Châu Á
| Diện tích | 44,579,000 km2 (17,212,000 dặm vuông) |
|---|---|
| Dân số | 3,879,000,000 (1st)[1] |
| Mật độ dân số | 89/km2 (226/sq mi)] |
| Quốc gia | 47 (Danh sách quốc gia) |
| Phần phụ thuộc |
|
| Vùng không thừa nhận |
|
| Múi giờ | UTC+2 đến UTC+12 |
| Tên miền Internet | .asia |
| Thành phố lớn nhất |
|
Châu Á là châu lục lớn nhất và đông dân nhất thế giới nằm ở Bắc bán cầu và Đông bán cầu. Châu Á chiếm 8.6% tổng diện tích bề mặt Trái đất (chiếm 29.9% diện tích mặt đất) và có 4 tỉ người, chiếm 60% dân số hiện nay của thế giới.
Sự phân chia ranh giới giữa châu Á và châu Phi là eo đất Suez (mặc dù bán đảo Sinai, một phần của Ai Cập, nằm về phía đông của kênh đào này thông thường về mặt địa lý-chính trị được coi là một phần của châu Phi). Ranh giới giữa châu Á và châu Âu chạy qua eo biển Dardanelles, biển Marmara, eo biển Bosphorus, tới Biển Đen, dãy núi Kavkaz, Biển Caspi, dọc theo dãy núi Ural tới Biển Kara ở Kara, Nga.
Châu Á, khi được xem xét theo khía cạnh chính trị, bao gồm một phần của đại lục Á-Âu và các quần đảo gần kề trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và thông thường không bao gồm Nga. Một số quốc gia châu Á có lãnh thổ vượt ra ngoài châu Á.
Mục lục |
[sửa] Tên gọi
Danh xưng "châu Á" và "Á châu" trong tiếng Việt bắt nguồn từ dịch danh Trung văn của từ "Asia" là Á Tế Á châu (Trung văn phồn thể: 亞細亞洲; giản thể: 亚细亚洲), còn dịch là Á Tây Á châu (Trung văn phồn thể: 亞西亞洲; giản thể: 亚西亚洲), gọi tắt là Á châu (Trung văn phồn thể: 亞洲; giản thể: 亚洲). Từ "Asia" lại bắt nguồn từ từ từ tiếng Hy Lạp cổ đại Ασία (Asia; xem thêm Danh sách các địa chỉ truyền thống của người Hy Lạp), lần đầu tiên được chứng thực ở Herodotus, ở đó nó được nói đến như là Tiểu Á, hoặc trong các kết quả của các cuộc chiến tranh Ba Tư, đối với đế chế Ba Tư như là sự tương phản với Hy Lạp và Ai Cập. Homer đã biết đồng minh của người Troia (Tờ roa) có tên gọi là Asios, con trai của Hyrtacus, một người cai trị nhiều thành thị.
Thuật ngữ Hy Lạp có lẽ có từ Assuwa, liên minh của nhiều quốc gia vào thế kỷ 14 TCN ở Anatolia cổ đại. Trong tiếng Hittite assu- "tốt" có lẽ là một thành phần trong tên gọi này. Ngoài ra, ngôn từ cơ bản của thuật ngữ này có thể có nguồn gốc từ chữ asu trong tiếng Akkadian, nó có nghĩa là "đi ra ngoài" hay "mọc", ám chỉ tới hướng của Mặt Trời khi nó mọc ở Trung Đông. So sánh giả thiết này với giả thiết về ngôn từ học của châu Âu trong tiếng Semit erebu "lặn" có thể thấy lý do đặt tên của Châu Á và Châu Âu là sự tương phản với nhau, tương tự như các thuật ngữ orient và occident (tên gọi của Anatolia và Levant cũng là dấu hiệu của "mặt trời mọc"). Giả thiết này được viện dẫn nhiều, nhưng nó bị phản đối do thực tế là Anatolia ở Akkadian hoặc Semit nói chung không nằm ở phía đông
[sửa] Ranh giới
[sửa] Người Hy Lạp
Người Hy Lạp cổ đại đã phân định ranh giới rõ ràng giữa châu Âu và châu Á, là biển Aegea, Dardanelles, biển Marmara, Bosporus, biển Đen, eo biển Kerch, và biển Azov. Sông Nile đã từng được sử dụng làm ranh giới giữa châu Á và châu Phi (lúc đó được gọi là Libya), mặc dù một số nhà địa lý Hy Lạp đề nghị ranh giới này là biển Đỏ thì tốt hơn.[2]
[sửa] Châu Á - châu Đại Dương
