Quân chủng Hải quân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hải quân Nhân dân Việt Nam)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải quân Nhân dân Việt Nam
Ensign of Vietnam People's Navy.svg

Hải kỳ
Hoạt động 7 tháng 5, 1955
Quốc gia  Việt Nam
Phân loại Quân chủng (Nhóm 3)
Quy mô khoảng 45.000 người
Khẩu hiệu Đảo là nhà, Biển cả là quê hương
Hành khúc Lướt sóng ra khơi
Lễ kỷ niệm 5 tháng 8, 1964
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Hải chiến Trường Sa 1988
Thành tích khen thưởng:
Các tư lệnh
Tư lệnh Chuẩn đô đốc Phạm Hoài Nam[1]
Chỉ huy
nổi tiếng
Giáp Văn Cương
Huy hiệu
Phù hiệu Vietnam People's Navy insignia.png Anchor Navy.jpg

Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam, là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; chống cướp biển, tìm kiếm cứu nạn và các nhiệm vụ khác. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân.

Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, tàu ngầm... nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng. Bao gồm các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần....

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những bước sơ khai[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền Việt Minh tại nhiều tỉnh ven biển đã tổ chức các đội dân quân bảo vệ bờ biển. Nhiều chi đội Vệ quốc quân được điều về chốt giữ trên những địa bàn xung yếu. Các đơn vị sự này, tùy theo địa phương, mang tên gọi "Thủy quân" hoặc "Hải quân", với biên chế không đồng đều, trang bị cũng không thống nhất, đều chịu sự chỉ huy trực tiếp của các chỉ huy quân sự địa phương. Như tại Đà Nẵng, có tổ chức thủy quân miền Nam Trung Bộ, lực lượng gồm khoảng 400 người. Tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh khu Duyên Hải tổ chức Ủy ban Hải quân Việt Nam, với lực lượng chiến đấu được tổ chức thành Đại đội Ký Con với quân số gần 200 người, phương tiện hoạt động gồm một tàu nhỏ mang tên Bạch Đằng và 3 ca nô có nhiệm vụ hoạt động ở cửa biển Hải Phòng và vùng ven biển Đông Bắc.[2] Từ đầu tháng 9 năm 1945 đến giữa tháng 5 năm 1946, các đơn vị thủy quân địa phương này tổ chức đánh nhiều trận gây thiệt hại cho quân Pháp trong quá trình tìm cách tái chiếm Đông Dương. Nhiều đơn vị đã hoạt động cho đến Chiến tranh Đông Dương kết thúc.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL về Quân đội Quốc gia Việt Nam, chính thức thống nhất và chính quy hóa lực lượng quân sự quốc gia. Đến ngày 19 tháng 7 năm 1946, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Huỳnh Thúc Kháng ra Quyết định số 125/QĐ thành lập trong Quân đội Quốc gia Việt Nam ngành Hải quân Việt Nam, đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng về phương diện quản trị và Quân sự Ủy viên hội về phương diện điều khiển. Ngày 10 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Quân sự Ủy viên hội Võ Nguyên Giáp ra Nghị định số 103/NĐ thành lập "Cơ quan Hải quân" (sau gọi là Hải đoàn bộ), do một Hải đoàn trưởng điều khiển trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Nhiệm vụ của Hải đoàn bộ là tổ chức thủy đội tuần liễu và phỏng thủ duyên hải, tập trung các nhân viên, bộ đội thủy quân đã có trong Quân đội Quốc gia Việt Nam và tuyển lựa cựu thủy binh để thành lập ngay một tổ chức Hải quân. Tuy nhiên, do tình hình chiến sự lúc đó, các quyết định trên đều chưa có điều kiện thực hiện.[2] Đến đầu năm 1947, xét thấy không thể duy trì lực lượng hải quân, Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam đã quyết định cho tháo gỡ máy móc, vũ khí, thiết bị và đánh đắm tàu để không lọt vào tay quân Pháp.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam ra Nghị định số 604/QĐ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký, thành lập Ban Nghiên cứu Thủy quân thuộc Bộ Tổng tham mưu. Ông Nguyễn Văn Khương được cử làm Trưởng ban, ông Nguyễn Việt làm Chính trị viên và ông Trần Đình Vọng làm Phó ban. Cơ quan Ban Nghiên cứu Thủy quân đóng tại phố Giàn, bên bờ sông Chảy thuộc huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.[2]

Ban Nghiên cứu Thủy quân có 3 ban chuyên môn là: Hàng hải, Thông tin hàng hải, Điện cơ máy nổ và các bộ phận hành chính, quân sự, hậu cần. Nhiệm vụ của Ban Nghiên cứu Thủy quân là nghiên cứu phương án xây dựng và chiến đấu của lực lượng thủy quân, phù hợp với thực tiễn hiện tại (kháng chiến chống Pháp) và trong tương lai; tập hợp đội ngũ cán bộ, công nhân viên hải quân cũ (từng phục vụ trong chính quyền thuộc địa), tạo điều kiện xây dựng cơ sở ban đầu; tuyển mộ, huấn luyện đào tạo một đội ngũ thủy quân cách mạng, trẻ, có trình độ khoa học kỹ thuật hàng hải. Trước đó, khi nghe báo cáo và đề nghị thành lập Ban Nghiên cứu Thủy quân và mở lớp thủy quân của Bộ Tổng Tham mưu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị nhiệm vụ đầu tiên của Ban Nghiên cứu Thủy quân là huấn luyện xây dựng một đội du kích có khả năng hoạt động trên sông, rồi từ sông mới tiến ra biển khi có điều kiện.[3]

