, Cao Tông chưa dứt hẳn tình, nhiều lần đến thăm. Tiêu phế phi nhân đó khóc lóc xin Cao Tông thương tình. Võ hậu tức giận, sai chặt hết tay chân hai người, đem đi ngâm giấm. Sau này Võ hậu bị ám ảnh bởi cái chết của Tiêu phế phi, thường gặp ác mộng. Thời gian về sau bà cùng Cao Tông thường di giá đến Lạc Dương và ở đó rất lâu[26].

Năm 656, đại thần Hứa Kính Tông (許敬宗) lại dâng sớ xin thay luôn ngôi Hoàng thái tử. Do đó, Cao Tông ép Thái tử Lý Trung (李忠) viết biểu nhường ngôi, Thái tử bất đắc dĩ phải nghe theo. Tháng 2 năm 656, Cao Tông phong cho Đại vương Lý Hoằng, con trai trưởng của hoàng hậu làm Đông cung Thái tử, giáng Thái tử Lý Trung làm Lương vương (梁王), lĩnh Đô đốc Lương châu. Sang năm 660, Lương vương Lý Trung do sợ bị Võ thị hãm hại nên tìm các đạo sĩ giúp đỡ. Việc bị phát giác, Trung bị giam lỏng; đến năm 666 thì bị Võ hậu bức tử.

Mưu hại cựu thần[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 657, Hoàng hậu cùng phe đảng tìm cách trả thù những người không ủng hộ mình, ban đầu là Chử Toại Lương (褚遂良) và Hàn Viện (韓瑗). Năm 657, Toại Lương bị phe cánh của Võ hoàng hậu hãm hại, lại bị biếm đến Quế Châu rồi Ái Châu, An Nam, cuối cùng uất ức mà chết vào tháng 10 ÂL năm 658. Hàn Viện cũng bị phe cánh của Võ hậu tố cáo làm việc trái phép, bị biếm làm Thứ sử Ái Châu.

Năm 659, Võ hậu giật dây cho Hứa Kính Tông và Lý Nghĩa Phủ (李義府) hãm hại Trưởng Tôn Vô Kỵ. Lúc đó, có người tố cáo hai viên quan là Vi Quý Phương (韋季方) và Lý Sào (李巢) mưu làm việc trái phép, Cao Tông giao cho Hứa Kính Tông điều tra. Kính Tông dụ dỗ Quý Phương khai rằng Triệu Quốc công Trưởng Tôn Vô Kỵ có thông đồng với mình. Cao Tông bất ngờ về việc này, lại sai Kính Tông đưa Vô Kị ra tra xét. Cuối cùng, Vô Kị bị bãi bỏ phong ấp và chức Thái úy, giáng làm Dương Châu đô đốc, đày đến Kiềm Châu[30]. Hứa Kính Tông nhân đó tố cáo Chử Toại Lương cùng Hàn Viện, Liễu Thích (柳奭); Viện và Thích bị bãi chức, còn Chử Toại Lương tuy đã chết cũng bị trừ quan tước. Cuối cùng, Trưởng Tôn Vô Kỵ cũng bị bức tử trong năm đó[31].

Lên triều nghe chính[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 660, Võ hậu cùng với Cao Tông đi tuần du vùng quê nhà là Bân châu[32]. Bà tổ chức yến tiệc thật lớn, mời hàng xóm và thân tộc đến dự[26]. Cuối năm này, Cao Tông phát chứng đau đầu, sức khỏe suy yếu nghiêm trọng, có lời đồn việc đó là do Võ hậu ngầm bỏ thuốc độc bộc phát chậm vào đồ ăn của ông. Nhân việc này, Võ hậu can dự vào triều chính, quyết định nhiều việc trong triều, bắt đầu lấn át Cao Tông. Sử sách ghi nhận bà tinh thông văn, sử, giải quyết công việc hiệu quả nhanh gọn; quyền lực của Cao Tông từ đây bị thu hẹp.

Việc Võ hậu can thiệp vào công việc triều chính quá nhiều khiến Cao Tông không hài lòng. Đạo sĩ Quách Hành Chân (郭行真) ra vào cấm trung, nhiều lần dùng tà thuật bị phát giác. Năm 664, Cao Tông biết việc này là do Võ hậu chủ mưu nên rất tức giận, triệu đại thần Thượng Quan Nghi (上官儀) vào cung. Nghi tâu rằng Hoàng hậu chuyên quyền, không giữ đạo làm vợ, cần phải phế đi. Cao Tông chấp thuận, lệnh cho Nghi tìm cơ hội mà ra tay.

Tả hữu đem việc này tố cáo với Võ hậu, bà bèn đến chỗ Cao Tông kêu khóc thảm thiết. Cao Tông không biết trả lời ra sao, bèn đổ hết mọi chuyện cho Thượng Quan Nghi. Tháng 12 năm đó, Võ hậu sai Hứa Kính Tông tố cáo Thượng Quan Nghi và Phế Thái tử Lương vương Lý Trung phản nghịch, bắt Nghi hạ ngục rồi ban rượu độc cho Lương vương Lý Trung. Sang đầu năm 665, Thượng Quan Nghi và con là Thượng Quan Đình Chi (上官庭芝) bị chém đầu. Tuy nhiên, sau này Võ hậu trọng dụng cháu của Nghi là Thượng Quan Uyển Nhi, vời vào cung cho làm chức nữ quan thân cận.

Tranh chấp gia tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia, Ứng quốc công Võ Sĩ Hoạch lấy vợ cả là Tương Lý thị, sinh hai con trai Nguyên Sảng, Nguyên Khánh; sau lại lấy Dương thị sinh ba con gái: người con đầu là Võ Thuận (武順) lấy Hạ Lan An Thạch (賀蘭安石), thứ hai là Võ hậu, người thứ ba lấy Quách Hiếu Thân (郭孝慎) và mất sớm. Sĩ Hoạch chết, Nguyên Sảng, Nguyên Khánh cùng con người anh Sĩ Hoạch là Võ Duy Lương (武惟良), Võ Hoài Vận (武懷運) tỏ ra bất kính với Dương thị nên bị bà ta ghét.

Khi đó, An Thạch và Hiếu Thận cũng đã chết, vợ An Thạch sinh ra Hạ Lan Mẫn Chi (賀蘭敏之) và một người con gái nữa là Hạ Lan Mẫn Nguyệt (賀蘭敏月). Võ hậu từ khi được lập, Dương thị trở thành Vinh Quốc phu nhân (榮國夫人); vợ An Thạch là Hàn Quốc phu nhân (韓國夫人), bọn Nguyên Sảng đều được phong chức vị cao. Vào năm 666, Vinh Quốc phu nhân bày tiệc rượu trong gia đình, bọn Duy Lương tỏ thái độ bất mãn, phu nhân rất giận[33]. Hoàng hậu biết chuyện, liền đày bọn Duy Lương làm Thứ sử các châu xa. Nguyên Khánh, Nguyên Sảng lo buồn mà chết.

Gia tộc hiển quý, Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận và con gái Hạ Lan Mẫn Nguyệt thường ra vào cung, nhân lúc Võ hậu bận việc triều chính lần lượt tư thông với Cao Tông, Võ hậu biết chuyện vô cùng ghen tức nhưng luôn tỏ vẻ rộng rãi. Thái tử Lý Hoằng thương yêu kính trọng người dì Võ Thuận, gọi bà bằng mẹ và xa lạ với chính mẹ đẻ mình là Võ hậu. Có sử nói khi Lý Hoằng được sinh trong Cảm Nghiệp Tự, Võ hậu khi đó vẫn đang tu hành nên không được phép nuôi con, liền gửi cho chị gái nuôi giúp. Lý Hoằng sớm đã xem Võ Thuận như mẹ, sau đó phu nhân còn dụng kế gần gũi với Cao Tông mà sinh ra Lý Hiền, điều này khiến Võ hậu càng căm phẫn. Năm 665, tháng 10, Hàn Quốc phu nhân đột ngột qua đời, có nghi vấn chính Võ hậu đã đầu độc chị gái vì muốn độc chiếm tình cảm của Cao Tông và 2 người con. Cao Tông phong cho con gái Võ Thuận là Mẫn Nguyệt làm Ngụy quốc phu nhân (魏國夫人), lại muốn nạp vào cung, Võ hậu nảy sinh ghen tuông, tỏ ra không bằng lòng. Khi bọn Duy Lương, Hoài Vận về kinh và dâng đồ ăn, Võ hậu bí mật bỏ độc vào đó và đem đến cho Mẫn Nguyệt, khiến nàng ta bị trúng độc mà chết. Sau đó, Võ hậu quy tội cho Duy Lương, Hoài Vận và giết hết đi[33]. Năm 670, Dương phu nhân qua đời, Võ hậu bắt tất cả đại thần phải đến đưa tang và khóc tang. Cuối năm này, trong nước hạn hán, Võ hậu dâng sớ nói việc đó là do mình, xin từ bỏ ngôi vị, Cao Tông không chấp nhận. Sau đó, Võ hậu xin biểu truy phong Võ Sĩ Hoạch làm Thái Nguyên vương (太原王), Dương thị là Thái Nguyên vương phi (太原王妃)[33].

Con trai Hàn Quốc phu nhân là Hạ Lan Mẫn Chi được kế tập tước Chu quốc công (周國公). Mẫn Chi biết em gái mình bị Võ hậu giết hại nên tìm kế trả thù, việc này không qua khỏi mắt Võ hậu. Năm 671, Võ hậu lấy cớ Mẫn Chi không chấp hành đúng nghi lễ lúc để tang Vinh Quốc phu nhân và thông gian với con gái họ Vương, người đã được Võ hậu chọn làm phi cho Thái tử Lý Hoằng, Hạ Lan Mẫn Chi bị ép phải tự tử.

Năm 674, con trai Võ Nguyên Sảng là Võ Thừa Tự (武承嗣) được triệu về kinh kế thừa tước Chu Quốc công[34].

Thiên Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Muốn chồng chết nhanh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 674, Cao Tông truy miếu hiệuthụy hiệu cho tổ tiên của mình, sau đó đổi xưng là Thiên Hoàng (天皇), lập Võ hoàng hậu làm Thiên Hậu (天后)[34]. Bấy giờ, mỗi khi Cao Tông Thiên Hoàng lên triều nghe chính, Võ Thiên hậu đều đứng sau rèm để cùng nghe việc, và hầu hết việc trong triều đều do Hậu quyết đoán, thiên hạ xưng là Nhị Thánh (二聖) [33][33].