Ranh giới giữa châu Á và châu Đại Dương được xem là thuộc quần đảo Malay. Thuật ngữ Đông Nam Á và châu Đại Dương được tách ra vào thế kỷ 19 do có sự khác biệt lớn về ý mặt địa lý. Đặc điểm chính để xác định các đảo nào của quần đảo Malay thuộc châu Á là vị trí của quá trình thuộc địa hóa của nhiều đế chế khác nhau tại đây (không phải hoàn toàn từ châu Âu). Lewis và Wigen viết rằng "sự thu hẹp của 'Đông Nam châu Á' đến ranh giới hiện tại đã diễn ra từ từ."[2]
[sửa] Địa lý
Châu Á tự nó được phân chia thành các bộ phận khu vực như sau:
- Bắc Á
- Trung Á
- Đông Á (hay Viễn Đông)
- Đông Nam Á
- Nam Á (hay tiểu lục địa Ấn Độ)
- Tây Nam Á (hay Tây Á)
[sửa] Bắc Á
Thuật ngữ này ít được các nhà địa lý sử dụng, và thông thường nó được nhắc đến để chỉ phần châu Á lớn hơn của Nga, còn được biết đến như là Siberi. Đôi khi các phần miền bắc của các quốc gia châu Á khác, như Kazakhstan cũng được tính vào Bắc Á.
[sửa] Trung Á (Trung Đông)
Không có sự nhất trí tuyệt đối trong sử dụng thuật ngữ này. Thông thường, Trung Á bao gồm:
- Các nước cộng hòa Trung Á như Kazakhstan (trừ phần nhỏ lãnh thổ thuộc châu Âu), Uzbekistan, Tajikistan, Turkmenistan và Kyrgyzstan.
- Afghanistan, Mông Cổ và các khu vực phía tây của Trung Quốc đôi khi cũng được tính trong khu vực này.
- Các nước cộng hòa Xô viết cũ nằm trong khu vực Caucasus.
Trung Á hiện nay là quan trọng về địa lý chính trị do các tranh chấp và mâu thuẫn quốc tế về các ống dẫn dầu, Nagorno-Karabakh và Chechnya cũng như là sự có mặt của quân đội Mỹ tại Afghanistan.
[sửa] Đông Bắc Á/Đông Á
Khu vực này bao gồm :
- Các quần đảo trên Thái Bình Dương của Đài Loan và Nhật Bản.
- Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc trên bán đảo Triều Tiên.
- Trung Quốc, nhưng đôi khi chỉ tính các khu vực miền đông.
[sửa] Đông Nam Á
Khu vực này bao gồm bán đảo Mã Lai, Bán đảo Trung-Ấn và các đảo trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các quốc gia nằm ở đây bao gồm:
- Ở Đông Nam Á đại lục có các quốc gia Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
- Ở Đông Nam Á đại dương có các quốc gia Malaysia, Brunei, Philippines, Singapore, Brunei và Indonesia (một phần của quần đảo Indonesia cũng nằm trong khu vực Melanesia của châu Đại Dương). Đông Timor (cũng thuộc Melanesia) đôi khi cũng được tính vào đây.
Nước Malaysia bị chia thành hai phần qua biển Đông và vì thế có cả hai phần: lục địa và hải đảo.
[sửa] Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ)
Nam Á còn được nói đến như là tiểu lục địa Ấn Độ. Nó bao gồm:
- Các quốc gia Himalaya gồm Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bhutan và Bangladesh.
- Các quốc gia Ấn Độ Dương gồm Sri Lanka và Maldives.
[sửa] Tây Nam Á (Tây Á)
Cũng được gọi là Trung Đông hay Trung Cận Đông. Trung Đông thông thường cũng được sử dụng để chỉ một số quốc gia ở Bắc Phi (trong một số diễn giải). Tây Nam Á có thể chia nhỏ thành:
- Anatolia (tức Tiểu Á), bao gồm phần châu Á của Thổ Nhĩ Kỳ.
- Quốc gia quần đảo Cyprus trong Địa Trung Hải.
- Levant hay Cận Đông bao gồm Syria, Israel, Jordan, Liban, Iraq và phần châu Á của Ai Cập.
- Bán đảo Ả Rập bao gồm Ả Rập Saudi, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Bahrain, Qatar, Oman, Yemen và thỉnh thoảng là cả Kuwait.
