Cesc Fàbregas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cesc Fabregas)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cesc Fàbregas
Cesc Fabregas'14.JPG
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Francesc Fàbregas i Soler[1]
Ngày sinh 4 tháng 5, 1987 (30 tuổi)[1]
Nơi sinh Arenys de Mar, Tây Ban Nha
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)[2]
Vị trí Tiền vệ, Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 4
CLB trẻ
1995–1997 Mataró
1997–2003 Barcelona
2003–2004 Arsenal
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2003–2011 Arsenal 212 (35)
2011–2014 Barcelona 96 (28)
2014– Chelsea 71 (8)
Đội tuyển quốc gia
2002–2003 U-16 Tây Ban Nha 8 (1)
2003–2004 U-17 Tây Ban Nha 14 (7)
2005 U-20 Tây Ban Nha 5 (0)
2004–2005 U-21 Tây Ban Nha 12 (2)
2006– Tây Ban Nha 110 (15)
2004– Catalunya 3 (0)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 15 tháng 5 năm 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 27 tháng 6 năm 2016

Francesc "Cesc" Fàbregas Soler (IPA: ['sɛsk 'faβɾəɣəs su'ɫeʁ̞]) (sinh ngày 4 tháng 5 năm 1987Arenys de Mar, Catalunya, Tây Ban Nha[2][3]) là một cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha hiện đang thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Chelseađội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha. Fàbregas đã bắt đầu sự nghiệp của mình làm một học viên tại FC Barcelona nhưng anh đã được ký hợp đồng với Arsenal vào tháng 7 năm 2003. Anh không nổi bật lắm trong mùa giải đầu tiên cho "the Gunners", nhưng sau khi các tiền vệ trung tâm của đội bóng bị chấn thương trong mùa giải 2004–2005, thời gian chơi bóng của anh tăng lên. Ở Arsenal anh có cơ hội thể hiện tài năng ở vị trí tiền vệ cánh phải, một vị trí không phải là sở trường của mình. Và dĩ nhiên là từ khi có sự xuất hiện của Hleb, Cesc đã chơi ở vị trí ấy ít hơn. Trở về Barcelona năm 2011 với mức giá gần 30 triệu bảng, đã có những thông tin lo ngại cho một vị trí chính thức của Xavi đệ nhị khi anh sẽ phải cạnh trong cho suất hàng tiền vệ 3 người thi đấu rất ăn ý và không thể thay thế hiện nay là Xavi - Iniesta - Busquet. Tuy nhiên, Pep Guardiola cho thấy ông có cái lý riêng khi một mực đòi đưa bằng được Cesc Fàbregas về sân Nou Camp. Pep Guardiola đẩy Fàbregas lên đá vị trí tiền đạo ảo (vị trí của chính Lionel Messi) hoặc tiền đạo chạy cánh và thành công ở mức chấp nhận. Fàbregas có thể nói thông thạo 4 thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nhatiếng Catalunya.

Anh đã phá vỡ nhiều kỷ lục của câu lạc bộ và bắt đầu nổi danh là một cầu thủ có năng khiếu kỹ thuật, có khả năng chuyển bóng xuất sắc và là một cầu thủ chính trong đội hình của Arsenal. Trong bóng đá quốc tế, sự nghiệp của cầu thủ đội tuyển Tây Ban Nha này đã bắt đầu từ lúc trẻ, tham gia đội U-17 trong giải 2003 FIFA U-17 World ChampionshipPhần Lan. Nhờ thi đấu tốt, anh đã được chọn vào đội tuyển lớn tuổi hơn và chơi trong World Cup 2006. Năm 2006, Fàbregas đã ký hợp đồng lâu dài với thời gian 8 năm với Arsenal. Fàbregas cũng là một thành viên của đội tuyển Tây Ban Nha vô địch Euro 2008, World Cup 2010Euro 2012. Trong trận chung kết World Cup 2010, anh là người đã kiến tạo cho Andrés Iniesta ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu giúp Tây Ban Nha đăng quang.[4]