Cũng trong thời gian đó, Thiên Hoàng bị bệnh đau đầu rất nặng do uống phải nhiều tiên đơn pha sẵn độc dược mà Thiên Hậu dâng lên. Do ông không thể quản lý triều chính, quyền hành trong triều lọt vào tay Thiên hậu. Các đại thần Hác Xử Tuấn (郝處俊) và Lý Nghĩa Diễm (李義琰) can ngăn, thế nhưng Thiên Hoàng không nghe.

Thiên Hoàng hoang dâm quá độ đến nỗi mắt cũng bị mờ, Thiên Hậu nhân một hôm bệnh tình trở nặng, mới cho gọi thái y là Tần Minh Hạc vào xem bệnh, Minh Hạc xin chích huyết. Thiên Hậu tức quá quát lên: "Dám nghĩ tới cả chuyện chích đầu Thiên tử, thật là đáng tội chết". Thiên Hoàng không nghe, vẫn chịu cho chích huyết, một lát sau thì mắt sáng lại. Thiên Hậu thất kinh, tự vả vào miệng mình rồi sai lấy vàng, lụa thưởng cho thái y. Sau vụ này, Thiên Hậu vẫn chưa vừa ý, còn giả vờ chiều chuộng, dẫn Thiên Hoàng hoang lạc ngày đêm không dứt, do đó bệnh càng trở nặng hơn.

Đề nghị cải cách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 674, Thiên Hậu dâng lên Thiên Hoàng 12 kế sách để trị quốc:

  1. Đẩy mạnh việc làm ruộng, chăn tằm, giảm bớt khó nhọc cho trăm họ.
  2. Bỏ thuế cho các trấn miền bắc.
  3. Phục hồi đạo đức chung sống hòa bình.
  4. Không được xa xỉ lãng phí.
  5. Bớt lấy lính.
  6. Cho phép trình bày ý kiến nguyện vọng riêng.
  7. Loại bỏ quan lại tham nhũng và những kẻ chỉ biết làm theo lệnh trên một cách nịnh bợ ngu dốt.
  8. Mọi con cháu họ Lý và trăm quan phải học tập "Đạo Đức kinh"(nhà Đường coi Lý Nhĩ (Lão Tử) là Tổ Xa).
  9. Để tang bố mẹ thời gian như nhau (cùng ba năm).
  10. Quan lại về hưu được giữ nguyên phẩm hàm.
  11. Tăng lương cho quan lại từ bát phẩm trở lên.
  12. Những quan lại lâu năm được xét thăng trật, bổng nếu có công trạng.

Cái chết của Lý Hoằng[sửa | sửa mã nguồn]

Người con trai của Thiên Hậu là Chu vương Lý Hiển kết hôn với Triệu thị, con gái Thường Lạc công chúa (常樂公主), cô của Thiên Hoàng, con gái út của Đường Cao Tổ Lý Uyên, so với Lý Hiển thì là biểu cô. Thiên Hoàng rất tán thành cuộc hôn nhân này, song Thiên Hậu không ưa Triệu thị. Năm 675, Triệu thị do đắc tội với Thiên Hậu, liền bị giam lỏng trong Nội thị tỉnh, chỉ được đưa rau, thịt sống cho tự nấu ăn. Ngày 7 tháng 5, Triệu thị chết đói, Thiên Hậu bèn đày cha Triệu thị là Triệu Côi (趙瑰) cùng Thường Lạc công chúa ra đến Hoạt Châu[35][36].

Thiên Hoàng sức khỏe ngày càng suy yếu, có ý nhường ngôi cho thái tử Lý Hoằng, nhưng Thiên Hậu không đồng tình. Về phần mình, Thái tử không hài lòng việc Thiên Hậu nắm quyền, muốn đoạt lại quyền lực. Lúc nhỏ, thái tử chơi thân với hai con gái của Tiêu thục phi là Tuyên Thành công chúaNghĩa Dương công chúa; nay thấy họ bị Thiên Hậu giam lỏng trong Dịch Đình, liền xin Thiên Hoàng thả ra và cho lấy chồng. Thiên Hậu do vậy sinh oán.

Năm 675, Thái tử cùng Thiên Hoàng và Thiên Hậu dự yến ở Hợp Bích cung thì đột ngột qua đời, chỉ mới 28 tuổi. Trong triều có lời đồn cái chết này là do Thiên Hậu hạ độc. Thiên Hoàng quá đau lòng vì cái chết của con trai, bèn truy tặng làm Hiếu Kính hoàng đế (孝敬皇帝). Sau đó, Thiên Hoàng ra chỉ Lập Hoàng lục tử là Ung vương Lý Hiền làm Thái tử[34]. Theo Tư trị thông giám, Ung vương Lý Hiền là con của Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận, tức chị ruột của Thiên Hậu. Khi Lý Hiền còn chưa biết đi thì Hàn Quốc phu nhân chết, nên Thiên Hậu nhận nuôi[34].

Cũng năm 675, do không hài lòng về Hoàng tam tử Kỉ vương Lý Thượng Kim (李上金), Thiên Hậu sai thủ hạ tố cáo Thượng Kim với Thiên Hoàng. Cuối cùng, Thượng Kim bị bãi chức, đày đến Lễ Châu. Sang năm sau, Thiên Hậu lại tố cáo Hoàng tứ tử là Tuân vương Lý Tố Tiết (李素節) bỏ không vào triều kiến là bất trung bất hiếu, Cao Tông cũng đày Tố Tiết đến Viên Châu, giáng tước Bà Dương quận vương (鄱陽郡王)[34].

Vu tội Lý Hiền[sửa | sửa mã nguồn]

Thái tử Lý Hiền tuy là người hiền minh, nhưng là do Hàn Quốc phu nhân sinh ra nên không được lòng Thiên Hậu. Khi Thái tử Hiền biết chuyện này, trong lòng cảm thấy bất an, thái độ tỏ ra ngoài nét mặt. Thiên Hậu nghe vậy càng ghét hơn. Đạo sĩ Minh Sùng Nghiễm (明崇儼) được Thiên Hoàng và Thiên Hậu coi trọng, thường gièm pha với bà: "Thái tử không thể thừa kế được, Anh vương (Lý Triết) có dung mạo giống Thái Tông"; Lại nói: "Tương vương (Lý Đán) về sau sẽ đại quý"[37].

Khi Lý Hiền đăng cơ Thái tử, Thiên Hậu cho soạn Thiếu Dương chánh phạm (少陽政範) và Hiếu tử truyện (孝子傳) ban cho Thái tử Hiền, lại nhiều lần quở trách ông ta vô cớ, nên Thái tử khi ấy trong lòng luôn rất bất an.

Năm 680, Minh Sùng Nghiễm bị cuồng bạo đánh giết, Thiên Hậu nghi ngờ là do Thái tử Hiền làm, nên càng ghét hơn. Không lâu sau, các phe cảnh Tiết Nguyên Siêu (薛元超), Bùi Viêm (裴炎), Cao Trí Chu (高智周) với sự giật dây của Thiên Hậu đã tố cáo Thái tử Hiền mưu đồ bất chính. Thiên Hoàng sai điều tra, lục soát được trong phủ Thái tử nhiều đồ binh khí. Khi biết được, Thiên Hoàng không nỡ trị tội thế nhưng Thiên Hậu nói: "Là con dân mà mưu nghịch, thiên địa bất dung; nay đại nghĩa diệt thân, có thể nào xá được ?". Thiên Hậu liền hạ lệnh phế Thái tử, đày ra Ba Thục, vào tháng 10 năm 681[38].

Sau đó, Thiên Hậu lập tức chọn lập Anh vương Lý Triết làm Thái tử thay thế, đổi tên thành Lý Hiển[39].

Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Phế truất Trung Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 12 năm 683, Thiên Hoàng lâm bệnh nặng ở Lạc Dương, bèn triệu Lý Hiển từ Trường An về Lạc Dương trao di chiếu và giao cho đại thần Bùi Viêm phụ chính. Cao Tông còn dặn Thái tử rằng sau này bất cứ việc lớn nhỏ đều phải hỏi qua ý của Thiên Hậu. Ngày 27, Cao Tông băng hà[40]. Hoàng thái tử Lý Hiển nối ngôi, tức là Đường Trung Tông. Thiên Hậu trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính[41]. Bà liền sai hoạn quan Khâu Thần Tích đến Ba Thục bức Thái tử cũ là Lý Hiền phải uống rượu độc tự tử. Lúc mới lên ngôi, Trung Tông phải chịu tang tiên hoàng, mọi việc trong triều đều do Võ thái hậu quyết đoán.

Tháng 1 năm 684, Trung Tông muốn tạo đối trọng với Võ thái hậu trong triều, nên phong nhạc phụ Vi Huyền Trinh làm Thị trung trông coi Môn hạ tỉnh, Bùi Viêm hết sức can ngăn nhưng Trung Tông không nghe. Bùi Viêm cố cãi lại không được, bèn mật cáo với Thái hậu. Ngày 26 tháng 2, Thái hậu được bọn Bùi Viêm, Lưu Y Chi, Trình Vụ Đĩnh, Trương Kiền Úc...đưa vào triều, tuyên chiếu phế truất Trung Tông làm Lư Lăng vương. Thái hậu đưa Dự Vương Đán lên ngôi, tức là Đường Duệ Tông. Lại đổi tên phế đế là Triết, đày ra Quân Châu rồi Phòng Châu, ở ngôi nhà mà Bộc vương Lý Thái từng ở sau khi bị Thái Tông giáng tước.

Sau khi lập Duệ Tông, bà Lâm triều xưng chế, tự mình chuyên chính. Bà lập tức hạ chiếu nói Vi Huyền Trinh mưu nghịch, tước tất cả chức vị, giáng làm thứ dân và tống vào ngục, sau cũng bị lưu đày.

Nhiếp chính không cần buông rèm[sửa | sửa mã nguồn]

Duệ Tông hoàng đế tuy ở ngôi vị, nhưng bị ép phải sống ở cung riêng, không được tham gia chính sự. Việc lớn nhỏ trong triều đều do Võ Thái hậu quyết đoán. Thái hậu ngự ở điện Võ Thành, Duệ Tông suất vương công đến dâng tôn hiệu. Mấy hôm sau, sai Võ Thừa Tự công bố chế sách lập Hoàng đế mới. Từ lúc này, Thái hậu lên triều nghe chính không cần phải buông rèm, cứ ra thẳng ghế rồng mà nghe quần thần tấu sự[40]. Lấy Thái thường khanh, Kiểm giáo Dự vương phủ Vương Đức Chân làm Thị trung, Trung thư Thị lang Lưu Y Chi và Lễ bộ Thượng thư Võ Thừa Tự làm Đồng trung thư Môn hạ Bình chương sự. Lúc này Đông cung Hoàng thái tử bị truất phế trước đây Lý Hiền bị ép phải uống rượu độc mà chết, Thái hậu liền đổ hết trách nhiệm cho Khâu Thần Tích, biếm làm thứ sử Điệp châu (nhưng không lâu sau thì phục chức), rồi truy tặng Lý Hiền là Ung vương.

