Thomas Müller
|
Müller trong màu áo đội tuyển Đức.
|
|||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Thomas Müller | ||||||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,86 m (6 ft 1 in) [1] | ||||||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Tiền vệ/Tiền đạo | ||||||||||||||||||||||||||
| Thông tin về CLB | |||||||||||||||||||||||||||
| CLB hiện nay | Bayern Munich | ||||||||||||||||||||||||||
| Số áo | 25 | ||||||||||||||||||||||||||
| CLB trẻ | |||||||||||||||||||||||||||
| 1993–2000 | TSV Pähl | ||||||||||||||||||||||||||
| 2000–2008 | Bayern Munich | ||||||||||||||||||||||||||
| CLB chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||||||
| Năm | CLB | Số trận† | (bàn thắng)† | ||||||||||||||||||||||||
| 2008–2009 | Bayern Munich II | 35 | (16) | ||||||||||||||||||||||||
| 2008– | Bayern Munich | 108 | (35) | ||||||||||||||||||||||||
| Đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||||||
| 2004–2005 | Đức U16 | 6 | (4) | ||||||||||||||||||||||||
| 2007 | Đức U19 | 1 | (0) | ||||||||||||||||||||||||
| 2008 | Đức U20 | 1 | (1) | ||||||||||||||||||||||||
| 2009–2010 | Đức U21 | 6 | (1) | ||||||||||||||||||||||||
| 2010– | Đức | 27 | (10) | ||||||||||||||||||||||||
|
Giải thưởng
|
|||||||||||||||||||||||||||
| * Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia và cập nhật ngày 15:21, 5 May 2012 (UTC)[3]. † Số trận khoác áo (số bàn thắng). |
|||||||||||||||||||||||||||
Thomas Müller (sinh ngày 13 tháng 9 năm 1989) là một cầu thủ bóng đá người Đức có vị trí sở trường là tiền vệ hay tiền đạo và hiện đầu quân cho Bayern Munich.
Mục lục |
Sự nghiệp [sửa]
Muller gia nhập FC Bayern Munich năm 2000 khi 10 tuổi, và đã thi đấu cho các lứa đội trẻ, rồi có trận ra mắt cho đội dự bị vào tháng 3 năm 2008, ở một trận đấu trong khuôn khổ Regionalliga gặp SpVgg Unterhaching. Anh ghi bàn đầu tiên và có hai lần nữa được ra sân ở mùa giải 2007-08, trước khi phải ngồi ngoài vì chấn thương.
Mùa giải tiếp đó, đội Bayern II được chơi ở giải hạng 3, và Muller chứng tỏ vai trò của mình với việc chơi 32 trên tổng số 38 trận, ghi 15 bàn, trở thành cầu thủ đứng thứ 5 trong số top ghi bàn. Anh cũng được chơi ở đội I, xuất hiện trong các trận giao hữu trước mùa giải, và có trận thi đấu đầy đủ đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 2008 ở Bundesliga gặp Hamburger SV. Anh có 3 lần nữa ra sân ở Bundesliga trong mùa giải đó, và có trận ra mắt ở Cúp C1 vào ngày 10 tháng 3 năm 2009, vào sân thay Bastian Schweinsteiger ở phút 72 trong trận thắng 7-1 trước Sporting Lisbon. Anh ghi bàn cuối cùng của Bayern và ấn định kết quả 12-1 tổng tỉ số.
Muller đã có tiếng nói quan trọng hơn trong đội hình I của Bayern ở phần đầu mùa giải 2009-10, vào tháng 8 năm 2009 anh được gọi vào đội tuyển U21 Đức lần đầu tiên, có trận ra mắt trong trận thắng 3-1 trước Thổ Nhĩ Kỳ.
Vào ngày 12 tháng 9 năm 2009, Muller vào sân từ ghế dự bị trong trận gặp Borussia Dortmund vào ghi 2 bàn trong chiến thắng 5-1. 3 ngày sau, Muller tiếp tục ghi bàn trong trận đấu ở Cúp C1 gặp Maccabi Haifa.
Vào tháng 10 năm 2009, việc được ra sân thường xuyên giúp Muller được gọi vào đội tuyển Đức bởi huấn luyện viên trưởng Joachim Löw[4][5][6], và tháng sau đó, anh được điền tiên vào đội hình dự trận gặp Bờ Biển Ngà, nhưng sau cái chết của Robert Enke, và trận đấu được huỷ bỏ, Muller được khuyên là nên về lại đội U-21 để chuẩn bị cho 2 trận đấu tiếp theo.