- Khu vực Kavkaz bao gồm Armenia, một phần nhỏ của Nga và gần như toàn bộ Gruzia và Azerbaijan.
- Cao nguyên Iran bao gồm Iran và các phần của các quốc gia lân cận.
[sửa] Kinh tế
Bài chính: Kinh tế châu Á
| Dân số: | 4.001 tỷ (2002) |
| GDP (PPP): | US$ 18.077 tỷ |
| GDP (tiền tệ): | $8.782 tỷ |
| GDP/đầu người (PPP): | $4.518 |
| GDP/đầu người (tiền tệ): | $2.195 |
| Tăng trưởng hàng năm GDP theo đầu người: |
Không rõ |
| Thu nhập của tốp 10%: | Không rõ |
| Triệu phú: | 2,0 triệu (0,05%) |
| Thất nghiệp | Không rõ |
| Thu nhập của nữ (ước tính) |
Không rõ |
| Phần lớn số liệu là của UNDP năm 2002, một số số liệu đã loại bỏ một số quốc gia nào đó vì thiếu thông tin. | |
| Xem thêm: Kinh tế thế giới - Kinh tế châu Phi - Kinh tế châu Á - Kinh tế châu Âu - Kinh tế Bắc Mỹ - Kinh tế Nam Mỹ - Kinh tế châu Đại Dương | |
Trong thuật ngữ của GDP theo PPP thì nền kinh tế lớn nhất châu Á là Trung Quốc, tuy nhiên nền kinh tế của Liên minh châu Âu (viết tắt EU, với một quốc gia của nó nằm ở châu Á là Síp), mới là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Địa vị của EU như là một thể chế siêu quốc gia, chứ không phải là một quốc gia thông thường, làm cho điều này nằm dưới câu hỏi; đặc biệt là khi so sánh đơn lẻ thì nền kinh tế của Síp là một trong những nền kinh tế nhỏ nhất ở cả EU và châu Á, và nó không lớn hơn nhiều lần so với nền kinh tế của Đông Timor, một quốc gia châu Á với nền kinh tế nhỏ nhất (mặc dù vào năm 2005 đã không có số liệu tin cậy cho cả Iraq và Bắc Triều Tiên). Trong những thập niên gần đây thì kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đã phát triển nhanh chóng, cả hai có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 6%. Theo GDP (PPP) thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới sau nền kinh tế của EU và Mỹ, tiếp theo là Nhật Bản và Ấn Độ với vị trí thứ tư và thứ năm (sau đó là các quốc gia trong EU: Đức, Anh Quốc, Pháp và Ý). Theo thuật ngữ của tỷ giá hối đoái thì Nhật Bản lại là nền kinh tế lớn nhất ở châu Á và là thứ ba trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nền kinh tế lớn của châu Á, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một trong những nước nghèo nhất.
Các khối thương mại:
- Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC)
- Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
- Thỏa thuận cộng tác kinh tế gần (CEPA)
- Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS/СНГ)
- Hiệp hội các nước Nam Á vì hợp tác khu vực (SAARC)
- Hiệp định tự do thương mại Nam Á (SAFTA) (dự thảo)
[sửa] Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Châu Á theo ranh giới (được cho là như thế) là lục địa lớn nhất thế giới và nó rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và sắt.
Với năng suất cao trong nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất lúa gạo, đã cho phép mật độ dân số cao của các quốc gia trong các khu vực nóng ẩm. Các sản phẩm nông nghiệp chính còn có lúa mì và thịt gà.
Lâm nghiệp cũng phát triển trong phạm vi rộng của châu Á, ngoại trừ khu vực Trung và Tây Nam Á. Nghề cá là một nguồn chủ yếu cung cấp thực phẩm ở châu Á, cụ thể là ở Nhật Bản.
[sửa] Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp ở châu Á theo truyền thống là mạnh nhất ở khu vực Đông và Đông Nam Á, cụ thể là ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Các ngành nghề công nghiệp dao động từ sản xuất các mặt hàng rẻ tiền như đồ chơi tới các mặt hàng công nghệ cao như máy tính và ô tô. Nhiều công ty ở châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản có các sự hợp tác đáng kể ở châu Á đang phát triển để tận dụng các lợi thế so sánh về sức lao động rẻ tiền.
Một trong các lĩnh vực chính của sản xuất công nghiệp ở châu Á là công nghiệp may mặc. Phần lớn việc cung cấp quần áo và giày dép hiện nay của thế giới có nguồn gốc từ Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.