Tháng 9 cùng năm, Thái hậu cải nguyên là Văn Minh, đổi Đông Đô Lạc Dương thành Thần Đô, cải Thượng thư tỉnh là Văn Xương thai, Tả hữu bộc xạ là Tả hữu tướng; Lục tào thành Lục quan; Trung thư tỉnh đổi là Phụng các; Thị trung là Nạp ngôn; Trung thư lệnh là Nội sử lệnh; Ngự sử đài thành Tả túc chánh đài. Võ Thừa Tự là dâng biểu xin truy phong cho tổ tiên họ Võ, Thái hậu bằng lòng. Bùi Viêm lại dẫn câu chuyện Lữ hậu thời nhà Hán khi trước ra can ngăn, Hoàng thái hậu không nghe. Bèn truy phong tổ sáu đời là Khắc Kỷ làm Lỗ Tĩnh công; tổ năm đời là Cư Thường làm Thái úy, Bắc Bình Cung Túc vương; tằng tổ Kiệm là Thái úy, Kim Thành Nghĩa Khang vương; tổ phụ Hoa là Thái uý, Thái Nguyên An Thành vương; Võ Sĩ Hoạch làm thái sư, Ngụy Định vương[40].

Năm 686, Võ thái hậu hạ chiếu giao lại chính quyền do Duệ Tông, nhưng Duệ Tông biết mẫu hậu không thực tâm, nên không dám chấp nhận. Thái hậu tiếp tục lâm triều xưng chế.

Cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp và hoàng tộc họ Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Phật được đúc dưới thời Võ Chu.

Cuối năm 684, Mi châu thứ sử, Anh quốc công Lý Kính Nghiệp, cháu của Anh công Lý Tích, cùng em là Lý Kính Du, và Đường Chi Kỳ, Lạc Tân Vương, Đỗ Cầu... hợp nhau nổi dậy ở Dương châu[42], lấy danh nghĩa khôi phục Trung Tông. Bọn họ loan tin trưởng sử Trần Kính Chi mưu phản để Kính Chi bị bắt vào ngục, mấy hôm sau thì Kính Nghiệp tiến hành nổi dậy, xưng niên hiệu cũ là Tự Thánh, xưng Khương phục phủ Thượng tướng, Dương Châu đại đô đốc; sai Lạc Tân Vương viết hịch kể tội Thái hậu gửi đi khắp nơi. Kính Nghiệp lại trá xưng là Thái tử Lý Hiền vẫn còn sống và đang ở chỗ mình. Thái hậu sai Lý Hiếu Dật làm Tương Châu đại tổng quản, dẫn 300.000 quân cùng Lý Tri Sĩ, Mã Kính Thần làm phó, thảo phạt Kính Nghiệp. Khi bà hỏi Bùi Viêm về kế sách đối với quân phản loạn, Viêm nói rằng vua đã lớn tuổi, chỉ cần Thái hậu giao trả quyền chính thì tất vô sự. Thái hậu tức giận, giam Viêm vào ngục, đưa Kiến Vị Đạo, Lý Cảnh Kham lên thay; sau đó khép Bùi Viêm vào tội chết; lại lưu đày những người nói hộ cho Viêm[40].

Lý Kính Nghiệp đưa quân đánh sang Nhuận châu. Thái hậu tước chức quan của ông ta, bắt trở về họ Từ. Lúc này quân của Lý Hiếu Dật không thu được thành quả nào, Hiếu Dật tỏ ra nao núng. Nhưng có tướng dưới quyền Ngụy Nguyên Trung khích lệ, Hiếu Dật mới quyết tâm hơn, cho quân đánh mạnh vào lực lượng của Từ Kính Nghiệp. Kính Nghiệp sau đó đại bại, phải bỏ trốn. Tướng Vương Na Tướng làm phản giết anh em Kính Nghiệp và Lạc Tân vương rồi ra hàng, cuộc nổi dậy bị dẹp tan.

Từ năm 685, Thái hậu bắt đầu dan díu với tên hòa thượng giả danh Tiết Hoài Nghĩa. Sau đó, Hoài Nghĩa dần được phong các chức vụ cao, cùng với Thái hậu làm nhơ bẩn hậu cung[40][43][44]. Hoài Nghĩa là người đất Hộ, nguyên danh là Phùng Tiểu Bảo, một lần được Thiên Kim công chúa tiến cử, Thái hậu rất ưa thích, bèn cho giả làm tăng với tên Hoài Nghĩa, cho theo họ với phò mã Tiết Thiệu. Hoài Nghĩa tự do ra vào cung cấm, thế lực rất lớn; đến cả Võ Thừa Tự, Võ Tam Tư cũng tìm cách lấy lòng. Hoài Nghĩa tụ tập nhiều bọn côn đồ giả làm tăng, hoành hành bá đạo khắp nơi không coi ai ra gì. Có Hữu đài Ngự sử Phùng Tư Úc lên tiếng chỉ trích, liền bị bọn này đánh chết[40].

Thái hậu có ý soán ngôi, nên tìm cách loại trừ một số tôn thất nhà Đường, như Hàn vương Lý Nguyên Gia, Hoắc vương Lý Nguyên Quỹ, Lỗ vương Lý Linh Quỳ, Việt vương Lý Trinh, Giang Đô vương Lý Tự, Phạm Dương vương Lý Ái, Đông Hoàn công Lý Dung, Lang Nha vương Lý Xung (con Việt vương)... Bọn Trinh cũng biết ý đó, tỏ ra bất an và muốn nổi dậy. Mùa thu năm 688, Thái hậu triệu kiến tông thất, chư vương bàn với nhau về những việc làm xấu xa của bà ta, rồi giả thư của Duệ Tông ở trong cung yêu cầu các thân vương về cứu giá. Tháng 8 ÂL, Lý Xung triệu tập quân các nơi cùng đánh vào Thần Đô Lạc Dương. Thái hậu sai Khâu Thần Tích dẫn quân thảo phạt. Lý Trinh khởi binh từ Dự Châu[45], còn Lý Xung từ Bác châu[46], tuy nhiên các lộ chư hầu khác vẫn chưa kịp khởi binh, do đó lực lượng của ông bị đè bẹp nhanh chóng. Cuối cùng Lý Xung bị tên giữ thành Bác châu giết chết, hơn 1000 quan lại cũng bị liên can và bị Khâu Thần Tích giết chết. Lý Trinh cũng bị đánh bại liên tục và phải tự tử trong thành. Thái hậu hạ chiếu đổi họ của cha con Việt vương thành họ Hủy. Thái hậu nhân đó bắt tội Hàn vương, Lỗ vương, công chúa Thường Lạc, Hoàng công Lý Soạn, bắt họ tự sát rồi đổi tất cả sang họ Hủy[43]. Phò mã Tiết Thiệu cùng hai anh là Tiết Nghĩ, Tiết Tự cũng bị liên can, Nghĩ và Tự và giết, Thiệu bị đánh 100 trượng rồi cũng chết trong ngục.

Khống chế đại thần[sửa | sửa mã nguồn]

Sau vụ của Từ Kính Nghiệp, Thái hậu sợ rằng các đại thần và tông thất oán mình chuyên quyền, nên tìm cách trừ khử bớt đi. Vào năm 686, Thái hậu sai chế ra một cái hộp bằng đồng đặt trước triều đường, để cho những người hiến kế hay hoặc dự báo được tinh tượng, hoặc muốn tố cáo gian ác, hoặc muốn tiến cử nhân tài... mà ngại không dám nói thì cho bỏ thư vào đó. Ý của Thái hậu là để cho người ta bỏ thư tố cáo bí mật của người khác, nhất là các đại thần đang bị Thái hậu nghi ngờ để bà có cớ xử tội họ. Thường thì những người bị tố cáo, Thái hậu xử tội mà không cần tra xét gì cả. Có người Hồ là Sách Nguyên Lễ đoán biết ý, nên dùng chuyện cáo mật mà được phong làm Du kích tướng quân. Nguyễn Lễ tính tình tàn nhẫn, thích dùng ngục hình, thường thì một người bị tố cáo thì lôi ra cái mà hắn gọi là "đồng đảng" hơn 10 người, dùng hình rất nặng khiến ai ai cũng bất an. Lại có bọn ngục lại là Chu Hưng, Lai Tuấn Thần cũng thừa cơ mượn gió bẻ măng; Hưng được phong Thu quan thượng thư còn Tuấn Thần làm tới Ngự sử trung thừa. Bọn này hè nhau mượn việc cáo mật mà vu oan, hãm hại người khác, làm triều chính mấy phen điên đảo; lại còn chế ra nhiều cực hình tàn khốc để hành hạ phạm nhân: định bách mạch, đột địa hống, tử trư sầu, cầu phá gia, phụng hoàng sái sí, lư câu bạt quyệt, ngọc nữ đăng thê. Mỗi lần có đại xá, Tuấn Thần lại ra giết hết người phạm tội nặng rồi mới ban lệnh xá, thế mà Thái hậu vẫn cho là trung thành và càng tín nhiệm[40].

Lưu Y Chi lúc này được phong làm tể tướng. Vào năm 687, ông ta dâng biểu đề nghị Thái hậu giao trả chính quyền. Thái hậu rất tức giận. Lúc đó lại có tin đồn là Y Chi tư thông với thiếp của Hứa Kính Tông. Thái hậu sai người bắt ông ta vào ngục. Duệ Tông nghe vậy muốn cứu tể tướng, Y Chi cho rằng hành động của Duệ Tông sẽ càng làm mình chết chóng. Quả nhiên ông ta liền bị Thái hậu xử tử[43]. Tháng 2 năm 689, tôn Ngụy Trung Hiếu vương thành Chu Trung Hiếu Thái hoàng, vợ là Thái hậu; Lỗ công là Thái Nguyên Tĩnh vương; Bắc Bình vương là Triệu Cung Túc vương, Kim Thành Nghĩa Khang vương là Ngụy Nghĩa Khang vương; Thái Nguyên vương là Chu An Thành vương.