Tháng 2 năm 1950, khóa học thủy quân đầu tiên được khai giảng, gồm 180 học viên được tuyển chọn từ các đơn vị bộ binh, dân quân du kích vùng ven biển Đông Bắc, một số là học sinh các trường trung học ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, tổ chức thành một tiểu đoàn huấn luyện, do ông Trần Lưu Thông làm Tiểu đoàn trưởng. Đội ngũ giáo viên khoảng 10 người, đều là các nhân sự từng là thủy binh trong Hải quân Pháp hoặc trong ngành hàng hải Pháp. Cả Ban Nghiên cứu Thủy quân và tiểu đoàn huấn luyện mang phiên hiệu chung là Đội sản xuất 71.[2]

Chương trình huấn luyện thủy quân bấy giờ gồm quân sự, chính trị, chuyên môn, trong đó tập trung huấn luyện một số nội dung kỹ thuật, chiến thuật của bộ binh chiến đấu trong môi trường sông biển như bắn súng trên tàu thuyền, trên ca nô, tập bơi, lặn, tập chèo thuyền, chèo xuồng, tập động tác đổ bộ (từ bờ lên thuyền và từ thuyền nhảy xuống tiếp cận bờ triển khai đội hình chiến đấu), tập sử dụng hải đồ, xác định vị trí tàu trên biển bằng phương pháp quan sát, đo đạc các mục tiêu địa văn và theo kinh nghiệm của nhân dân (nhìn trăng, sao, xem thủy triều, hướng gió…), học cách sử dụng các phương tiện thông tin đơn giản (cờ, đèn…).[2] Trong điều kiện chiến tranh, các học cụ đều rất thô sơ và ít có điều kiện thực hành.

Khoảng vào tháng 5 năm 1950, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị chọn khoảng 100 học viên của Ban Nghiên cứu Thủy quân, đưa sang đảo Nào Cháu (Điều Thuận), một hòn đảo nằm ở phía đông bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc), bấy giờ dưới quyền quản lý chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng minh thân cận với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để học tập nâng cao trình độ. Bộ phận khung ở lại, chiêu sinh khoảng 100 học viên để đào tạo thủy quân khóa 2. Ngày 10 tháng 8 năm 1950, Đội Thủy binh 71 được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Nghiên cứu Thủy quân, đóng quân tại làng Cò, gần phố Giàn, huyện Đoan Hùng (Phú Thọ).

Đến giữa tháng 4 năm 1951, khi khóa II vừa kết thúc được ít ngày, và các học viên học ở Trung Quốc trở về, do yêu cầu góp phần duy trì chiến tranh du kích ở vùng Đông Bắc và châu thổ duyên hải Bắc Bộ, Bộ Quốc phòng quyết định giải thể Ban Nghiên cứu Thủy quân và Đội Thủy binh 71.[3] Phần lớn học viên khóa I và một số học viên khóa II được chuyển ra các vùng Hòn Gai, Hải Ninh, Quảng Yên, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các địa bàn ven biển. Một bộ phận học viên chuyển về Đại đoàn Công pháo 351 và các đại đoàn bộ binh đang trong quá trình xây dựng. Bộ phận lực lượng còn lại về nhận công tác ở các liên khu, Bộ Tổng tư lệnh, hoặc đi học ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn.[2]

Hình thành lực lượng Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thắng lợi quyết định tại trận Điện Biên PhủHiệp định Genève, 1954 được ký kết, để chuẩn bị cho việc tiếp quản miền Bắc Việt Nam, đầu tháng 8 năm 1954, Bộ Quốc phòng đã điều động 7 nhân sự trước đây từng ở Ban Nghiên cứu Thủy quân và Đội Thủy binh 71 về Cục tác chiến để thành lập bộ phận nghiên cứu lực lượng bảo vệ vùng biển. Tháng 1 năm 1955, thêm 4 cán bộ được bổ sung. Ông Nguyễn Bá Phát, nguyên Tham mưu trưởng Liên khu 5, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 được giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách bộ phận này. Bộ phận được giao 3 nhiệm vụ chính: Thăm dò cơ sở để tổ chức lực lượng tự sản xuất phương tiện tàu, thuyền; Nghiên cứu địa hình và tình hình trên vùng ven biển miền Bắc để xác định kế hoạch bố trí lực lượng bảo vệ bờ biển; Xây dựng đề án tổ chức, xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển.[2]

Sau khi kiểm soát hoàn toàn miền Bắc Việt Nam, ngày 26 tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng đã thành lập Trường Huấn luyện bờ biển để đào tạo nhân sự cho việc quản lý trên 800 km dải bờ biển miền Bắc từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 (Quảng Trị). Chưa đầy 2 tuần sau, ngày 7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ biển. Nhiệm vụ của Cục là giúp Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo bộ đội phòng thủ bờ biển; đào tạo cán bộ, nhân viên, thủy thủ; sản xuất các dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội phòng thủ bờ biển rồi chuyển giao cho các liên khu (sau này là quân khu). Ông Nguyễn Bá Phát được cử làm phụ trách Cục. Về sau, ngày 7 tháng 5 được chọn làm ngày thành lập của Hải quân Nhân dân Việt Nam.[2]

Sau khi thành lập, Cục Phòng thủ bờ biển quyết định tự đóng 20 tàu gỗ 20 tấn lắp máy ô tô làm phương tiện hoạt động, bên cạnh 36 thuyền buồm và lực lượng gồm 6 tiểu đoàn thực binh, xây dựng thành lực lượng tuần duyên. Ngày 24 tháng 8 năm 1955, Bộ Quốc phòng đã thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng. Đây được xem là những đơn vị chiến đấu chính quy đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam.[3]

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Cục Phòng thủ bờ biển chuyển đổi thành Cục Hải quân trực thuộc Bộ Quốc phòng [4]. Tổ chức biên chế của Cục Hải quân gồm 5 phòng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, công trình và Đo đạc biển); 5 đơn vị trực thuộc: Trường Huấn luyện bờ biển (đổi thành Trường Huấn luyện hải quân), Đoàn 130, Đoàn 135, tiểu đoàn công binh 145 và Xưởng 46. Ngày 20 tháng 4 năm 1959, thành lập Đảng bộ Cục Hải quân[5] trực thuộc và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy.