Hiện nay anh đang thi đấu cho câu lạc bộ Chelsea.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2005-2006[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu mùa giải này, đội trưởng của Arsenal lúc đó là Patrick Viera đã quyết định chuyển đến đầu quân cho Câu lạc bộ Juventus ở Ý, và người mà Arsene Wenger nhắm đến để lấp lại lỗ hổng này chính là Fàbregas (lúc đó mới 18 tuổi). Trong giai đoạn đầu mùa này, Arsenal đã chơi rất tệ so với những năm trước và họ sớm bị Chelsea bỏ xa trên bảng xếp hạng Premier League. Tất cả mọi người đều cho kết quả tồi tệ này là do Fàbregas không thể mặc vừa chiếc áo của Viera để lại mặc dù cậu đã có một bàn thắng trong trận tranh Community Shield với Chelsea. Mùa giải cứ theo thời gian mà trôi đi, Arsenal coi như đã bị loại khỏi cuộc đua tới ngôi vô địch Premier League khi họ bị Chelsea bỏ cách đến 20 điểm tính đến hết vòng 17. Mùa giải trắng tay đã rất gần, tuy nhiên bước ngoặt đã đến ở vòng 1/16 UEFA Champions League, khi Arsenal vượt qua Real Madrid ngay tại Santiago de Bernabeu, trong một trận đấu mà Fàbregas đã chơi cực hay và đóng góp to lớn vào chiến thắng đó. Tiến vào vòng tứ kết, Fàbregas có cơ hội gặp lại người đàn anh Viera khi đối thủ của Arsenal chính là Juventus. Thật bất ngờ khi các đồng đội trẻ trung của Fàbregas đã vượt qua Juventus già giơ của Viera một cách thuyết phục, riêng Fabregas đã ghi được một bàn trong chiến thắng 2-0 ở Highbury. Sau kết quả này, Arsenal đã tiến thẳng vào trận chung kết, mặc dù thất bại trước FC Barcelona nhưng mùa giải năm đó vẫn được xem là bước ngoặt của Fàbregas đối với sự nghiệp của anh. Cũng trong năm 2006 này, Fàbregas đã lần đầu được triệu tập vào đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha dự FIFA World Cup 2006

Mùa giải 2006-2007[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại từ đội tuyển quốc gia sau FIFA World Cup 2006, Fàbregas đã bước vào mùa giải mới một cách rất ấn tượng khi anh ghi 2 bàn vào lưới Dinamo Zagreb trong khuôn khổ vòng sơ loại UEFA Champions League. Nhưng mùa giải năm đó thực sự là một cơn ác mộng với Arsenal của Fàbregas khi họ một lần nữa bị loại khỏi cuộc đua tới ngôi vô địch một cách nhanh chóng. Không những vậy, đội bóng của Fàbregas còn lần lượt bị mất ba danh hiệu liên tiếp chỉ sau chưa đầy một tháng sau những trận thua trước Chelsea ở chung kết Cúp Liên đoàn Anh, Blackburn RoversCúp FAPSVUEFA Champions League. Dù vậy, tài năng của Fàbregas vẫn được tôn vinh bằng các danh hiệu cá nhân như Cầu thủ xuất sắc nhất tháng một của English Premiership, có tên trong đội hình tiêu biểu của UEFA hay giải thưởng Bravo Awards dành cho cầu thủ trẻ xuất sắc nhất châu Âu...