Nữ hoàng Võ Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm vi lãnh thổ Trung Hoa dưới triều đại Võ Tắc Thiên

Xưng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 690, do kỵ húy tên của mình, Võ Thái hậu cho đổi gọi chiếu thành chế. Đổi viết chữ Chiếu thành (曌) với hình Mặt trời, Mặt Trăng trên không, để tỏ quyền uy tối thượng. Cùng với đó là 11 chữ khác gọi là Võ hậu tân tự. Mùa hạ năm đó, Võ Thừa Tự bàn với Chu Hưng tố cáo Trạch vương Lý Thượng Kim và Hứa vương Lý Tố Tiết có mưu phản, Thái hậu sai bắt trị tội, thắt cổ giết Tố Tiết; Thượng Kim cũng phải tự tử.

Lại nói từ khi Tiết Thiệu bị giết, công chúa Thái Bình đi khắp nơi tìm kiếm nam sủng. Thái hậu sợ mang tiếng, nên đem công chúa gả cho cháu họ của mình là Võ Du Kỵ. Không lâu sau, bà giết chết các đại thần gồm Bùi Cư ĐạoTrương Hành Liêm, giết hai con của Chương Hoài Thái tử Lý Hiền và Nam An vương Lý Dĩnh, tông thất nhà Đường bị diệt gần hết, số còn nhỏ tuổi cũng bị lưu đày đến Lĩnh Nam. Năm đó, sư Pháp Minh dâng bốn quyển Đại Vân kinh ca ngợi Thái hậu là Phật Di Lặc xuống trần, là chủ của thiên hạ. Thái hậu sai in rồi phát ra khắp nơi, đề cao Phật giáo trên Đạo giáo.

Tháng 9 năm 690, Thị ngự sử Phó Du Nghệ cùng hơn 900 đại thần dâng thư xin Võ Thái hậu xưng đế. Khi ấy, Đường Duệ Tông thấy vậy cũng đành phải xin bà cho đổi thành họ . Bà bèn đổi nhà Đường thành nhà Chu, đổi niên hiệu, xưng tôn hiệu Thánh Thần hoàng đế (聖神皇帝), giáng Duệ Tông làm Hoàng tự (皇嗣), đổi Thái tử là Hoàng tôn. Lập miếu tổ tiên họ Võ ở Thần Đô, tiến hành truy tặng:

Lập Võ Thừa Tự là Ngụy vương; Võ Tam Tư làm Lương vương[44], chú bác làm Vương, cô dì tôn là Trưởng công chúa.

Lý thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi Đế vị, Võ Tắc Thiên quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều. Từ Kính Nghiệp, một viên Tư mã cử binh đánh bà bị thua rồi chết. Một vài thân vương cũng đem quân chống bà, cũng bị giết. Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài tình và chuyên quyền hung bạo. Dưới thời cai trị, bà lập ra tuần tra mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt.

Tháng 10 năm 695, sau nhiều lần thêm chữ, tôn hiệu của bà được đổi thành Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (天册金輪聖神皇帝), làm lễ phong thiền ở Tung sơn.

Tranh chấp giữa họ Lý và họ Võ[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Chiếu do bà sáng chế ra

Không bao lâu sau khi chiếm ngôi, Võ hoàng cho xây chùa Đại VânTrường AnLạc Dương, đồng thời phong cho 9 nhà sư lên tước Công. Có thể nói, vào thời Võ Tắc Thiên lâm triều trị quốc, Phật giáo luôn chiếm địa vị độc tôn trong hệ thống tư tưởng ở Trung Quốc. Về tổ tiên của mình, bà cho đem bài vị tổ tiên trong vòng bảy đời vào thờ ở thái miếu, tuy nhiên bà vẫn tiếp tục cúng bái 3 vị vua Đường Cao Tổ, Đường Thái TôngĐường Cao Tông của nhà Đường[43].

Mặc dù Duệ Tông được lập làm Hoàng tự, nhưng thế lực của bọn vương gia Võ Thừa Tự, Võ Tam Tư cũng rất lớn mạnh. Đại thần Trương Gia Phúc, Vương Khánh Chi muốn lấy lòng Võ Tắc Thiên, nên dâng thư xin bà lập Võ Thừa Tự làm thái tử, vì người họ Võ thì nên truyền ngôi cho người họ Võ. Bà ban đầu có vẻ bằng lòng. Ngày tháng 7 năm 791, các tể tướng Sầm Trường Sai, Cách Phụ NguyênÂu Dương Thông lên tiếng phản đối một cách gay gắt, bà hạ lệnh xử tử ba người đó[43][47]. Tuy nhiên Võ Tắc Thiên vẫn chưa lập Võ Thừa Tự làm thái tử, chỉ cho Thừa Tự có thể tự do vào cung thỉnh an. Về sau do Vương Khánh Chi vào cung quá nhiều và tỏ ra vô lễ, bà bàn với tướng Lý Hiếu Dật trừng phạt hắn ta. Lý Du Đạo nhân cơ hội đó, cho đánh chết Vương Khánh Chi và khuyên bà giữ lại ngôi kế vị cho họ Lý, vì nếu họ Võ làm hoàng đế thì ba vị vua Đường sẽ không còn được thờ ở Thái miếu[43]. Võ hoàng đế bằng lòng, sau đó bà còn hạ lệnh tước quyền tể tướng của Võ Thừa Tự, chỉ trao cho các chức vụ trên danh nghĩa, không nắm thực quyền[44].

Lúc này thế lực của bọn Lai Tuấn Thần ngày càng lớn mạnh, ngoi lên chức Tả thái trung thừa. Mùa xuân năm 692, Tuấn Thần tố cáo ba vị Bình chương sự là Nhậm Tri Giả, Địch Nhân Kiệt, Bùi Hành Bổn cùng bọn đại thần Bùi Tuyên Lễ, Lư Hiến, Ngụy Nguyên Trung, Lý Tự Chân mưu phản. Bảy người này đều bị tống vào ngục. Địch Nhân Kiệt ở trong ngục bí mật viết sớ kêu oan, rồi tìm cơ hội gửi cho con ông ta là Địch Quang Viễn rồi gửi lên bà. Cuối cùng bảy vị đại thần thoát chết nhưng bị lưu đày. Về sau các tể tướng Lý Du Đạo, Chu Kính Tắc, Chu Củ ra sức kiềm chế bọn Tuấn Thần, nên chúng tuy vẫn lộng hành nhưng không còn được như trước nữa[44]. Cũng trong năm 692, Võ hoàng cử Vương Hiếu Kiệt cùng Lưu Thẩm Lễ đánh Thổ Phiên. Quân Đường thu hồi lại bốn trấn Quy Tư, Vu Điền, Sơ Lặc, Toái Diệp vốn bị rơi vào tay người Thổ từ năm 670.

Năm 693, người phụ nữ được Võ Tắc Thiên sủng ái là Vi Đoàn Nhi oán hận hoàng tự Lý Đán (đổi tên thành Lý Luân), thường gièm pha trước mặt Võ hoàng. Sau đó Vi thị vu cáo vợ Lý Luân là Lưu thị cùng người thiếp của ông, Đậu thị lập đàn bùa phép mưu hại Võ hoàng. Do đó Võ hoàng nhân lúc hai người vào thỉnh an, đã bí mật giết chết. Lý Luân rất lo sợ, mình sẽ bị liên lụy, do đó ông không dám khóc thương cho hai người, sinh hoạt vẫn tiến hành như bình thường. Tuy nhiên sau đó Đoàn Nhi lại tiếp tục tìm cớ hãm hại Lý Luân, nhưng Võ Tắc Thiên không tin hắn nữa, sai giết đi. Cũng trong lúc đó, mẹ của Đậu Đức phi là Bàng thị bị người đến tố cáo, Bàng thị bị khép tội chết, cho giảm một bậc. Có lời đồn các đại thần Bùi Phỉ Cung, Phạm Nhân Tiên bí mật gặp Lý Luân, bà cho xử tử cả hai. Lai Tuấn Thần còn tố cáo hoàng tự mưu phản, Võ Tắc Thiên tức giận, sai giam lỏng ông trong phủ, không cho đại thần gặp mặt, đồng thời phế các con ông từ thân vương làm quận vương. Những người bị nghi đồng mưu đều bị Lai Tuấn Thần tra tấn dã man. Bấy giờ có An Kim Tàng tự mổ bụng của mình để giải oan cho Lý Luân. Bà nghe tin cảm động, cho ngự y tới chữa trị Kim Tàng và xá miễn cho Lý Luân[44].

Sau khi loại Võ Thừa Tự, thế lực của Lý Du Đạo trở nên lớn mạnh, nên Võ Tắc Thiên có phần e ngại, bèn bãi chức ông ta. Mùa thu năm 694, Lai Tuấn Thần bị biếm làm tham quân Đồng Châu, Vương Hoằng Nghĩa bị đày ra Quỳnh Châu rồi bị giết.

Quan hệ đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 695, ở biên cương, nhà Đường đang có xung đột với Thổ PhiênĐột Quyết. Mùa xuân năm 696, quân Đường do Vương Hiếu KiệtLâu Sư Đức chỉ huy giao chiến với hai tướng Thổ Phiên Luận Khâm Lăng, Luận Tán Bà ở núi Tố La Hãn và đại bại; bà bèn giáng chức Sư Đức và đuổi Hiếu Kiệt về vườn[44]. Lúc này Minh Đường hoàn thành, cao 294 trượng, là công trình kiến trúc đồ sộ nhưng đã lấy đi bao nhiêu xương máu của những người dân vô tội. Tháng 4, bà cho làm lại chín cái đỉnh vốn tượng trưng cho quyền lực của thiên tử thời Hạ Thương Chu, để củng cố quyền lực của mình>[48].

Một mối đe dọa nghiêm trọng hơn nhiều nảy sinh trong mùa hè 696. Lý Tận TrungTôn Vạn Vinh vốn là người Khiết Đan, oán hận vì sự ngược đãi của nhà Đường đối với Khiết Đan, nên đã nổi loạn, công hãm Doanh châu[49], giết thứ sử Triệu Văn Hối. Lý Tận Trung tự xưng là Vô Thượng khả hãn. Võ hoàng cử quân đến đàn áp, đổi gọ Lý Tận Trung làm Lý Tận Diệt, Tôn Vạn Vinh là Tôn Vạn Trảm. Tuy nhiên lực lượng Đường bị Khiết Đan đánh bại vào mùa thu cùng năm. Trong khi đó, Khã hãn Đột Quyết là Mặc Xuyết trong lúc này lại đem quân đánh Lương châu, bắt đô đốc Hứa Khâm Minh. Mùa đông tháng 10 ÂL, Lý Tận Trung chết, Tôn Vạn Vinh lên thay. Mặc Xuyết lúc này thân thiện với nhà Đường được tin liền dẫn quân tấn công Khiết Đan, bắt được thê tử Tận Trung và Tôn Vinh. Võ hoàng bằng lòng, ban cho Mặc Xuyết làm Khả hãn và tặng nhiều vàng, lụa, sắt cùng công cụ cày cấy. Về sau Tôn Vạn Vinh phát triển thế lực, lại tiếp tục chống Đường. Trong một trận chiến, Vương Hiếu Kiệt bị giết, quân Đường lâm vào thế thất lợi. Mãi đến mùa hạ năm 697, Mặc Xuyết đem quân tấn công Khiết Đan, giết Tôn Vạn Vinh thì tình hình Khiết Đan mới tạm yên[21].