Các đơn vị chiến đấu lần lượt cũng được thành lập như ngày 18 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 135 (sau này đổi thành 140), đơn vị tàu tuần tiễu; ngày 3 tháng 8 năm 1961, thành lập căn cứ Hải quân I và căn cứ Hải quân II[6].

Đoàn tàu không số[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 10 năm 1961, thành lập Đoàn 759 (Đoàn Vận tải Quân sự đường biển nay là Lữ đoàn 125)[7]

Từ sự kiện Quảng Khê đến sự kiện Vịnh Bắc Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 4 năm 1961, CIA phối hợp với Sở Khai thác địa hình thuộc Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tổ chức cho điệp viên Ares thâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển. Với lực lượng hải quân tuần tiễu còn non yếu của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tàu Nautilus 1 của CIA dễ dàng thâm nhập bờ biển Quảng Ninh. Sau đó, tàu CIA có thêm vài lần đưa điệp viên thâm nhập hoặc tiếp tế thành công. Trên cơ sở đó, CIA quyết định tổ chức tập kích vào căn cứ hải quân Quảng Khê của Hải quân Nhân dân Việt Nam, nằm gần cửa sông Giang, thuộc tỉnh Quảng Bình. Mục tiêu là 3 chiếc tàu pháo thuộc lớp Swatow do Trung Quốc đóng. Trận tập kích diễn ra rạng sáng ngày 30 tháng 6 năm 1962, được đánh giá là thành công khi tiêu diệt được 2 tàu, nhưng cũng trả một giá rất đắt: toàn bộ thành viên tham gia tập kích đều bị giết hoặc bị bắt sống, tàu vận tải Nautilus 2 của bị tàu pháo T-161 của Hải quân Nhân dân Việt Nam tiêu diệt, chỉ duy nhất một thành viên là Nguyễn Văn Ngọc thoát được.[8]

Ngày 3 tháng 1 năm 1964, Cục Hải quân đổi tên thành Bộ Tư lệnh Hải quân[9]

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày đánh trả thành công chiến dịch Mũi Tên Xuyên - cuộc tập kích đầu tiên bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam[10][11].

Ngày 13 tháng 4 năm 1966, thành lập Đoàn 126 (Đoàn Đặc công Hải quân nay là Lữ đoàn 126)

Ngày 6 tháng 5 năm 1970, tách Cục Hậu cần thành Cục Hậu cần và Cục Kỹ thuật [12]

Cuộc chiến sau ngày thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 9 năm 1975, sát nhập Trung đoàn 126, Trung đoàn 46 thành Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ [13]

Ngày 13 tháng 9 năm 1975, tổ chức các đơn vị phòng thủ đảo.

Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân.

  • Năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.
  • Ngày 5 tháng 7 năm 1978, thành lập Trung đoàn 147 Hải quân đánh bộ nay là Lữ đoàn 147[14]
  • Ngày 23 tháng 6 năm 1979, thành lập Tiểu đoàn Tên lửa 679 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân (nay là Lữ đoàn 679)[15]
  • Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Hải quân Nhân dân Việt Nam đụng độ với Hải quân Trung Quốc tại đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Hiện đại hóa trong thời kỳ mới[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 31 tháng 8 năm 1998, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam làm lễ ra mắt.
  • Tháng 11 năm 2008, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trở thành một lực lượng độc lập với Hải quân Nhân dân Việt Nam.
  • Ngày 14 tháng 1 năm 2011, Bộ Quốc phòng ra Quyết định nâng cấp Bộ Chỉ huy Vùng Hải quân lên thành Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân [16]
  • Ngày 3 tháng 7 năm 2013, thành lập Lữ đoàn Không quân hải quân 954, hình thành lực lượng không lực hải quân đầu tiên.[17]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

TT Chức vụ Họ tên Đảm nhiệm Chức vụ trước Ghi chú
1 Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Phạm Hoài Nam Từ 2015 Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng QCHQ
2 Chính ủy Vietnam People's Navy Vice Admiral Left.jpg Đinh Gia Thật Từ 2012 Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân
3 Tham mưu trưởng Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Phạm Xuân Điệp Từ 2015 Tư lệnh Vùng 2 Hải quân
4 Phó Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Nguyễn Viết Nhiên Từ 2009 Tư lệnh Vùng 4 Hải quân
5 Phó Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Lê Minh Thành Từ 2012 Sư đoàn trưởng Sư đoàn 370, Quân chủng PK-KQ
6 Phó Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Ngô Sỹ Quyết Từ 2015 Tư lệnh Vùng 3 Hải quân
7 Phó Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Nguyễn Trọng Bình Từ 2016 Tư lệnh Vùng 1 Hải quân.
8 Phó Chính ủy Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Đặng Minh Hải Từ 2015 Chủ nhiệm Chính trị Hải quân
9 Phó Tư lệnh Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg Hoàng Hồng Hà Từ 2016 Chủ nhiệm Kỹ thuật Hải quân

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Quân chủng Hải quân bao gồm:

  • Đảng bộ Quân chủng Hải quân là cao nhất.
  • Đảng bộ các Cục chuyên ngành, Vùng Hải quân, Học viện Hải quân, các Lữ đoàn thuộc Quân chủng Hải quân (tương đường Trung đoàn)
  • Đảng bộ các đơn vị cơ sở trực thuộc các Vũng Hải quân, Lữ đoàn (tương đương Tiểu đoàn, Trung đoàn)
  • Chi bộ trực thuộc các đơn vị cơ sở gồm các Phòng, ban chức năng (tương đương Đại đội)

Đảng ủy Quân chủng Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bí thư: Chính ủy Quân chủng Hải quân
  2. Phó Bí thư: Tư lệnh Quân chủng Hải quân

Ban Thường vụ

  1. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
  2. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân
  3. Ủy viên Thường vụ: Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng
  • Thanh tra
  • UBKT Đảng
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Thông tin
  • Phòng Đối ngoại
  • Phòng Điều tra hình sự
  • Phòng Cứu hộ cứu nạn
  • Phòng Thi hành Án
  • Phòng Đăng kiểm
  • Phòng Kinh tế

Cơ quan chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng hải quân của HQVN.