Mùa giải 2007-2008[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai mùa giải trắng tay liên tiếp, đội trưởng Thierry Henry đã thất vọng và rời bỏ đội bóng để đến với câu lạc bộ đã đánh bại Arsenal trong trận chung kết UEFA Champions League một năm trước đó là FC Barcelona. Trọng trách vực dậy Arsenal ngày càng đè nặng lên những người còn lại, trong đó có Fàbregas. Tuy nhiên chính bản thân anh cũng bị các câu lạc bộ lớn như Real Madrid, AC Milan, Barcelona,... mời chào bằng những hợp đồng hấp dẫn nhưng huấn luyện viên Arsene Wenger không chấp nhận điều này. Ông quyết giữ Fàbregas lại để tái thiết lại đội bóng. Không phụ lòng người thầy, Fàbregas đã chơi cực kì bùng nổ và đưa Arsenal liên tiếp dẫn đầu Premier League ở giai đoạn đầu mùa. Trên đấu trường UEFA Champions League, Arsenal cũng chơi rất ấn tượng khi huỷ diệt Slavia Prague tới 7-0 ở lượt trận thứ 3. Cuối năm 2007, Fàbregas suýt nữa đã lọt vào Top 3 Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới và chỉ bị loại vào phút chót bởi Lionel Messi của FC Barcelona. Bước qua thời gian bùng nổ đó, Fàbregas và các đồng đội dần trở lại mặt đất. Sự xuống dốc bắt đầu xuất hiện bằng việc Fàbregas không có nổi một bàn thắng trong 16 trận liên tiếp ở Premier League và nó thể hiện rõ nhất từ cuối tháng 2 cho đến đầu tháng 4 năm 2008. Trong quãng thời gian này, Arsenal chỉ thắng được 1/7 trận tại Premier League và tuột xuống vị trí thứ 3. Ở đấu trường châu Âu, Fàbregas cũng không thể giúp Arsenal lọt vào trận đấu cuối cùng. Họ chỉ vào tới tứ kết rồi bị Liverpool loại với tổng tỉ số là 5-3 để rồi trắng tay mùa thứ ba liên tiếp.

Mùa giải 2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Fabregas là đội trưởng của Arsenal từ mùa bóng 2008-2009.

Trong hai trận đấu ở đầu mùa, Fàbregas đã phải vắng mặt vì một chấn thương nhưng sau đó anh đã trở lại trong chiến thắng 3-0 trước Newcastle United tại Premier League. Ở những trận đấu tiếp theo, Fàbregas đã phải cày ải liên tục cho cả đội tuyển quốc gia Tây Ban Nha lẫn cho cả Arsenal. Điều này đã làm Fàbregas tỏ ra quá tải, anh không còn chơi nổi bật như cùng kì mùa giải trước. Chính vì vậy Arsenal đã thể hiện một phong độ rất thất thường: sau mười bốn vòng, họ đã thua tới 5 trận trước những đối thủ làng nhàng như Fulham, Stoke City, Hull City,... Nội bộ Arsenal cũng trở nên lục đục sau trận hoà 4-4 trước Tottenham Hotspur. Tinh thần đội bóng sau đó xuống dốc thảm hại. Sau đó đội trưởng William Gallas đã công khai tiết lộ những chuyện không hay của nội bộ đội bóng trước báo giới và kết quả là anh này ngay lập tức bị tước băng đội trưởng của Arsenal. Ở trận đấu diễn ra cùng ngày (22/11/08), Arsenal thua tan tác trên sân của Manchester City với tỉ số 3-0 trong trận đấu mà Fàbregas bị treo giò vì nhận đủ năm thẻ vàng. Cuối cùng sau bao nhiêu lời đồn đại, Fàbregas đã chính thức được huấn luyện viên Arsene Wenger trao cho chiếc băng đội trưởng của Arsenal và anh lần đầu tiên dẫn đầu các pháo thủ bước ra khỏi đường hầm sân vận động trong trận đấu với Dinamo Kiev vào ngày 26/11/08.[5] Trận đấu đó đã kết thúc với chiến thắng 1-0 cho Arsenal. Fàbregas chính là người đã chuyền đường bóng quyết định cho Nicklas Bendtner ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Thật không may cho Fàbregas, chỉ một tháng sau, anh đã dính một chấn thương nghiêm trọng sau khi va chạm với người đồng hương Xabi Alonso của Liverpool. Điều đó đồng nghĩa với việc Cesc đã phải nghỉ thi đấu bốn tháng.[6]

Mùa giải 2009-2010[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải này có thể coi là mùa giải sáng giá nhất của Fàbregas trong màu áo Arsenal khi anh ghi được 19 bàn thắng trong đó có 3 cú đúp vào lưới Everton, AZ AlkmaarAston Villa, cùng với đó là 19 pha kiến tạo thành bàn cho đồng đội. Tất cả đều được thực hiện trong 36 trận.