Sau đó, Mặc Xuyết đòi hòa thân với nhà Đường. Võ Tắc Thiên cho cháu mình là Võ Diên Tú thành hôn với công chúa Đột Quyết, Mặc Xuyết không chịu và bắt giam Võ Diên Tú, sau đó gây hấn với Đường, tiến đánh đến tận Triệu châu[50] rồi mới rút lui. Năm 699, vua Thổ Phiên giết chết Luận Khâm Lăng, con Khâm Lăng là Cung Nhân cùng Luận Tán Bà đầu hàng Đường. Kể từ lúc đó, Thổ Phiên lâm vào tình cảnh rối ren, xưng đột và trong một thời gian không còn gây hấn với nhà Đường nữa.

Trung Tông về kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đó Lai Tuấn ThầnLý Du Đạo lại được Võ Tắc Thiên bổ dụng. Năm 697, Tuấn Thần lập mưu tố cáo Du Đạo làm phản, nhân cơ hội đó sẽ tìm cách hãm hại hai hoàng tử và công chúa Thái Bình. Công chúa bèn liên kết với người họ Lý và họ Võ, tố cáo ngược lại Tuấn Thần. Cuối cùng bà giết cả Lai Tuấn ThầnLý Du Đạo. Từ đó thế lực của Lai Tuấn Thần từng tác quái nhiều năm trong triều, đã bị đánh đổ[21].

Hai người cháu dòng họ Võ của bà là Võ Thừa TựVõ Tam Tư muốn giành ngôi thái tử, kết bè kết cánh chống lại nhau và cùng âm mưu lật đổ hoàng tự Lý Đán. Bà luôn cảm thấy bất an vì việc này, không biết giải quyết ra sao. Đại thần Địch Nhân Kiệt dâng sớ nói rằng Cao Tông lúc chết đem hai con phó thác cho bà, nay dù Võ hoàng lên ngôi nếu như muốn đem thiên hạ giao cho người cùng họ là trái ý trời, mà không có tiền lệ gì mà cô nhường ngôi cho cháu. Nếu lập con thì sau này bà còn được vào thái miếu, nếu lập cháu thì về sau không biết địa vị của bà sẽ ở đâu. Bà nghe theo.

Sau đó Nhân Kiệt lại khuyên bà triệu Lư Lăng vương Lý Triết về kinh, được Vương Phương KhánhVương Cập Thiện ủng hộ theo. Võ Tắc Thiên cũng bắt đầu suy nghĩ việc này[51]. Lúc đó U châu tướng Tôn Vạn Vinh cũng muốn tôn lập Lý Triết, mới thuyết phục hai sủng nam của Võ Tắc Thiên là Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông cũng ủng hộ ông. Hai người nghe theo, nhiều lần to nhỏ với bà. Võ hoàng cuối cùng xiêu lòng.

Tháng 4 năm 697, bà ra lệnh rằng Lư Lăng vương Lý Triết trong người có bệnh, đặc cách cho về kinh, lại cho phép thê tử, con cái đi theo. Không lâu sau ông về tới Trường An[21]. Tháng 10 năm 697, Hoàng tự Lý Đán dâng sớ xin nhường ngôi kế vị cho Lý Triết. Bà bằng lòng, đổi hoàng tự là Tương vương và phong Lý Triết làm Hoàng thái tử, đổi tên là Hiển như cũ, nhưng phải đổi sang họ Võ[21]. Ít lâu sau, Võ Thừa Tự vì uất ức mà qua đời.

Anh em họ Trương lộng hành[sửa | sửa mã nguồn]

Kim giản của Võ Chiếu. Vào ngày 7 tháng 7 (âm lịch) năm 700, Võ Tắc Thiên đến Tung Sơn, sai thái giám Hồ Siêu lập kim giản để cầu tiêu trừ hết mọi tội lỗi

Sau khi Trung Tông được làm thái tử, Thái hậu do sợ rằng sau khi mình qua đời thì hai nhà Lý, Võ sẽ không dung nhau, nên hạ lệnh bắt Võ Hiển, Lý Đán, Công chúa Thái Bình (ba người con) và phò mã Võ Du Kỵ phải thề độc rằng không làm hại họ Võ[21].

Sau khi Thẩm thái y chết, công chúa Thái Bình tiến cử Trương Xương Tông có tài thổi sáo, rất đẹp trai lại có tài trong phòng the khiến Võ Tắc Thiên rất vui. Trương Xương Tông lại tiến cử anh mình là Trương Dịch Chi vào hầu hạ, không lâu sau hai người được phong lên tới tước công[21][52]. Không những thế, Trương còn liều lĩnh cặp ngay với một nha đầu thân cận của Võ Tắc Thiên. Vào một ngày bị Thái hậu bắt gặp, bà đã rút gươm và chém sượt qua đầu. Tuy nhiên sau đó chuyện này đã được giải quyết êm vì công chúa Thái Bình có ý kiến rằng: "Không nên làm to chuyện, làm trò cười cho thiên hạ"'.

Lúc này bà tuổi cao, anh em họ Trương dần tìm cách can dự vào triều chính. Điều này khiến các con của Trung Tông là Thiệu vương Lý Trọng Nhuận và công chúa Lý Tiên Huệ, phò mã Võ Diên Cơ (con trai Ngụy vương Võ Thừa Tự) bất bình. Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi nhân đó gièm pha khiến Võ hoàng ép ba người phải chết[52][53][54][55].

Năm 703, anh em họ Trương oán giận tể tướng Ngụy Nguyên Trung vì Nguyên Trung không coi trọng bọn Trương Xương NghiTrương Xương Kỳ (anh em họ của Dịch Chi). Hai người này cũng lo sợ sau khi bà chết đi thì Nguyên Trung sẽ tìm cách hại mình, nên đã cáo buộc Nguyên Trung cùng Cao Tiển, thân cận của công chúa Thái Bình; ngày đêm mong cho bà chóng chết. Anh em họ Trương còn thuyết phục Trương Thuyết ra làm chứng, nhưng Trương Thuyết nói hết âm mưu của hai tên đó trước mặt Võ hoàng. Nhưng rốt cục, Thái hậu vì mải mê nam sủng nên vẫn lưu đày Ngụy Nguyên Trung, Cao Tiển và Trương Thuyết.

Mùa thu năm 704, nhiều quan lại lên tiếng cáo buộc Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông và anh em họ là Trương Đồng Hưu, Trương Xương Kỳ nhận hối lộ, bà bèn giáng chức Đồng Hưu và Xương Kì nhưng lại giật dây cho tể tướng Dương Tái Tư không được động tới hai nam sủng của mình, nên anh em họ Trương được vô sự.

Thoái vị và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đông năm 704, Thái hậu lâm bệnh. Các đại thần đều không được gặp mặt, chỉ có anh em họ Trương được vào hầu mà thôi. Nhiều đại thần e ngại bọn họ Trương sẽ tìm cách chiếm ngôi vua, nên lũ lượt dâng sớ tố cáo chúng về tội phản quốc. Sau khi bệnh tình của bà có thuyên giảm, Tể tướng Thôi Huyền Vĩ đề nghị chỉ nên cho Thái tử Võ Hiển và Tương vương Lý Đán được vào hầu mà thôi, nhưng bà không theo. Về sau còn có Hoàn Ngạn PhạmTống Cảnh dâng sớ cáo buộc, bà cho Tống Cảnh điều tra việc đó, nhưng không được bao lâu lại hạ lệnh xá miễn cho bọn họ Trương.

Mùa xuân năm 705, bà lại lâm bệnh. Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông lọng hành trong cung, trông giữ mọi việc. Các Tể tướng Trương Giản Chi, Thôi Huyền Vĩ, Hoàn Ngạn Phạm, Viên Thứ Kỷ, Lý Đa Tộ, Lý Trạm, Kính Huy... muốn diệt trừ hai tên gian thần này, khôi phục lại nhà Đường.

Ngày 20 tháng 2, Trương Giản Chi, Hoàng Ngạn Phạm cùng Tiết Tư Hành dẫn quân tiến vào Huyền Võ Môn, sai Lý Đa Tộ và Đồng Hiệu Nghệ đến Đông cung nghênh đón Hoàng thái tử Võ Hiển. Võ Hiển đồng tình, theo bọn họ vào cung[52]. Bọn Giản Chi tiến vào trong cung, giết chết anh em Dịch Chi, Xương Tông rồi kéo nhau vào cung Thượng Dương nơi ở của Võ hoàng. Bà thất kinh, hỏi Giản Chi. Giản Chi nói có mật lệnh có Thái tử, giết bọn gian thần đi. Võ hoàng thấy Trung Tông thì biết trong cung có biến loạn, bảo: "Tiểu tử đã giết được rồi, mau về đông cung đi". Ngạn Phạm không đồng ý, bảo rằng thiên hạ chưa quên công đức của Lý thị, ép Võ hoàng nhường ngôi cho Trung Tông, còn bà xưng làm Thái thượng hoàng.

Ngày 23 tháng 2, Đường Trung Tông chính thức lên ngôi lần thứ hai, đổi tôn vị của bà thành Hoàng thái hậuThượng Dương cung, nhưng bị kiểm soát bởi các vệ sĩ[52]. Ngày 3 tháng 3, Nhà Đường chính thức được khôi phục, nhà Võ Chu chấm dứt[48]. Tổng cộng Võ Tắc Thiên chính thức tiếm ngôi 15 năm, nếu tính từ lúc lâm triều xưng chế là 21 năm, tính từ sự kiện Nhị thánh lâm triều năm 660 là được tổng cộng 45 năm.