Đơn vị cơ sở trực thuộc Cục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu đoàn Phòng hóa 20, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Vệ binh, Bộ Tham mưu
  • Tiểu đoàn Trinh sát, Bộ Tham mưu
  • Báo Hải quân, Cục Chính trị[33]
  • Bảo tàng Quân chủng, Cục Chính trị
  • Xưởng In, Cục Chính trị
  • Bệnh viện quân y 87, Cục Hậu cần[34]
  • Kho K700, Cuc Hậu cần[35]
  • Kho Xăng dầu, Cục Hậu cần[36]
  • Kho K711, Cục Hậu cần[37]
  • Kho K710, Cục Kỹ thuật[37]
  • Kho K714, Cục Kỹ thuật[38]
  • Kho K858, Cục Kỹ thuật[39]
  • Nhà máy X46, Cục Kỹ thuật[40]
  • Nhà máy X48, Cục Kỹ thuật[41]
  • Nhà máy X50, Cục Kỹ thuật[42]
  • Nhà máy X51, Cục Kỹ thuật[43]
  • Nhà máy X52, Cục Kỹ thuật[44]
  • Nhà máy X55, Cục Kỹ thuật[45]
  • Nhà máy X56, Cục Kỹ thuật[46]
  • Nhà máy X70, Cục Kỹ thuật[47]

Tổ chức chung[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Hải quân Nhân dân Việt Nam từ cao đến thấp như sau:

  • Bộ Tư lệnh Hải quân trực thuộc Bộ Quốc phòng
  • Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân (1, 2, 3, 4, 5)
  • Lữ đoàn Hải quân
  • Hải đoàn (tương đương với Tiểu đoàn Hải quân)
  • Hải đội

Quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Nhân dân Việt Nam diễu binh tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN năm 2010

Trước năm 1981, quân hàm cấp tướng của quân chủng hải quân chưa có tên gọi riêng. Từ năm 1981, quân hàm các cấp tướng trong hải quân mới có tên gọi riêng, theo cách gọi của Liên Xô: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng), được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Về phù hiệu và cấp hiệu quân hàm xem bài Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Trong lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam chỉ mới có 2 sĩ quan Hải quân lên tới cấp Đô đốc là Giáp Văn Cương (phong năm 1988) và Nguyễn Văn Hiến (phong năm 2011). Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (2014) [48] thì Phó Đô đốc tương đương Trung tướng là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh và chính ủy Quân chủng Hải quân Việt Nam. Chỉ phong Đô đốc hải quân khi là Thứ trưởng quốc phòng, Phó tổng tham mưu trưởng,Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị kiêm nhiệm.

Lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Tạ Xuân Thu 1964-1964 Thiếu tướng Hải quân (1961) Chính ủy Học viện Quân sự Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Hải quân
2 Nguyễn Bá Phát 1964-1974 Đại tá (1964)
Thiếu tướng Hải quân (1974)
3 Đoàn Bá Khánh 1974-1975 Đại tá (1973)
Thiếu tướng Hải quân (1975)
4 Nguyễn Bá Phát 1976-1977 Thiếu tướng Hải quân (1974) Thứ trưởng Bộ Thủy sản Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010)
5 Giáp Văn Cương 1977-1980 Thiếu tướng (1974)
Trung tướng Hải quân (1980)
6 Đoàn Bá Khánh 1981-1984 Thiếu tướng Hải quân (1975)
7 Giáp Văn Cương 1984-1990 Phó Đô đốc (1980)
Đô đốc (1988)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010)
8 Hoàng Hữu Thái 1990-1994 Phó Đô đốc (1990)
9 Mai Xuân Vĩnh 1994-1999 Phó Đô đốc (1994)
10 Võ Nhân Huân
(1946-1999)
1999-1999 Chuẩn Đô đốc (1999) Quyền Tư lệnh, mất khi đang tại nhiệm Ủy viên BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
11 Đỗ Xuân Công 2000-2004 Chuẩn Đô đốc (1998)
Phó Đô đốc (2002)
Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh
12 Nguyễn Văn Hiến 2004-2015 Phó Đô đốc (2004)
Đô đốc (2011)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2011-2016) Uỷ viên BCH Trung ương Đảng khoá X, XI
13 Phạm Hoài Nam 2015-nay Chuẩn Đô đốc (2014) Uỷ viên BCH Trung ương Đảng khoá XI, XII

Chính ủy[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Tạ Xuân Thu 1964-1966 Thiếu tướng (1961) Chính ủy Học viện Quân sự Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Hải quân
2 Hoàng Trà 1966-1967 Đại tá
3 Đoàn Phụng 1967-1969 Đại tá (1961)
4 Lương Tuấn Khang 1969-1970 Đại tá (1966) Chính ủy Quân khu Tả ngạn
5 Hoàng Trà 1970-1974 Thiếu tướng (1974)
6 Trần Văn Giang 1974-1975 Đại tá (1974)
7 Hoàng Trà 1975-1979 Thiếu tướng (1974) Phó Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần Huân chương Độc lập hạng Nhất
8 Trần Văn Giang 1981-1986 Chuẩn Đô đốc (1980) Huân chương Quân công hạng Nhất
9 Lê Văn Xuân 1987-1995 Chuẩn đô đốc (1984)
Phó đô đốc (1992)
Huân chương Quân công hạng Nhì
10 Võ Nhân Huân
(1946-1999)
1995-1999 Đại tá (1995)
Chuẩn Đô đốc (1999)
Quyền Tư lệnh Quân chủng Hải quân (1999-1999) Uỷ viên BCH Trung ương Đảng khoá VIII. Mất khi đang làm nhiêm vụ
11 Nguyễn Văn Tình 2000-2008 Chuẩn đô đốc (2001)
Phó Đô đốc (2004)
Uỷ viên BCH Trung ương Đảng khoá IX. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
12 Trần Thanh Huyền 2008-2012 Chuẩn Đô đốc (2006)
Phó Đô đốc (2010)
13 Đinh Gia Thật 2012-nay Chuẩn Đô đốc (2011)
Phó Đô đốc (9.2015)