Mùa giải 2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona đã nhiều lần bày tỏ mong muốn được mua lại Cesc Fàbregas trong kỳ chuyển nhượng hè 2010, nhưng cuối cùng anh vẫn ở lại Arsenal. Trở lại Emirates sau FIFA World Cup 2010 với tư cách là nhà vô địch thế giới cùng đội tuyển bóng đá Tây Ban Nha, anh vẫn tiếp tục giữ chiếc băng đội trưởng của Arsenal. Đây là một mùa giải thất bại đối với Arsenal nói chung cũng như Fàbregas nói riêng, kéo dài 6 năm trắng tay của đội bóng thành London.

FC Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

Arsenal đã đồng ý bán Fàbregas cho Barcelona với giá chuyên nhượng 40 triệu euro, 30 triệu tiền mặt trả trước của Barca, 5 triệu sau khi Barca thi đấu thành công với đóng góp của Fàbregas và 5 triệu tiền thưởng của Fàbregas. Fàbregas chính thức trở lại Barcelona vào chủ nhật ngày 14/8. Fabregas có màn ra mắt Barcelona thành công ngoài mong đợi. Anh kiến tạo bàn thắng cho Lionel Messi trong trận tranh Siêu cúp Tây Ban Nha, giúp Barcelona hạ gục Real Madrid. Fàbregas đã hòa nhập rất nhanh với đồng đội và hứa hẹn sẽ trở thành 1 bản hợp đồng thành công của Barcelona. Cả mùa giải này, Fàbregas thi đấu tất cả 48 trận với 15 bàn thắng và 20 đường kiến tạo thành bàn (phần lớn ở vị trí tiền đạo).

Sau khi về anh đã lập 1 kỉ lục. Đó là sau 3 trận đấu ghi 3 bàn và đoạt 3 danh hiệu

Mùa giải 2012-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Fàbregas chấm dứt chuỗi hơn 8 tháng tịt ngòi bằng cú đúp vào lưới Sevilla. Sau đó anh tiếp tục ghi thêm 3 bàn trong tháng 10 tại La Liga, UEFA Champions LeagueCúp Nhà Vua Tây Ban Nha (Copa del Rey). Fàbregas ghi 1 bàn vào lưới Levante trong chiến thắng 4-0 của Barcelona ngày 25 tháng 11. Anh lập hat-trick đầu tiên trong sự nghiệp trong trận đại thắng Real Mallorca với tỉ số 5-0 vào ngày 07 tháng 04 năm 2013. Mùa này, Fàbregas thi đấu cũng 48 trận, ghi được 14 bàn thắng và 12 đường chuyền thành bàn.

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12/06/2014, Cesc Fàbregas chính thức gia nhập Chelsea và mang áo số 4.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Euro 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Fabregas ăn mừng chức vô địch Euro 08 cùng đồng đội