Ngày 16 tháng 12 năm 705[56], Võ thái hậu băng hà. Theo di mệnh của bà, lễ tang tiến hành theo nghi thức Hoàng hậu, hợp táng với Đường Cao TôngCàn lăng. Các hoàng đế nhà Đường đời sau truy tôn thụy hiệu Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu (則天順聖皇後). Người đời sau sử dụng 2 chữ Tắc Thiên trong thụy hiệu ghép với họ của bà thành tên gọi Võ Tắc Thiên (武則天).

Lăng mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bia vô tự

Theo di nguyện trước lúc băng hà, di hài của bà được hợp táng vào Càn lăng cùng với Đường Cao Tông. Bà được chôn tại Càn lăng, cùng chỗ với Đường Cao Tông. Bia mộ của bà là một tấm bia để trống hoàn toàn (Vô tự bia), với ý nghĩa là để đời sau phán xét.

Càn lăng đã ít nhất 17 lần bị âm mưu đục phá, trong đó có 3 lần nghiêm trọng nhất. Lần đầu trong loạn Hoàng Sào, có tới 40 vạn binh sĩ đào bới tây đồi Lương Sơn, vạt hẳn một nửa quả đồi. Lần thứ 2 do Ôn Thao, tiết độ sứ tại Diệu Châu thời Ngũ Đại Thập Quốc, kẻ trước đó đã đào trộm 17 ngôi hoàng lăng nhà Đường. Lần thứ 3 do quân Quốc Dân đảng của Tôn Liên Trọng thời Trung Hoa Dân Quốc, đã dùng cả thuốc nổ để phá. Nhưng cả ba lần đều không thành, và Càn lăng vẫn nguyên vẹn cho tới ngày nay, trở thành di tích khảo cổ và tham quan quý báu. Về điểm này, Võ Tắc Thiên và chồng đã may mắn hơn những vị hoàng đế nổi tiếng khác, khi mà Mậu lăng của Hán Vũ đế, Chiêu lăng của Đường Thái Tông... đã bị phá sạch trong thời chiến loạn.

Đầu tháng 5/2008, khi các nhà khảo cổ Trung Quốc khai quật lăng mộ Võ Tắc Thiên tại Huyện Càn cách 80 km về phía Tây Bắc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, họ đã tìm được hơn 500 tấn văn vật trong mộ. Việc tìm ra mộ phần và các cổ vật trong mộ Võ Tắc Thiên đã giúp các nhà sử học xác định được nhiều thông tin xung quanh thân thế, sự nghiệp của vị nữ hoàng này. Các nhà khảo cổ phát hiện thấy Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên cùng hợp táng ở tầng ngầm sâu cuối cùng của lăng mộ. Khu lăng tẩm này có ba cửa Đông, Bắc, Tây. Ba cửa này có kết cấu giống nhau, đều có các đài tế lễ trước cửa cung điện, có hành lang đặt Võ khí gươm giáo và cửa cung điện. Tại cửa phía Bắc, các nhà khảo cổ phát hiện thấy rất nhiều ngựa đá, hổ đá, tảng đá trạm trổ điêu khắc, trong đó hổ đá đặc trưng của đời Đường vẫn còn nguyên vẹn. Khu lăng tẩm có quy mô rất lớn với những bức tường bao quanh được xây theo hình vuông rất vững chắc, mỗi cạnh có chiều dài tới 380 mét vuông.

Viện trưởng danh dự Viện nghiên cứu khảo cổ tỉnh Thiểm Tây, Thạch Hưng Bang cho biết, qua những văn vật khai quật được trong mộ cho thấy, thời kỳ Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên trị vì là thời kỳ hưng thịnh nhất của triều đại nhà Đường. Khi Đường Cao Tông chết, giá trị của vật tùy táng quý báu chôn theo vua chiếm tới 1/3 quốc khố. Hơn 20 năm sau, khi Võ Tắc Thiên qua đời, triều đình cũng chôn theo số báu vật trị giá tới 1/3 quốc khố trong mộ bà.[57]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Võ Tắc Thiên qua đời, các sử gia thời Thịnh Đường, Trung Đường và Đường mạt đều không chỉ trích nặng nề những việc làm của Võ Tắc Thiên, bởi vì những vị vua nhà Đường sau này đều là con cháu trực hệ của bà. Chỉ khi đến thời nhà Tống, các sử gia mới bắt đầu có những lời chỉ trích, một phần cũng do tư tưởng tôn Nho giáo đã ăn sâu vào trong lòng xã hội phong kiến, mà Nho giáo thì không bao giờ chấp nhận để một người phụ nữ "vượt quá giới hạn" mà bước lên đỉnh cao quyền lực. Có thể nói Võ Tắc Thiên là hiện tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử. Những vị đại hoàng hậu nổi tiếng từ cổ chí kim ở Trung Hoa, có thể kể đến Tần Tuyên Thái hậu, Hán Lã hoàng hậu, Tây Tấn Giả Nam Phong, Tiêu Xước triều Liêu, và kể cả Từ Hi thái hậu nhà Thanh đều chỉ có thể đứng sau bức rèm nghe bàn chính sự, không một ai dám làm việc xưng đế như bà.

Đương thời, các đại thần và tôn thất nhà Đường rất oán hận Võ hậu. Đây là hịch văn do văn sĩ đương thời là Lạc Tân Vương khi tham gia cuộc khởi nghĩa của Từ Kính Nghiệp đã viết ra để kể tội ác của bà

Ả họ Võ giả mệnh lâm triều, tánh tình không ôn thuận, xuất thân hàn tiện. Xưa thời Thái Tông làm cung nữ hầu hạ, lo việc dâng thay quần áo. Đến lúc trưởng thành, đã mang tiếng làm nhơ bẩn nội tẩm. Về sau, che giấu việc hầu Thái Tông, lại được vào hầu tiên đế, đẩy chúa thượng đến chỗ loạn luân. Rồi rắn độc mang lòng, sói beo thành tinh, lại sinh ra ghen tuông, nhân có chút nhan sắc, không chịu nhường ai, rồi dèm pha, nịnh hót, làm mê hoặc lòng chúa. Lên ngôi hoàng hậu đưa đường tiên đế vào thói hươu nai. Tính tình sài lang, gian ác, tàn hại trung lương, giết chị phản anh, giết vua hại mẹ. Con yêu của vua đem bắt giam ở cung sâu. Bè đảng của giặc, giao cho quyền bính lớn. Thần người đều ghét, trời đất không dung. Muốn đổi ngôi vua, giao cho họ mình quyền cao chức trọng. Hỡi ơi, Hoắc Tử Mạnh không dấy, Chu thị hầu không còn. Én mổ cháu vua, biết vận Hán sắp hết. Dãi rồng vương hậu, hay nhà Hạ mau tàn.

Nhưng hãy nhìn sang thái độ của bà khi đọc bài hịch văn trên Thái hậu cần hịch lên đọc, rồi nói với cận thần

Ai là người viết bài hịch này

Đáp:Kẻ đó là Lạc Tân Vương. Thái hậu hỏi

Người này trước kia đã từng làm chức Thị ngự sử, nhưng sau lại phải biếm

Lại nhìn các đại thần hồi lâu, rồi phán

Người có tài văn chương thế này, mà để họa phải lưu lạc không được dùng, đó là lỗi của Tể tướng trước kia vậy.

Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, theo một số nhà sử học, nhà Võ Chu đã có được một hệ thống bình đẳng giới tốt hơn so với nhà Đường giai đoạn tiếp sau nó.

Nhiều người đời sau xem Võ Tắc Thiên là điển hình của sự độc ác, khi mà vì quyền lực, bà sẵn sàng hạ thủ người thân, thậm chí ngay cả với con ruột mình. Nhìn vào các sự kiện trong cuộc đời bà theo ám chỉ trong văn chương có thể mang lại nhiều ý nghĩa: một phụ nữ đã vượt qua những giới hạn của mình một cách không thích hợp, thái độ đạo đức giả khi thuyết giáo về lòng trắc ẩn, trong khi cùng lúc ấy lại tiến hành mô hình tham nhũng và hành xử một cách xấu xa, tàn nhẫn ngay cả với người thân và cai trị bằng cách điều khiển từ phía sau hậu trường.

Tuy nhiên, trong triều cũng có nhiều người ủng hộ bà, vì phục bà là người quyết đoán, có tài trị nước. Trong số đó có cả những đại thần hiền năng, được trọng vọng như Lâu Sử Đức, Địch Nhân Kiệt, Tống Cảnh; và bà biết tin dùng những người đó, nên việc chính không rối loạn, dân chúng vẫn yên ổn làm ăn, coi những vụ lộn xộn ở triều chỉ là việc riêng của họ Lý. Khi đọc bài Hịch dẹp Võ Chiếu, trong đó Lạc Tân Vương mạt sát bà thậm tệ, bà đã không giận, còn khen Lạc là có tài và trách viên Tể tướng đã không biết thu phục.

Sử gia Tư Mã Quang đánh giá về bà trong Tư trị thông giám

Mặc dù Thái hậu dùng nhiều tên hiệu mỹ miều để phô trương, nhưng nếu bà nhìn thấy một đại thần nào đó là không đủ năng lực, sẽ ngay lập tức sẽ bãi chức hoặc thậm chí là giết chết. Bà còn thưởng phạt phân minh, lãnh đạo triều chính và dùng các phán đoán riêng của mình để quyết định công việc. Thái hậu có óc quan sát và phán đoán tốt, vì vậy những nhân tài đương thời cũng đều có cơ hội được dùng[44].

Tôn hiệu, Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Tắc Thiên rất thích các tôn hiệu mĩ miều, do đó đã nhiều lần thay đổi, thêm bớt chữ vào tôn hiệu, bao gồm:

  • Thánh Thần hoàng đế (聖神皇帝).
  • Tắc Thiên Đại Thánh hoàng đế (則天大聖皇帝).
  • Thánh Mẫu Thần Hoàng (聖母神皇).
  • Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (金輪聖神皇帝).
  • Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (越古金輪聖神皇帝).
  • Từ Thị Việt Cổ Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (慈氏越古金輪聖神皇帝).
  • Thiên Sách Kim Luân Thánh Thần hoàng đế (天册金輪聖神皇帝).

Các thụy hiệu của đời sau tôn phong:

  • Năm 710, đời Đường Trung Tông, tôn thụy thành Thiên hậu (天后).
  • Năm 710, đời Đường Duệ Tông, tôn thụy Đại Thánh Thiên Hậu (大聖天后).
  • Năm 712, đời Đường Huyền Tông, cải vi Thiên Hậu Thánh Đế (天后聖帝), rồi lại cải thành Thánh hậu (聖后).
  • Năm 716, cháu nội bà là Đường Huyền Tông tôn thụy thành Tắc Thiên hoàng hậu (則天皇后).
  • Năm 749, tôn thụy đầy đủ thành Tắc Thiên Thuận Thánh hoàng hậu (則天順聖皇后).