Tham mưu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Trần Thanh Từ 1964-1967 Thượng tá (1959)
Đại tá (1966)
Trung tướng (1986), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân chủng Hải quân
2 Nguyễn Xáng

(Dũng Mã)

1967-1970 Thượng tá (1966) Thiếu tướng (1984), Cục trưởng Cục Kế hoạch huấn luyện, Học viện Quân sự cao cấp Huân chương Quân công hạng nhất
3 Đoàn Bá Khánh 1970-1970 Thượng tá (1970) Thiếu tướng Hải quân (1975), Tư lệnh Quân chủng
4 Nguyễn Dưỡng 1970-1977 Thượng tá (1970)
Đại tá (1974)
Thiếu tướng Hải quân (1980), Phó tư lệnh Quân chủng
5 Hoàng Hữu Thái 1977-1982 Đại tá Phó Đô đốc, Tư lệnh Quân chủng
6 Mai Xuân Vĩnh 1982-1991 Chuẩn đô đốc (1984) Phó Đô đốc, Tư lệnh Quân chủng
7 Trương Tải 1991-1995 Đại tá Cục phó cục Tác chiến/BTTM
8 Trần Quang Khuê 1996-2000 Đại tá
Chuẩn đô đốc
Trung tướng (2008), Phó tổng tham mưu trưởng
9 Nguyễn Văn Hiến 2000-2004 Chuẩn Đô đốc (2000) Phó Đô đốc (2004), Đô đốc (2011), Tư lệnh Quân chủng, Thứ trưởng Bộ quốc phòng
10 Phạm Ngọc Minh 2005-2013 Chuẩn đô đốc (2007)
Phó Đô đốc (2012)
Phó Tổng Tham mưu trưởng (2013-)
11 Phạm Hoài Nam 2013-2015 Chuẩn đô đốc (2014) Tư lệnh Quân chủng Hải quân
12 Phạm Xuân Điệp 2015-nay Chuẩn đô đốc (2012)

Các tướng lĩnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh Nước SX Tên Số lượng Trọng tải Dài x Ngang
x Mớn nước
Động cơ Chân vịt Công suất Vận tốc Tầm hoạt động Thủy thủ đoàn Phiên bản Ghi chú
Tàu ngầm
Submarine Kilo class.jpg  Nga Kilo 6 2,300-2,350 tấn (nổi), 3,000-4,000 tấn (lặn) 73,8 x 9,9 x 6,3m Diesel
điện
1 (7 cánh) 4400 kW 10 hải lý/h (nổi), 20 hải lý/h (lặn) 7.500 hải lý (nổi), 400 hải lý (lặn)/45 ngày 52 người Kilo 636MV Số hiệu:
182 Hà Nội, 183 TP Hồ Chí Minh, 184 Hải Phòng, 185 Khánh Hòa, 186 Đà Nẵng, 187 Bà Rịa Vũng Tàu
Tàu hộ tống
Khinh hạm lớp Gepard-Dagestan của Nga  Nga Gepard[55] 6 (đã bàn giao 2 chiếc) 2100 tấn 102,14 x 13,09 x 3,8m CODOG hai trục 2 8000 hp, tăng lực 29.300 hp 18 hải lý/h(tiết kiệm), tối đa 28 hải ký/h 5000 hải lý/30 ngày 84-103 người Project 11661E Số hiệu:
011 Đinh Tiên Hoàng, 012 Lý Thái Tổ
Tàu săn ngầm
SKRpr159(DN-SC-86-01985).jpg  Liên Xô Petya 5 ~ 1000 tấn 81,8 x 9,2 x 2,9m. CODOG ba trục 3 6000 hp, tăng lực 30.000 hp tối đa 32 hải lý/h 4870 hải lý 92 người Project 159 A/E Số hiệu:
09, 11, 13, 15, 17.
Tàu tên lửa
HQ-359-2007.jpg  Liên Xô Osa II 8 209 tấn 38,6 x 7,64 x 3,8 3 động cơ Diesel 3 12.000 hp 40 hải lý/h 1.800 hải lý / 5 ngày 29 người Project 205U Số hiệu:
354, 355, 356, 357, 358, 359, 360, 361.
Taratul I Viet Nam.jpg  Nga Tarantul 4 455 tấn 56,1 x 10,2 x 2,14m CODOG 2 trục 2 4000 hp, tăng lực 23.700 hp tối đa 35 hải lý/h 2400 hải lý 44 người Project 1241 RE Số hiệu:
371, 372, 373, 374.
Ght.jpg  Liên Xô BPS-500 1 517 tấn 62 x 11,2 x 2,5m Diesel MTU kết hợp waterjets 2 19.600 hp 14 hải lý/h, tối đa 32 hải lý/h 1650 hải lý 28 người Project 1241.2 Số hiệu:
381
ORP Metalowiec in Gdynia.JPG  Việt Nam Molniya 12 (đã bàn giao 8 chiếc) 550 tấn 56,1 x 10,2 x 2,14m CODOG 2 trục 2 4000 hp, tăng lực 23.700 hp tối đa 35 hải lý/h 2400 hải lý 44 người Project 1241.8 Số hiệu:
375, 376, 377, 378, 379, 380, 382, 383.
Tàu phóng lôi
HQ-334-2008.jpg  Liên Xô Turya 5 250 tấn 39,6 x 7,6 x 4m 3× Động cơ M503 B2 Diesels 3 15000 hp tối đa 42 hải lý/h tối đa 1.450 hải lý 30 người Project 206-M PTF Số hiệu:
331, 332, 333, 334, 335.
HQ305 HQNDVN.JPG  Nga Shershen 3 172 tấn 34,08 x 6,72 x 1,46m Diesel 3 12.500 hp 45 hải lý/h 500 hải lý 24 người Số hiệu:
305, 306, 307.
Tàu vớt mìn
 Liên Xô Yurka 2 519 tấn 52,1 x 9,6 x 2,65m Diesel M-503 2 2 x 5000 hp 16 hải lý/h 1500 hải lý/7 ngày 56 người (6 sĩ quan) Project 266 Rubin Số hiệu:
851, 852.
 Liên Xô Yevgenya 2 88.5 tấn 26,13 x 5,9 x 1,3m Diesel 2 trục 2 2 x 850 hp 12 hải lý/h 300 hải lý/10 ngày 10 người Project 1258 Korund Số hiệu: 815, 816.
HQ-862 HQVN.JPG  Liên Xô Sonya 4 450 tấn 48,8 x 8.8 x 2,1m Diesel 2 trục 2 2 x 2400 hp tối đa 15 hải lý/h 1500 hải lý 45 người(full) Project 1265 Yakhont Số hiệu:
861, 862, 863, 864.
Tàu tuần tra
PSKR-915-Nevel'sk(DN-SC-97-01584).jpg  Nga Svetlyak 6 375 tấn 49,5 x 9,2 x 2,2m Diesel M504 3 16200 mã lực 13 hải lý/h, tối đa 30 hải lý/h 2200 dặm 28 người Projekt 10412 Kí hiệu:
261, 263, 264, 265, 266, 267.
TT-400TP.jpg  Việt Nam TT400TP 6 480 tấn (đầy tải) 54,16 x 9,16 x 2,7m Diesel