[sửa] Tài chính và các dịch vụ khác
Châu Á có 3 trung tâm tài chính lớn. Chúng nằm ở Hồng Kông, Singapore và Tokyo. Các trung tâm mới nổi ở Ấn Độ hay Trung Quốc là do sự bùng nổ về sản xuất công nghiệp theo hình thức gia công ở các quốc gia này cũng như sự có được của nhiều người trẻ có học vấn cao và nói tiếng Anh tốt.
[sửa] Lịch sử sơ kỳ
Bài chính: Lịch sử châu Á
Lịch sử châu Á có thể được xem xét như là các lịch sử riêng biệt của một số vùng ngoại biên ven biển như Đông Á, Nam Á và Trung Đông được liên kết bằng các vùng thảo nguyên Á-Âu lớn bên trong.
Những vùng ngoại biên ven biển có thể coi như là quê hương của các nền văn minh, với mỗi nền văn minh trong ba khu vực này đã phát triển rất sớm quanh lưu vực các con sông màu mỡ. Các nền văn minh ở Lưỡng Hà, lưu vực sông Ấn và Trường Giang chia sẻ nhiều điểm tương đồng và có lẽ đã trao đổi với nhau các ý tưởng và công nghệ chẳng hạn như toán học và bánh xe. Các khái niệm khác như khái niệm về chữ viết có lẽ đã phát triển riêng biệt trong từng khu vực. Các thành thị, nhà nước và đế chế đã phát triển trong các vùng đất thấp này.
Khu vực thảo nguyên đã có thời gian dài là nơi sinh sống của các bộ lạc dư cư miền núi, và từ các thảo nguyên trung tâm thì họ có thể đi tới tất cả các khu vực khác của châu Á. Sự mở rộng như thế ra ngoài các thảo nguyên sớm nhất được biết là của người Ấn-Âu, những người đã truyền bá ngôn ngữ của mình tới Trung Đông, Ấn Độ và tới người Tochari ở biên giới Trung Quốc. Phần phía bắc của châu Á, phần lớn là vùng Siberi, đã là không thể đi tới được đối với những người dân du mục vùng thảo nguyên do mật độ dày của rừng cũng như các lãnh nguyên. Các khu vực này có rất ít dân cư.
Khu vực trung tâm và ngoại biên đã bị cách biệt là do các dãy núi và các sa mạc. Các dãy núi như dãy Kavkaz, dãy Himalaya hay sa mạc Karakum và sa mạc Gobi tạo ra các cản trở chính làm cho những kỵ binh du mục rất khó khăn trong việc vượt qua chúng. Về mặt kỹ thuật và văn hóa thì những người sống ở các khu vực đồng bằng và đô thị là có ưu thế hơn nhưng về quân sự thì họ làm được ít hơn để bảo vệ khu vực sinh sống và chống lại các bộ lạc du cư miền núi. Tuy nhiên, các vùng đất thấp có rất ít đồng cỏ để duy trì một lượng lớn ngựa. Vì thế các bộ lạc đã xâm lăng các quốc gia ở Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông khi đó đã sớm phải học cách làm quen với sinh hoạt của cộng đồng địa phương.
Toàn bộ Ai Cập, Nga, Kazakhstan, Gruzia, Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ được nói đến trong bảng này, mặc dù các nước này chỉ có một phần nằm ở châu Á.