Nhà Chu (690 - 705)[sửa | sửa mã nguồn]

Quy ước: Sử dụng tên riêng
Miếu hiệu HọTên Giai đoạn cai trị Niên hiệu và khoảng thời gian sử dụng
Không có Võ Chiếu (武曌) 690-705

Thiên Thụ (天授): 16, tháng 11, 690 - 21 tháng 4, 692 (18 tháng)
Như Ý (如意): 22 tháng 4- 22 tháng 10, 692 (6 tháng)
Trường Thọ (長壽): 23 tháng 10, 692 - 8 tháng 6, 694 (19 ½ tháng)
Duyên Tái (延載): 9 tháng 6, 694 - 21 tháng 1, 695 (7 ½ tháng)
Chứng Thánh (證聖): 22 tháng 1 - 21 tháng 10, 695 (9 tháng)
Thiên Sách Vạn Tuế (天冊萬歲): 22 tháng 10, 695 - 19 tháng 1, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Đăng Phong (萬歲登封): 20 tháng 1 - 21 tháng 4, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Thông Thiên (萬歲通天): 22 tháng 4, 696 - 28 tháng 9, 697 (17 tháng)
Thần Công (神功): 29 tháng 9 - 19 tháng 12, 697 (2 ½ tháng)
Thánh Lịch (聖曆): 20 tháng 12, 697 - 26 tháng 5, 700 (29 tháng)
Cửu Thị (久視): 27 tháng 5, 700 - 14 tháng 2, 701 (8 ½ tháng)
Đại Túc (大足): 15 tháng 2 - 25 tháng 11, 701 (9½ tháng)
Trường An (長安): 26 tháng 11, 701 - 29 tháng 1, 705 (38 tháng)
Thần Long (神龍): 30 tháng 1 - 3 tháng 3, 705 (Nhà Chu bị bãi bỏ vào ngày 3 tháng 3 năm 705 và nhà Đường được tái lập ngay ngày hôm đó, nhưng giai đoạn Thần Long kéo dài tới tận năm 707)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]


  • Thân phụ: Ứng quốc công Võ Sĩ Hoạch (應國公武士彠; 577 - 635), truy tặng Hiếu Minh Cao Hoàng đế (孝明高皇帝).
  • Thân mẫu: Vinh Quốc Phu nhân Dương thị (榮國夫人楊氏; 579 - 670), truy tặng Hiếu Minh Cao Hoàng hậu (孝明高皇后).
  • Phối ngẫu: Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Tiết Hoài Nghĩa, Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông
  • Hậu duệ: Thời gian làm Tài nhân của Đường Thái Tông, Võ Tắc Thiên không sinh hạ cho ông một người con nào. Về sau khi lấy Đường Cao Tông thì bà sinh được 5 con, gồm 3 hoàng tử và 2 công chúa. Có thuyết cho Chương Hoài thái tử Lý Hiền là con của Võ hậu, nhưng sự thực mẹ ruột của Lý Hiền là Hàn quốc phu nhân Võ thị, chị ruột của bà.
  1. Lý Hoằng [義宗孝敬皇帝李弘; 652 - 675], sơ phong Đại vương (代王), đến năm 656 được phong làm thái tử. Qua đời ở cung Hợp Bích, ngờ là do Võ hậu độc hại, được Đường Cao Tông truy tặng thụy hiệu Hoàng đế.
  2. Hoàng nữ chết non vào năm 654, theo truyền thuyết là do Võ hậu hại chết để vu cáo Vương Hoàng hậu.
  3. Đường Trung Tông Lý Hiển [大和大圣大昭孝皇帝李顯, 656 – 710], sơ phong Chu vương (周王), rồi Anh vương (英王). Năm 680, sau khi đường huynh Lý Hiền bị phế, ông được lập làm Thái tử.
  4. Đường Duệ Tông Lý Đán [玄真大聖大興孝皇帝李旦, 662 - 716], sơ phong Dự vương (豫王), rồi cải thành Tương vương (相王).
  5. Thái Bình công chúa [鎮國太平太長公主, 665 - 713], hạ giá lấy Tiết Thiệu (薛紹), sau lấy Võ Du Kỵ.

Sự tích[sửa | sửa mã nguồn]

Võ Tắc Thiên được nhắc đến trong nhiều câu chuyện dân gian, chủ yếu mang tính phê phán sự chuyên quyền và tàn nhẫn của bà. Một số câu chuyện như[57]:

Giết con[sửa | sửa mã nguồn]

Dân gian và các nhà chép sử cho rằng Võ hậu là thủ phạm trong cái chết của 3 người con ruột của bà.

Truyền thuyết cho rằng, khi sinh đứa con thứ 2 là con gái, Võ Chiêu nghi rất không vui, dù Đường Cao Tông thì rất yêu quý. Một ngày khi Vương hoàng hậu (không có con) vì muốn làm lành và cũng yêu trẻ nhỏ đến thăm đứa bé. Khi hoàng hậu ra về, Võ Chiêu nghi đã bóp mũi chết đứa con của mình. Khi Đường Cao Tông vào thăm công chúa nhỏ, thấy nó đã chết, vô cùng giận dữ tra hỏi cung nữ, thì thấy bảo chỉ có mỗi hoàng hậu là người vào thăm. Do đó Cao Tông cho rằng hoàng hậu giết con mình vì ganh ghét.

Võ hậu cũng bị kết tội đã đầu độc chết con trai cả là Thái tử Lý Hoằng vào năm 675 vì Thái tử tỏ ý chống lại việc mình can dự vào triều chính (dù có giả thuyết khác là Thái tử đã qua đời tự nhiên vì lao phổi) [cần dẫn nguồn]

Sợ mèo[sửa | sửa mã nguồn]

Khi lên được ngôi hoàng hậu rồi, Võ hậu trả thù Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi bằng cách sai chặt hết chân tay họ rồi bỏ vào chum rượu ngâm để họ không chết ngay. Tại đây Võ hậu đã tiết lộ với Vương hoàng hậu là chính mình đã giết con gái để đổ tội. Vương hoàng hậu đã kêu rằng: "Tại sao kẻ ác như ngươi mà sinh được con, còn ta thì không thể?", còn Tiêu thục phi thì nguyền rằng sẽ biến thành mèo để đêm vào xé xác Võ hậu.

Võ hậu sợ mèo vì đã giết chết con mèo mà bà từng yêu quý nhất. Nhưng nó đã phản bội bà đi theo Vương hoàng hậu khi bà bị bắt vào lãnh cung. Do đó, bà thẳng tay giết nó và luôn luôn bị ám ảnh bởi tiếng mèo kêu, đêm đêm thấy hình ảnh con mèo hiện về trong giấc ngủ.[58]

Đày hoa mẫu đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Khi lên ngôi, quyền uy tột đỉnh, một ngày cuối đông ra vườn ngự uyển thấy cây cối héo úa không hoa, bà đã lớn tiếng ra lệnh cho tất cả các loài hoa trong vườn phải nở vào đúng ngày Tết Nguyên đán. Sáng Nguyên đán, Võ Tắc Thiên ra vườn thấy tất cả các hoa đều nở tung, chỉ có hoa mẫu đơn vẫn không nở. Võ Tắc Thiên tức giận sai nhổ toàn bộ mẫu đơn đi, đày đến phương nam. Do đó chỉ có Giang Nam là có mẫu đơn đẹp.

Tượng Phật Long Môn[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Đại phật tại Long Môn

Võ Tắc Thiên tôn sùng Phật giáo, đã ra lệnh đục các tượng Phật tại khu vực hang đá Long Môn. Tại đây pho tượng chính giữa lớn nhất là tượng Phật Đại Nhật (Tỳ lô giá na - Vairocana) được điêu khắc theo khuôn mặt của Võ Tắc Thiên.

Vết sẹo của Thượng Quan Uyển Nhi[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng Quan Uyển Nhi là cháu của Thượng Quan Nghi, Võ Tắc Thiên dùng làm nữ quan lo tất cả các việc văn thư trong hoàng cung và ngoài triều đình.

Trương Xương Tông tuy hầu hạ Võ Tắc Thiên nhưng lại có tư tình với Uyển Nhi, một lần hai người lén lút gặp nhau thì Võ Tắc Thiên bắt gặp. Tức giận, Võ Tắc Thiên đã ném cái bát vào giữa trán Uyển Nhi (một thuyết khác là Võ Tắc Thiên sai người dùng dao rạch), tạo thành một cái sẹo lớn chính giữa trán. Tuy nhiên vết sẹo lại làm cho Thượng Quan Uyển Nhi trông xinh đẹp hơn. Thế là từ đó lan truyền ra, các tiểu thư, mệnh phụ đều bắt chước vẽ chấm đỏ hoặc hình hoa mai vào giữa trán, trở thành một kiểu trang điểm rất được ưa chuộng dưới triều nhà Đường.[59]

Câu chuyện về dâm loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều câu chuyện về sự dâm loạn của Võ Tắc Thiên, một phần do đời sau thêu dệt, một phần là sự thật[60]:

  1. Hai mẹ con chung một người đàn ông: Võ Tắc Thiên được con gái là công chúa Thái Bình tiến cử một kẻ lực lưỡng là Phùng Tiểu Bảo, giả bắt hắn tu làm sư để thường xuyên gọi vào cung thông dâm. Võ Tắc Thiên vô cùng sủng ái, gọi hắn là chú để có cớ cho vào cung, ban cho tên mới là Hoài Nghĩa vào năm 685. Sư Hoài Nghĩa ra vào cung tự do, lên điện không chào, chính là người dựng Minh Đường, tạo tác tượng Phật Di Lặc khổng lồ và một ngôi chùa rất vĩ đại để vui lòng Võ Tắc Thiên. Tuy nhiên sau đó Võ Tắc Thiên có Thẩm thái y thì lạnh nhạt với Hoài Nghĩa, khiến gã tức giận nổi lửa đốt cháy toàn bộ tượng và chùa. Võ Tắc Thiên không tiện trị tội, sai công chúa Thái Bình ra tay. Ngày 25 tháng 12 năm 694, Thái Bình gọi Hoài Nghĩa vào vườn rồi huy động các cung nữ lực lưỡng đánh đến chết. Xác Hoài Nghĩa được đem đến đền Bạch Mã và hỏa táng, sau đó trộn lẫn vào trong đống đất bùn được sử dụng để xây một ngôi chùa.
  2. Võ Tắc Thiên long thể bất an, mời Thái y họ Thẩm vào bốc thuốc, nhân đó hỏi về thuốc kích dục. Thẩm thái y dâng phương thuốc có công hiệu, Võ Tắc Thiên bắt ông phục vụ mình. Dù bồi bổ thế nào, Thẩm thái y cũng không đáp ứng nổi, cuối cùng lao lực mà chết.
  3. Sau khi Thẩm thái y chết, công chúa Thái Bình tiến cử Trương Xương Tông có tài thổi sáo, rất đẹp trai lại có tài trong phòng the khiến Võ Tắc Thiên rất vui. Trương Xương Tông lại tiến cử anh mình là Trương Dịch Chi vào hầu hạ, được phong chức tước bổng lộc cực hậu. Không những thế, Trương còn liều lĩnh cặp ngay với một nha đầu thân cận của Võ Tắc Thiên. Vào một ngày Võ Tắc Thiên bắt gặp, đã rút gươm và chém sượt qua đầu. Tuy nhiên sau đó chuyện này đã được giải quyết êm vì công chúa Thái Bình có ý kiến rằng: "Không nên làm to chuyện, làm trò cười cho thiên hạ"'. Sau này cả hai anh em đều bị giết khi thái tử Lý Hiển làm binh biến khôi phục nhà Đường năm 705.
  4. Các quan thấy Võ Tắc Thiên đa dâm lụy tình cũng tiến cử con em, thậm chí chính mình vào để hầu Nữ hoàng hòng kiếm lợi lộc. Võ Tắc Thiên bèn lập ra Phụng Thần viện, với danh nghĩa là nuôi chim hạc, là nơi tập hợp các thanh niên tuấn tú khỏe mạnh nhằm thỏa mãn mình. Phụng Thần viện trở thành nơi dâm loạn nhất của chốn cung đình. Những thanh niên bị thất sủng sẽ bị giết để diệt khẩu và ném xuống hồ. Sau này cháu nội là Đường Huyền Tông cho khai quật đã phát hiện hàng đống xương người dưới hồ.

Trong phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Võ Tắc Thiên xuất hiện trong nhiều bộ phim điện ảnh Trung Quốc

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Võ Tắc Thiên 武則天 cũng được Nguyễn Danh Phiệt trong sách Hồ Quý Ly; bản dịch năm 2004 của sách Quốc sử toản yếu của Nguyễn Huy Oánh; sách Thơ văn Lý-Trần, Tập 3 của Viện Văn học đọc là Vũ Tắc Thiên.[2][3][4]

Nguồn dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Academia Sinica - Chuyển hoán Trung Tây lịch
  2. ^ Nguyễn Danh Phiệt, Hồ Quý Ly, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, trang 91.
  3. ^ Nguyễn Huy Oánh, Quốc sử toản yếu, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Thừa Thiên - Huế, 2004, trang 216.
  4. ^ Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần, Tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, trang 220.
  5. ^ Thời Bắc Ngụy, Linh Thái hậu từng đưa một người cháu gái của mình lên ngôi, nhưng chỉ được vài ngày thì phế truất, do đó công chúa Nguyên thị này thường không được coi là hoàng đế
  6. ^ Paludan, 100
  7. ^ 《全唐文·卷九十六》○改元载初赦文......朕又闻之,人必有名者,所以吐情自纪,尊事天人......朕宜以曌为名。自卦演龙图......
  8. ^ 曌(汉语拼音:zhào),是“照”在则天文字中的写法,取“日月当空”之意。又作“瞾”,取“双目当空”之意。
  9. ^ 《旧唐书·卷六·本纪第六》神龙元年……冬十一月壬寅……是日,崩于上阳宫之仙居殿,年八十三,谥曰则天大圣皇后……
  10. ^ 《新唐书·卷七十六 列传第一·后妃上》神龙元年……是岁,后崩,年八十一。遗制称则天大圣皇太后……
  11. ^ 《资治通鉴·卷二百八·唐纪二十四》(神龙元年)十一月……壬寅,则天崩于上阳宫,年八十二。遗制……
  12. ^ a ă 《资治通鉴·卷一百九十五·唐纪十一》(贞观十一年)十一月,辛卯,上幸怀州;丙午,还洛阳宫。故荆州都督武士彟女,年十四,上闻其美,召入后宫,为才人。贞观十二年......
  13. ^ 陈洋. 解密武则天的出生时间和出生地. 编辑:蒲刚. 广元新闻网,来源:市图书馆. 2008-11-03 [2017-02-16] (简体中文).
  14. ^ 628年,其母杨氏为49周岁。
  15. ^ Giang Lăng, Hồ Bắc, Trung Quốc ngày nay
  16. ^ a ă Tân Đường thư, quyển 76.
  17. ^ Cựu Đường thư, quyển 51
  18. ^ 《舊唐書·卷51》:“后獨自如,曰:‘見天子庸知非福,何兒女悲乎?’”
  19. ^ 《新唐书 卷七十六 列传第一》:“既见帝,赐号武媚。及帝崩,与嫔御皆为比丘尼。”
  20. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 199
  21. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 206
  22. ^ 《唐会要·卷三》:“贞观十年,文德皇后崩天。太宗闻武士箺女有才貌,召入宫,以为才人。时上在东宫,因入侍,悦之。太宗崩,随嫔御之例出家,为尼感业寺。上因忌日行香,见之。武氏泣,上亦潸然。”
  23. ^ a ă Paludan, 96
  24. ^ Bá Dương, Outlines of the History of the Chinese (中國人史綱, vol. 2, p. 520.
  25. ^ 《舊唐書·卷五十一·后妃上》:“初,武皇后貞觀末隨太宗嬪御居於感業寺,后及左右數為之言,高宗由是復召入宮,立為昭儀。”
  26. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 200
  27. ^ Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc hiện nay
  28. ^ Cựu Đường thư, quyển 80
  29. ^ Cựu Đường thư, quyển 6
  30. ^ Nay thuộc địa phận Quý Châu
  31. ^ Tân Đường thư, quyển 105
  32. ^ Thái Nguyên, Sơn Tây, Trung Quốc hiện nay
  33. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 201
  34. ^ a ă â b c Tư trị thông giám, quyển 202
  35. ^ Chiết Giang, Giang Tô, Trung Quốc hiện nay
  36. ^ Cựu Đường thư, quyển 51
  37. ^ Lý Hiển, Lý Đán là con trai ruột của Thiên Hậu
  38. ^ Cựu Đường thư, quyển 86
  39. ^ Tân Đường thư, quyển 4
  40. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 203
  41. ^ Paludan, 97
  42. ^ Nay thuộc Dương Châu, Giang Tô, Trung Quốc
  43. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 204
  44. ^ a ă â b c d đ Tư trị thông giám, quyển 205
  45. ^ Trú Mã Điếm, Hà Nam, Trung Quốc hiện nay
  46. ^ Liêu Thành, Sơn Đông, Trung Quốc hiện nay
  47. ^ Tân Đường thư, quyển 198
  48. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 208
  49. ^ Triều Dương, Liêu Ninh hiện nay
  50. ^ Thạch Gia Trang, Hà Bắc hiện nay
  51. ^ Cựu Đường thư, quyển 89
  52. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 207
  53. ^ Cựu Đường thư, quyển 86
  54. ^ Tân Đường thư, quyển 81
  55. ^ Tân Đường thư, quyển 4
  56. ^ Academia Sinica-Chuyển hoán Trung Tây lịch
  57. ^ a ă Tình tiết bất ngờ về thân thế Võ Tắc Thiên | Thâm cung | Kienthuc.net.vn
  58. ^ Võ Tắc Thiên kiêu ngạo, tạc tượng Phật mang gương mặt mình - DVO - Báo Đất Việt
  59. ^ “Chuyện trả thù kinh hãi của nữ hoàng dâm tặc”. Báo điện tử Người đưa tin. Truy cập 21 tháng 3 năm 2015. 
  60. ^ “Giải mã khả năng tình dục vô biên của Võ Tắc Thiên”. Báo điện tử VTC News. Truy cập 21 tháng 3 năm 2015. 

Chú thích sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Năm được suy ra từ tuổi khi chết được ghi trong Tân Đường thư (新唐書), biên soạn vào năm 1045-1060, là năm được các nhà sử học hiện đại lựa chọn. Năm sinh được tính từ Cựu Đường thư (舊唐書), soạn vào năm 941-945, là 623. Năm sinh được tính ra từ Tư trị thông giám được soạn vào năm 1065-1084, là 624. Được Đường Thái Tông đặt tên vào cuối những năm 630 sau khi bà đã vào hoàng cung (xem trong bài).
  2. ^ Đã phát minh ra ký tự Trung Quốc này vào tháng 12, 689 và lấy đó làm tên. Trở thành tên húy của bà khi bà lên ngôi vào năm sau. Một số nguồn xác nhận rằng từ này được viết trên thực tế Chiếu (瞾). Một số nguồn cũng cho rằng tên gốc bà được đặt là Chiếu (照), và rằng năm 689 bà chỉ đổi những phần cấu thành tên bà, nhưng điều này không được xác nhận trong Cựu Đường thư và trong Tân Đường thư, cả hai đều ghi tên gốc của bà, nếu có.
  3. ^ Bà đã nắm một phần quyền lực vào năm 660, và nắm hoàn toàn quyền lực từ tháng 1, 665 (xem bài bên trong). Nhà Chu được tuyên bố thành lập vào 16 tháng 10, 690, và xưng đế vào 19 tháng 10, giáng con bà Đường Duệ Tông làm người thừa tự.
  4. ^ Mất quyền lực sau cuộc đảo chính trong hoàng cung 10 tháng 2, 705. Sau đó vào 22 tháng 2 bị bắt buộc phải trao lại chức vị cho con trai lớn, được lập làm Đường Trung Tông vào 23 tháng 2
  5. ^ Nhà Chu bị bãi bỏ trước khi bà chết, và bà bị giáng xuống cấp ngôi hoàng hậu khi chết, vì thế bà không có miếu hiệu. Tại Trung Quốc, hoàng hậu không giống như các hoàng đế cai trị, không được trao miếu hiệu.
  6. ^ Tắc Thiên là người đầu tiên được trao huy hiệu (徽號) vào tháng 2, 705 bởi người con trai được tái lập làm vua là Trung Tông. Huy hiệu đã được sử dụng làm thụy hiệu của bà tên khi bà chết mười tháng sau đó.
  7. ^ Tên thụy cuối cùng của bà được đặt vào tháng 7, 749.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]