điện MTU

? 3x4000 kW tối đa 32 hải lý/h,TB 14 hải lý/h 2500 hải lý 28 người Project TP400 Số hiệu:
272, 273, 274, 275, 276, 277.
 Nga Tàu tuần tra cao tốc Mirage 4 127,1 tấn (đầy tải) 35,45 x 6,79 x 2,76m 2 động cơ diesl M520B 2 trục, 2 động cơ phản lực nước ? 10,800 hp 50 hải lí/giờ ? 14 người Project 1234.1
Tàu đổ bộ
 Hoa Kỳ USS Chelan County (LST-542) 1 1,651 tấn lúc rỗng, 4,145 tấn lúc đầy 100 x15,2 x3 (rỗng), 100 x15,2 x6,78 (đầy) 2 General Motors 12-567 động cơ diesel, hai trục, bánh lái đôi 2 1700 HP 12 hải lý/h ? 16 sĩ quan, 147 thủy thủ (chở được thêm 110 sĩ quan và lính thủy quân lục chiến cùng xe tăng và 2 xuồng đổ bộ) lớp LST-542 Số hiệu:
501
 Hoa Kỳ USS Chelan County (LST-491) 1 1,651 tấn lúc rỗng, 3,698 tấn lúc đầy 100 x15 x3 (rỗng), 100 x15 x6,78 (đầy) 2 General Motors 12-567 động cơ diesel, hai trục, bánh lái đôi 2 1.700 HP 12 hải lý/h ? 10 sĩ quan, 100 thủy thủ (chở được thêm 140 sĩ quan và lính thủy quân lục chiến cùng xe tăng và 2 xuồng đổ bộ) lớp LST-491 Số hiệu:
503
Polnocny-May1985.JPG  Ba Lan Tàu lớp LSM Polnocny-B (kế hoạch 771) 3 834 tấn lúc rỗng, khoảng 1500 tấn lúc đầy 73 x 9,02 x 2,3m Diesel 2 trục 2 18,4 hải lý/giờ (33 km/h) 2000 hải lý (16 hải lý/giờ) 4 sĩ quan cùng 33 thủy thủ (chở thêm 6 xe chiến đấu bộ binh/xe bọc thép chở quân hoặc 5 xe tăng, cùng hơn 300 lính thủy quân lục chiến) LSM Polnocny Số hiệu:
511, 512, 513.
 Việt Nam Tàu lớp Hùng Vương 2 600 tấn lúc đầy tải chở được 2 xe tăng và 36 lính thủy quân lục chiến Hùng Vương Số hiệu: 521, 522.
 Hoa Kỳ Tàu lớp LCU-1466 8 183 tấn lúc rỗng, 360 tấn lúc đầy 35.8 x 10.36 x 1,83 3 động cơ diesel 1 675 HP 8 hải lý/h 1200 hải lý 14 (chở thêm được 4 xe chở quân hoặc 100 lính thủy quân lục chiến) LCU 1466 (trang bị 2 súng trọng liên 12,7mm) Số hiệu: 551, 552, 553, 554, 555, 556, 557, 558.
Tàu vận tải
 Việt Nam Tàu lớp 996 1 2.050 tấn 70,75 x 11,80 x 8,8 2 máy đẩy công suất lớn 12 hải lý/h 10-15 ngày ~30 (Vận chuyển thêm được 350 lính thủy quân lục chiến) Số hiệu: 996
 Việt Nam Tàu vận tải lớp K 122 1 2.050 tấn 71 x 13,2 x 9 2 máy đẩy 2,400 hp x 2 16 hải lý/h 2.500 hải lý trong 20 - 40 ngày ~30 (Vận chuyển thêm được ~300 lính thủy quân lục chiến) K 122 Số hiệu: 571
 Việt Nam Tàu vận tải lớp Trường Sa 5 1.200 tấn 70,6 x 11.8 Tàu được trang bị 2 khẩu pháo 2 nòng 25mm
 Việt Nam Tàu lớp ST-194 3 140 tấn 31.3 x 6.8 2 máy 1 1.100 HP x2 21 hải lý/h 9 (chở thêm 78 lính thủy quân lục chiến) ST-194 Trang bị 2 khẩu súng máy 14,5mm
Tàu tuần tiễu
 Việt Nam Tàu lớp ST-250 2 29.5 x 6.7 1 1.500 HP x2 25 hải lý/h 9 (chở thêm 10 lính thủy quân lục chiến) ST-250 Trang bị 2 khẩu súng máy NVS 14,5mm
Tàu bệnh viện
 Việt Nam Tàu bệnh viện Khánh Hòa 561 1 2.068 tấn 70,62 x 13,22 x 3,5 Hai động cơ diesel 4.964 hp 16 hải lý/h 2.500 hải lý/ 45 ngày 38 (26 sĩ quan, thủy thủ và 12 cán bộ, nhân viên y tế) K 123 Số hiệu: 561
Tàu hỗ trợ
 Liên Xô Tàu kéo hậu cần (Kế hoạch 745) ATA 1
 Liên Xô Tàu Voda (MTV-6/Kế hoạch 561) AWT 1
 Liên Xô Tàu lặn tiếp liệu Nyrat-2 (Kế hoạch 376U) (YDT) 2
Floating drydocks (YFDL) 2
 Liên Xô PO-2 (Kế hoạch 376) YFL 2
 Hoa Kỳ Tàu chở dầu ex-US 53-meter (YO) 2
 Hoa Kỳ Tàu kéo Chaolocco (YTM) 2+
Harbor tub (YTL) 9