Tháng 6 năm 2010, Muller lên đường sang Nam Phi cùng các đồng đội tham gia giải vô địch bóng đá thế giới Fifa World Cup 2010 với tư cách là cầu thủ trẻ nhất khi anh mới 20 tuổi. Trận đấu đầu tiên với Australia, ở phút 68, Muller đã có riêng cho mình một bàn thắng sau khi tạo cơ hội cho đồng đội đánh thủng lưới Australia ở phút thứ 8. Tính đến trận tranh bán kết, Muller đã ghi thêm được 3 bàn nữa vào lưới Anh (2 bàn) và Argentina. Trận bán kết anh không được tham dự do đã bị 2 thẻ vàng. Tuy nhiên khi quay trở lại trong trận gặp Uruguay, anh đã chơi rất xuất sắc, ghi 1 bàn thắng và được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu. Kết thúc Worldcup 2010 anh đã dành 2 danh hiệu cao quý: Chiếc giày vàng (Vua phá lưới) với 5 bàn thắng và 3 đường kiến tạo trong 6 trận, Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất. Đó là phần thưởng xứng đáng nhất dành cho những gì anh đã cống hiến cho người hâm mộ. Anh chính là phát hiện lớn nhất tại kỳ Worldcup lần này.[7]
Thống kê [sửa]
Câu lạc bộ [sửa]
Tính đến 10 tháng 1 năm 2010
| Thành tích cấp CLB | Giải vô địch | Cúp quốc gia | Cúp châu lục | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mùa giải | CLB | Giải vô địch | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng | Ra sân | Bàn thắng |
| Đức | Giải vô địch | DFB-Pokal | Châu Âu | Tổng cộng | ||||||
| 2007-08 | Bayern Munich II | Regionalliga Süd | 3 | 1 | - | - | - | - | 3 | 1 |
| 2008–09 | 3rd Liga | 32 | 15 | - | - | - | - | 32 | 15 | |
| 2008–09 | Bayern Munich | Bundesliga | 4 | 0 | 0 | 0 | 1 | 1 | 5 | 1 |
| 2009–10 | 18 | 5 | 3 | 2 | 5 | 2 | 26 | 9 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 57 | 21 | 3 | 2 | 6 | 3 | 66 | 26 | ||
Danh hiệu [sửa]
Cấp câu lạc bộ [sửa]
Đội tuyển quốc gia [sửa]
- FIFA World Cup xếp thứ ba: 2010[8]
Danh hiệu cá nhân [sửa]
- Chiếc giày Vàng FIFA World Cup: 2010[9]
- Cầu thủ trẻ xuất sắc FIFA World Cup: 2010[10]
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm do tập chí World Soccer bình chọn: 2010[11]
Tham khảo [sửa]
- ^ “Thomas Müller Player Profile FC Bayern München AG”. Fcbayern.telekom.de. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2012.
- ^ “Thomas Müller – Player profile”. transfermarkt.de. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2010.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênfussballdaten - ^ “Löw bleibt - wenn alle bleiben”. Kicker sportmagazin (bằng German). 12 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009.
- ^ “DFB-Team trifft auf Drogba & Co.”. Kicker sportmagazin (bằng German). 20 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2009.
- ^ “Aaron Hunt wins Germany call-up after turning back on England”. The Guardian. 6 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2009.
- ^ http://thethaovanhoa.vn/129n20100712064357364t0/forlan-ngoan-muc-gianh-qua-bong-vang-world-cup-2010.htm Muller giành danh hiệu Chiếc giày vàng và Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất World Cup 2010
- ^ “Uruguay - Deutschland 2:3”. Kicker. 10 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Golden Boot”. FIFA. 11 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Muller crowned top youngster”. FIFA. 11 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010.
- ^ “Xavi voted World Soccer Player of the Year” (Thông cáo báo chí). World Soccer. 16/12/2010. Truy cập 17/12/2010.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Thomas Müller. |
- Profile at Transfermarkt.de (tiếng Đức)
- Career stats at Fussballdaten.de (tiếng Đức)
|
|||||
|
|||||