Ba mùa giải trắng tay liên tiếp cùng Arsenal làm cho Fabregas càng quyết tâm có một danh hiệu cùng đội tuyển. Quyết tâm này đã giúp anh được huấn luyện viên Luis Aragones tin tưởng giao cho vinh dự mang chiếc áo số mười của Tây Ban Nha. Tuy vậy "số mười" lại chỉ được sử dụng như một dự bị chiến lượt cho cặp tiền vệ trung tâm chính thức Marcos SennaXavi Hernandez. Dù vậy nhưng trong trận ra quân, Fabregas dù vào sân từ băng ghế dự bị nhưng chính anh là người ấn định chiến thắng 4-1 cho Tây Ban Nha trước đội tuyển Nga,trước đó anh còn có một đường chuyền đê David Villa lập công. Vượt qua vòng loại, tuyển Tây Ban Nha của Fabregas bước vào trận bán kết gặp đội tuyển thiên thanh Italia, trận đấu phải bước vào loạt "đấu súng" cân não và Fabregas đã vượt qua nó bằng cách thực hiện thành công quả penalty quyết định đưa Tây Ban Nha vào bán kết để tái ngộ Nga. Một lần nữa, Fabregas lại vào sân từ băng ghế dự bị và tiếp tục chứng tỏ mình là một con bài chiến thuật của Luis Aragones. Anh chơi cực kì xuất sắc và đã có 2 đường chuyền giúp Daniel GuizaDavid Silva lập công giúp Tây Ban Nha một lần nữa thắng đậm với tỉ số 3-0. Chấn thương của David Villa đã giúp Fabregas có cơ hội đá chính trong trận chung kết gặp Đức.Hơn 60 phút có mặt trên sân, Fabregas đã góp công vào chiến thắng lịch sử 1-0 và giúp Tây Ban Nha có chức vô địch Châu Đầu tiên sau 44 năm chờ đợi. Fabregas đã được bầu chọn vào danh sách 23 cầu thủ tiêu biểu của giải đấu do UEFA bầu chọn.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 2 tháng 5 năm 2016[7][8][9]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Arsenal 2003–04 0 0 0 0 3 1 0 0 0 0 3 1
2004–05 33 2 6 0 1 0 5 1 1 0 46 3
2005–06 35 3 0 0 1 0 13 1 1 1 50 5
2006–07 38 2 2 0 4 0 10 2 54 4
2007–08 32 7 1 0 2 0 10 6 45 13
2008–09 22 3 1 0 0 0 10 0 33 3
2009–10 27 15 1 0 0 0 8 4 36 19
2010–11 25 3 3 2 3 1 5 3 36 9
Tổng cộng 212 35 14 2 14 2 61 17 2 1 303 57
Barcelona 2011–12 28 9 8 3 10 2 2 1 48 15
2012–13 32 11 7 2 8 1 1 0 48 14
2013–14 36 8 8 4 9 1 2 0 55 13
Tổng cộng 96 28 23 9 27 4 5 1 151 42
Chelsea 2014–15 34 3 1 0 4 0 8 2 47 5
2015–16 37 5 3 0 0 0 7 1 1 0 48 6
Tổng cộng 71 8 4 0 4 0 15 3 1 0 94 11
Tổng cộng sự nghiệp 379 71 41 11 18 2 103 24 8 2 549 110

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 21 tháng 6 năm 2016[10]
Tây Ban Nha
Năm Trận Bàn
2006 14 0
2007 8 0
2008 15 1
2009 10 4
2010 10 1
2011 4 2
2012 13 3
2013 11 2
2014 8 0
2015 8 1
2016 9 2
Tổng cộng 110 15