Đạn tự hành[sửa | sửa mã nguồn]

Nước SX Tên Ghi chú
Đạn tự hành phòng thủ bờ biển
 Liên Xô P-5 Pyatyorka/SS-N-3/SS-C-1 Shaddock Đạn tự hành diệt hạm
 Liên Xô P-15 Termit Termit/SS-N-2/SS-C-3 Styx Đạn tự hành diệt hạm
 Nga P-800 Oniks/SS-N-26/SS-C-5 Yakhont Đạn tự hành diệt hạm tốc độ siêu âm tầm thấp hay còn được biết dưới tên gọi hệ thống phòng thủ Bastion.
Đạn tự hành sử dụng trên tàu chiến
 Liên Xô P-15 Termit/SS-N-2A/B Styx Đạn tự hành diệt hạm.
Trang bị trên các tàu PTG và tàu tuần tra.
 Nga Kh-35 Uran/SS-N-25 Switchblade 3M-24E Đạn tự hành diệt hạm tốc độ cận âm tầm thấp.
Trang bị trên khu trục hạm Gepard.
 Israel EXTRA Đạn phản lực có dẫn đường pha cuối.
Tầm bắn 130 km
 Israel ACCULAR Đạn phản lực có dẫn đường pha cuối.
Tầm bắn 40 km.
 Nga 3M-54E1 Klub-S Klub-S Đạn tự hành diệt hạm tốc độ siêu âm tầm thấp.
Trang bị trên ngầm Kilo.
Đạn tự hành không đối đất
 Liên Xô Kh-31 Krypton Đạn tự hành diệt hạm tốc độ siêu âm.
 Nga P-800 Oniks/Yakhont Phiên bản không đối đất của tên lửa Yakhont-M

Máy bay[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh Nước SX Tên Số lượng Ghi chú
Trực thăng
Kamov Ka-27PS.JPEG
 Liên Xô Ka-27 8 Trực thăng săn ngầm
Kamov Ka-32S Omega Hc Moscow 2004.jpg
 Liên Xô Ka-32 10 Trực thăng cứu hộ
SFC Vietnam Mil Mi-17 Wadman.jpg
 Liên Xô Mi-171 22 Trực thăng vận tải, cứu hộ
EUROCOPTER EC225 01.JPG
Cờ Pháp Pháp EC-225 10 Trực thăng vận tải,trinh sát
Aerospatiale HH-65.jpg
Cờ Pháp Pháp SA-365 N2 6 Trực thăng cứu hộ, phiên bản N2/N3
Máy bay cánh cố định
FMG DHC-6 Twin Otter.JPG
 Canada DHC-6[56] 6[57] Máy bay tuần tra biển

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Sao vàng (hai lần, lần 2 năm 2010) [58]
  • Danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Lệnh số 316/KT-HĐNN8, ngày 13 tháng 12 năm 1989.
  • 1 huân chương Sao vàng (thành tích 30 năm xây dựng Quân chủng, Lệnh số 721/KT-HĐNN7 ngày 18 tháng 7 năm 1985).
  • 1 huân chương Hồ Chí Minh (thành tích 20 năm xây dựng trưởng thành và làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, ngày 18 tháng 3 năm 1979).
  • 1 huân chương Độc lập hạng nhất (nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam và thời kỳ đổi mới), Lệnh số 166/KT-CTN ngày 4 tháng 5 năm 2000.
  • 1 huân chương Độc lập hạng nhì (thành tích 10 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân chủng, Lệnh số 9/LCT ngày 29 tháng 8 năm 1965).
  • 1 huân chương Quân công hạng nhất (thành tích 40 năm xây dựng và chiến đấu của Quân chủng, Lệnh số 580/KT-CTN ngày 10 tháng 12 năm 1984).
  • 1 huân chương Quân công hạng nhì (về thành tích xuất sắc trong chiến đấu đánh thắng trận đầu, Lệnh số 31/LCT ngày 7 tháng 8 năm 1964).
  • 1 huân chương Quân công hạng nhì thành tích làm nhiệm vụ chiến đấu ở Tây Nam và nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, Lệnh số 286/HĐNN7 ngày 20 tháng 3 năm 1983).
  • 1 huân chương Lao động hạng ba