[sửa] Các quốc gia và vùng lãnh thổ
| Lịch sử dân số | ||
|---|---|---|
| Năm | Dân số | %± |
| 1500 | 243.000.000 | — |
| 1700 | 436.000.000 | 79.4% |
| 1900 | 947.000.000 | 117.2% |
| 1950 | 1.402.000.000 | 48.0% |
| 1999 | 3.634.000.000 | 159.2% |
| Nguồn: "UN report 2004 data" (PDF). | ||
| Tên vùng[3] và lãnh thổ cùng quốc kỳ |
Diện tích (km²) |
Dân số (Thống kê 1 tháng 7, 2008) |
Mật độ dân số (theo km²) |
Thủ đô |
|---|---|---|---|---|
| Trung Á: | ||||
| 2.724.927 | 15.666.533 | 5,7 | Astana | |
| 198.500 | 5.356.869 | 24,3 | Bishkek | |
| 143.100 | 7.211.884 | 47,0 | Dushanbe | |
| 488.100 | 5.179.573 | 9,6 | Ashgabat | |
| 447.400 | 28.268.441 | 57,1 | Tashkent | |
| Đông Á: | ||||
| 377.835 | 127.288.628 | 336,1 | Tokyo | |
| 1.565.000 | 2.996.082 | 1,7 | Ulaanbaatar | |
| 120.540 | 23.479.095 | 184,4 | Bình Nhưỡng | |
| 9.640.821 | 1.322.044.605 | 134,0 | Bắc Kinh | |
| 35.980 | 22.920.946 | 626,7 | Đài Bắc | |
| 98.480 | 49.232.844 | 490,7 | Seoul | |
| Bắc Á: | ||||
| 17.075.400 | 142.200.000 | 26,8 | Moskva | |
| Đông Nam Á:[8] | ||||
| 5.770 | 381.371 | 66,1 | Bandar Seri Begawan | |
| 676.578 | 47.758.224 | 70,3 | Naypyidaw[9] | |
| 181.035 | 13.388.910 | 74 | Phnôm Pênh | |
| 15.007 | 1.108.777 | 73,8 | Dili | |
| 1.919.440 | 230.512.000 | 120,1 | Jakarta | |
| 236.800 | 6.677.534 | 28,2 | Viêng Chăn | |
| 329.847 | 27.780.000 | 84,2 | Kuala Lumpur | |
| 300.000 | 92.681.453 | 308,9 | Manila | |
| 704 | 4.608.167 | 6.545,7 | Singapore | |
| 514.000 | 65.493.298 | 127,4 | Bangkok | |
| 331.690 | 86.116.559 | 259,6 | Hà Nội | |
| Nam Á: | ||||
| 647.500 | 32.738.775 | 42,9 | Kabul | |
| 147.570 | 153.546.901 | 1040,5 | Dhaka | |
| 38.394 | 682.321 | 17,8 | Thimphu | |
| 3.287.263 | 1.147.995.226 | 349,2 | New Delhi | |
| 300 | 379.174 | 1.263,3 | Malé | |
| 147.181 | 29.519.114 | 200,5 | Kathmandu | |
| 803.940 | 167.762.049 | 208,7 | Islamabad | |
| 65.610 | 21.128.773 | 322,0 | Sri Jayawardenepura Kotte | |
| Tây Á: | ||||
| Yerevan | ||||
| 86.660 | 8.845.127 | 102,736 | Baku | |
| 665 | 718.306 | 987,1 | Manama | |
| 9.250 | 792.604 | 83,9 | Nicosia | |
| 64,06 | Tbilisi | |||
| 437.072 | 28.221.181 | 54,9 | Baghdad | |
| 1.648.195 | 70.472.846 | 42,8 | Tehran | |
| 20.770 | 7.112.359 | 290,3 | Jerusalem[18] | |
| 92.300 | 6.198.677 | 57,5 | Amman | |
| 17.820 | 2.596.561 | 118,5 | Thành phố Kuwait | |
| 10.452 | 3.971.941 | 353,6 | Beirut | |
| 212.460 | 3.311.640 | 12,8 | Muscat | |
| 6.257 | 4.277.000 | 683,5 | Ramallah | |
| 11.437 | 928.635 | 69,4 | Doha | |
| 1.960.582 | 23.513.330 | 12,0 | Riyadh | |
| 185.180 | 19.747.586 | 92,6 | Damas | |
| Ankara | ||||
| 82.880 | 4.621.399 | 29,5 | Abu Dhabi | |
| 527.970 | 23.013.376 | 35,4 | Sanaá | |
| Tổng cộng | 43.810,582 | 4.162.966.086 | 89,07 | |
- Ghi chú: Một phần của Ai Cập (Bán đảo Sinai) thuộc về Tây Á về mặt địa lý.
[sửa] Tôn giáo
Phần lớn dân số thế giới theo các niềm tin tôn giáo khởi nguồn từ châu Á.
Các tôn giáo lớn trên thế giới hầu hết đều khởi nguồn từ châu Á và với phần lớn những người theo ngày nay đang sống ở châu Á bao gồm:
- Baha'i giáo, khởi nguồn ở Israel vào giữa thế kỷ 19.
- Phật giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Ấn giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ cách đây hơn 3500 năm.
- Hồi giáo, khởi nguồn ở Ả Rập Xê Út vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên.
- Jaina giáo, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Đạo Shinto, khởi nguồn ở Nhật Bản trước Công nguyên.
- Đạo Sikh, khởi nguồn ở Ấn Độ vào thế kỷ 15.