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Score and Result lists Spain's goals first[10]
# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 10 tháng 6 năm 2008 Tivoli-Neu, Innsbruck, Áo  Nga 4–1 4–1 Euro 2008
2. 14 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Royal Bafokeng, Phokeng, Nam Phi  New Zealand 4–0 5–0 Confed Cup 2009
3. 9 tháng 9 năm 2009 Sân vận động Romano, Mérida, Tây Ban Nha  Estonia 1–0 3–0 Vòng loại World Cup 2010
4. 10 tháng 10 năm 2009 Sân vận động Cộng hòa, Yerevan, Armenia  Armenia 1–0 2–1 Vòng loại World Cup 2010
5. 18 tháng 9 năm 2009 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Áo 1–1 5–1 Giao hữu
6. 8 tháng 6 năm 2010 Sân vận động Nueva Condomina, Murcia, Tây Ban Nha  Ba Lan 4–0 6–0 Giao hữu
7. 2 tháng 9 năm 2011 AFG Arena, St Gallen, Thụy Sĩ  Chile 2–2 3–2 Giao hữu
8. 3–2
9. 10 tháng 6 năm 2012 PGE Arena Gdańsk, Gdańsk, Ba Lan  Ý 1–1 1–1 Euro 2012
10. 14 tháng 6 năm 2012 PGE Arena Gdańsk, Gdańsk, Ba Lan  Cộng hòa Ireland 4–0 4–0 Euro 2012
11. 15 tháng 8 năm 2012 Sân vận động Juan Ramón Loubriel, Bayamón, Puerto Rico  Puerto Rico 2–0 2–1 Giao hữu
12. 6 tháng 2 năm 2013 Sân vận động Quốc tế Khalifa, Doha, Qatar  Uruguay 1–0 3–1 Giao hữu
13. 8 tháng 6 năm 2013 Sân vận động Sun Life, Miami Gardens, Hoa Kỳ  Haiti 2–0 2–1 Giao hữu
14. 11 tháng 6 năm 2015 Sân vận động Reino de León, León, Tây Ban Nha  Costa Rica 2–1 2–1 Giao hữu
15. 1 tháng 6 năm 2016 Red Bull Arena, Salzburg, Áo  Hàn Quốc 2–0 6–1 Giao hữu

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch FA Cup: 2005
  • Vô địch Siêu cúp Anh (FA Community Shield): 2004
  • Á quân UEFA Champions League: 2006
  • Á quân Premier League: 2005
  • Á quân Cúp liên đoàn (Football League Cup): 2007, 2011
  • Á quân Siêu cúp Anh (FA Community Shield): 2005

FC Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch La Liga: 2013
  • Vô địch Cúp nhà vua (Copa del Rey): 2012
  • Vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 2011, 2013
  • Vô địch Siêu cúp châu Âu (UEFA Super Cup): 2011
  • Vô địch Cúp các câu lạc bộ thế giới (FIFA Club World Cup): 2011
  • Á quân La Liga: 2012, 2014
  • Á quân Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 2012
  • Á quân Cúp nhà vua (Copa del Rey): 2014

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch Cúp liên đoàn (Football League Cup): 2015
  • Vô địch Premier League: 2015

ĐT Tây Ban Nha (Spain)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch Cúp thế giới (FIFA World Cup): 2010
  • Vô địch Cúp châu Âu (UEFA European Championship): 2008, 2012
  • Á quân Cúp các Châu lục (Confederations Cup): 2013
  • Á quân Cúp thế giới U-17 (FIFA U-17 World Championship): 2003
  • Á quân Cúp châu Âu U-17 (UEFA European Under-17 Football Championship): 2004
  • Hang 3 Cúp các Châu lục (FIFA Confederations Cup): 2009

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Francesc Fàbregas i Soler - Spain”. WC2010Virgin. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ a ă Francesc Fabregas profile, ESPNsoccernet, accessed ngày 27 tháng 6 năm 2009. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “espn” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ PLAYER PROFILE, arsenal.com, truy cập 22 tháng 5 2007.
  4. ^ Hà Lan - Tây Ban Nha 0-1: Iniesta đưa "vua" châu Âu lên đỉnh thế giới Thể thao & Văn hóa
  5. ^ [1], www.Arsenal.com, truy cập 24 tháng 11 năm 2008.
  6. ^ .Trở lại sau bốn tháng chấn thương Fabregas thi đấu cực kì ấn tương. Tới cuối mùa giải đội trưởng của Arsenal là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất giúp đội bóng lọt vào tứ kết cúp C1. Injured Fabregas ruled out for 3-4 months, soccernet.espn.go.com, 23 tháng 12 năm 2008, truy cập 24 tháng 12 năm 2008.
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên stats
  8. ^ “Cesc Fàbregas Premier League Player Profile”. Premier League official website. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ Cesc Fàbregas tại Soccerway
  10. ^ a ă Cesc Fàbregas tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]