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “tu-lenh-quan-chung-hai-quan-tham-bo-tu-lenh-bdbp”. 
  2. ^ a ă â b c d đ e [1]
  3. ^ a ă â Hải quân nhân dân Việt Nam: Sự trưởng thành kỳ diệu
  4. ^ Thành lập Cục Hải quân (theo Nghị định số 320/1959/NĐ của Bộ Quốc phòng)
  5. ^ Theo Quyết định số 35/QĐ của Tổng Quân ủy năm 1959
  6. ^ Theo Quyết định số 74/QP của Bộ Quốc phòng 3/8/1961
  7. ^ Theo Quyết định số 97/QP của Bộ Quốc phòng (ký ngày 23/10/1961)
  8. ^ Vũ Đình Hiếu, Cuộc chiến bí mật. Nhà xuất bản Thời Đại, 2011. Tr. 29-32.
  9. ^ Theo Quyết định số 01/QP của Bộ Quốc phòng (ngày 03/1/1964)
  10. ^ VietNamNet, Ngày này năm xưa
  11. ^ Thanh Niên, Quân chủng Hải quân đánh thắng trận đầu: Cuộc giáng trả đanh thép 40 năm trước, 04/08/2004
  12. ^ Thành lập Cục Kỹ thuật theo Quyết định số 87/QĐ của Bộ Quốc phòng ký ngày 6/5/1970
  13. ^ Theo Quyết định số 113/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng ngày 5/9/1975
  14. ^ Theo Quyết định số 503/QĐ-QP của Bộ Quốc phòng ngày 5/7/1978
  15. ^ Theo Quyết định số 543/QĐ-TM của Bộ Tổng Tham mưu ngày 23/6/1979
  16. ^ “Nâng cấp Vùng Hải quân lên thành Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân năm 2011”. 
  17. ^ Việt Nam lập Lữ đoàn Không quân hải quân 954
  18. ^ “Kỷ niệm 55 năm thành lập Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần Hải quân”. 
  19. ^ “Chuẩn Đô đốc Đặng Minh Hải: Cục Chính trị phải là đơn vị mẫu”. 
  20. ^ “Ngành Hậu cần Hải quân trước nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới”. 
  21. ^ “Bàn giao Lữ đoàn Không quân 954 về Quân chủng Hải quân”. 
  22. ^ “Lữ đoàn 101, Quân chủng Hải quân: Phát huy nội lực, nỗ lực vượt khó”. 
  23. ^ “Lữ đoàn 125 phát huy truyền thống “Đoàn tàu không số". 
  24. ^ “Lần đầu xem Lữ đoàn tàu ngầm 189 huấn luyện”. 
  25. ^ “Lữ đoàn Công binh 83 Hải quân đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất”. 
  26. ^ “Lữ đoàn 602 bảo đảm vững chắc thông tin liên lạc theo lời Bác Hồ dạy”. 
  27. ^ “Hải đoàn 128 hải quân phát huy truyền thống vẻ vang”. 
  28. ^ “Hải Đoàn 129 cứu hộ 7 ngư dân gặp nạn tại Trường Sa”. 
  29. ^ “Hải quân Việt Nam ra quân huấn luyện”. 
  30. ^ “Những nữ sinh tài năng của Học viện Kỹ thuật quân sự”. 
  31. ^ “Những “cô Tấm” của Viện Y học Hải quân”. 
  32. ^ “Trang chủ tân cảng”. 
  33. ^ a ă “Báo Hải quân đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba”. 
  34. ^ “Hải quân Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế về Y học dưới nước”. 
  35. ^ “Bế mạc Hội thi Kỹ thuật Tăng – Thiết giáp Quân chủng Hải quân 2012”. 
  36. ^ “Đổi mới phương thức bảo đảm xăng dầu phù hợp cho lực lượng hải quân”. 
  37. ^ a ă “Thăm hỏi, động viên các đơn vị nhân kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội”. 
  38. ^ “K 714 - Quân chủng Hải quân chúc mừng các cơ quan báo chí tại Thừa Thiên Huế”. 
  39. ^ “Hơn 10% tổng số xe tham gia hội thi kỹ thuật tăng, thiết giáp”. 
  40. ^ “Nhà máy X46 - Cục Phòng thủ bờ biển kỷ niệm 60 năm thành lập”. 
  41. ^ “Nhà máy X48- Cục Kỹ thuật Hải quân: Đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba”. 
  42. ^ “Sức xuân ở nhà máy X50 Hải quân”. 
  43. ^ “Nhà máy X51: Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng và làm kinh tế giỏi”. 
  44. ^ “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm các đơn vị hải quân”. 
  45. ^ “Nhà máy X55 – 35 năm vượt sóng”. 
  46. ^ “Kiểm tra công tác bảo đảm kỹ thuật tại một số đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân”. 
  47. ^ “Nhà máy X70 Hải quân: Đặt lên hàng đầu công tác bảo đảm an toàn”. 
  48. ^ Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999
  49. ^ “Diện mạo mới của Hải quân Việt Nam”. 
  50. ^ “Bộ Tư lệnh Hải quân bàn giao và ra mắt Phi đội thủy phi cơ DHC-6”. 
  51. ^ “Bão có khả năng thành áp thấp nhiệt đới”. 
  52. ^ “Vùng 2 Hải quân ra quân huấn luyện năm 2014”. 
  53. ^ “Tưởng niệm, tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì biển đảo quê hương”. 
  54. ^ “Không xa đâu, Trường Sa ơi”. 
  55. ^ [2] Projet 1166.1 Gepard 3.9
  56. ^ Thành lập Phi đội thủy phi cơ DHC-6 Không quân Hải quân Việt Nam
  57. ^ Việt Nam sắp có máy bay trinh sát, tuần tra biển
  58. ^ [3] Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển, đảo - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 21:41 | 07/05/2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]