- Nho giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 6 TCN.
- Đạo giáo, khởi nguồn ở Trung Quốc vàothế kỷ thứ 5 hoặc thế kỷ thứ 6 TCN.
- Hỏa giáo, khởi nguồn ở Iran cách đây hơn 1000 năm trước Công Nguyên.
- Cao Đài giáo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1926 của thế kỷ 20.
- Đạo Hòa Hảo, khởi nguồn ở Việt Nam vào năm 1939 của thế kỷ 20 và được xem là một nhánh của Tịnh Độ tông, Việt Nam.
- Kitô giáo, khởi nguồn ở Israel vào năm 500 CN. Sau này Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương và Kháng Cách.
- Do Thái giáo, khởi nguồn ở Israel khoảng năm 2000 trước Công nguyên.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tham khảo
- ^ List of continents by population
- ^ a b Lewis & Wigen 1997, tr. 170–173
- ^ Continental regions as per UN categorisations (map), except 12. Depending on definitions, various territories cited below (notes 6, 11-13, 15, 17-19, 21-23) may be in one or both of Asia and Europe, Africa, or Oceania.
- ^ Kazakhstan đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Trung Á và Đông Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á.
- ^ "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" thường được gọi một cách vắn tắt là "Trung Quốc". Số liệu chỉ tính Trung Quốc đại lục, không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan.
- ^ Số liệu cho khu vực nằm dưới quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Hoa Dân Quốc, thường được gọi là Đài Loan
- ^ Russia được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Âu và Bắc Á; số liệu dân số và diện tích tính trên bình diện cả nước.
- ^ Không tính Đảo Christmas và Quần đảo Cocos (Keeling)
- ^ Thủ đô hành chính của Myanma chính thức chuyển từ Yangon (Rangoon) tời một khu vực phía tây Pyinmana vào năm 2005.
- ^ General Population Census of Cambodia 2008 - Provisional population totals, National Institute of Statistics, Ministry of Planning, released 3rd September, 2008
- ^ Đông Timor được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Đông Nam Á và châu Đại Dương.
- ^ Indonesia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Đông Nam Á và châu Đại Dương; số liệu không bao gồm Irian Jaya và quần đảo Maluku, thường được liệt là thuộc châu Đại Dương (Melanesia/Australasia).
- ^ Bao gồm Jammu and Kashmir, lãnh thổ tranh cãi giữa Ấn Độ, Pakistan, và Trung Quốc.
- ^ Armenia đôi khi được coi là một quốc gia xuyên lục địa: về mặt địa lý thuộc Tây Á, song có liên kết về lịch sử và chính trị-xã hội với châu Âu.
- ^ Azerbaijan thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa giữa Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á. Số liệu bao gồm cả Nakhchivan, một lãnh thổ bị tách rời của Azerbaijan giáp với Armenia, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.
- ^ Hòn đảo Cyprus đôi khi được coi là một lãnh thổ xuyên lục địa. Nằm ở Đông Địa Trung Hải, phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, phía bắc củaSinai, và phía tây của Liban và Syria, có một số liên kết xã hội-chính trị với châu Âu. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc coi Síp thuộc Tây Á, trong khi CIA xem quốc đảo thuộc vùng Trung Đông.
- ^ Gruzia thường được coi là một quốc gia xuyên lục địa tại Tây Á và Đông Âu; số liệu dân số và diện tích chỉ tính phần thuộc châu Á.
- ^ Năm 1980, Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của nước Israel thống nhất, sau sự thôn tính của nước này với khu vực do người Ả Rập chiếm ưu thế tại Đông Jerusalem trong Chiến tranh Sáu ngày 1967. Liên Hiệp Quốc và nhiều quốc gia khác không công nhận điều này, hầu hết các nước duy trì đại sứ quán tại Tel Aviv.
- ^ Thổ Nhĩ Kỳ thường được coi là một quốc ia xuyên đại lục tại Tây Á và Nam Âu; số liệu diện tích và dân số chỉ tính phần thuộc châu Á, không bao gồm tỉnh Istanbul.
[sửa] Tài liệu
- Bản mẫu:Ciation
- Ventris, Michael; Chadwick, John (1973). Documents in Mycenaean Greek (ấn bản 2nd). Cambridge: University Press.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Châu Á. |
- Các bản đồ châu Á
- Du Lich chau a
- Bản đồ tự do
- Allo' Expat
- (tiếng Đức) Asia zone
|
||||||||