Arsenal F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Arsenal F.C)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arsenal
Arsenal FC.svg
Tên đầy đủ Câu lạc bộ bóng đá Arsenal
Biệt danh Pháo thủ
Thành lập 1886 với tên Dial Square
Sân vận động Highbury
(1913–2006)
Sân vận động Emirates
(2006–hiện tại)
Sức chứa 60.338[nb 1][1]
Chủ sở hữu Arsenal Holdings plc
Chủ tịch Sir Chips Keswick
Huấn luyện viên Arsène Wenger
Giải đấu Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
2014–15 Ngoại hạng Anh, đứng thứ 3
Web arsenal.com
Sân nhà
Sân khách
Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Arsenal, còn được biết đến với biệt danh Pháo thủ là một câu lạc bộ bóng đá lớn tại Anh có trụ sở ở Holloway, Luân Đôn. Đây là một trong những câu lạc bộ thành công nhất của bóng đá Anh. Họ đã giành được tổng cộng 13 danh hiệu vô địch giải bóng đá hạng cao nhất của nước Anh; đạt kỷ lục 12 danh hiệu cúp FA.

Được thành lập vào năm 1886, Arsenal trở thành câu lạc bộ đầu tiên ở miền Nam nước Anh tham gia Football League vào năm 1893. Họ đã giành được năm chức vô địch hạng cao nhất[nb 2] và hai danh hiệu cúp FA vào thập niên 1930. Năm 1971, Arsenal đã có lần đầu tiên đoạt được cú đúp chức vô địch quốc gia và cúp FA. Trong các thập niên 1990 và 2000, Arsenal giành được hai cú đúp danh hiệu giải vô địch quốc gia và cúp FA; cùng với đó là mùa giải 2003-04 bất bại. Năm 2006, Arsenal có lần đầu tiên lọt đến một trận chung kết UEFA Champions League, và trở thành câu lạc bộ đầu tiên tại Luân Đôn làm được điều này.

Arsenal có màu sắc áo đấu truyền thống là đỏ và trắng. Được thành lập tại Woolwich ở phía đông nam Luân Đôn, năm 1913, đội bóng chuyển về phía bắc, lấy sân vận động Highbury làm sân nhà và thi đấu tại đó trong suốt 93 năm. Năm 2006, đội bóng chuyển đến sân vận động Emirates và lấy đó làm sân nhà cho đến nay. Arsenal là câu lạc bộ kình địch với đội bóng cùng khu vực Tottenham Hotspur, và các trận bóng giữa hai đội được xem là trận Derby Bắc Luân Đôn.

Arsenal là một trong số những đội bóng có thu nhập cao nhất và lượng người hâm mộ cao nhất trên thế giới.[2][3] Năm 2014, Arsenal được xếp là câu lạc bộ thứ năm trong số những câu lạc bộ bóng đá có tổng giá trị tài sản cao nhất thế giới, với trên 1,3 tỷ USD.[4]

Lịch sử

Woolwich Arsenal (áo sơ mi đen) đấu với Newcastle United trong một trận bán kết FA Cup tại Victoria Ground, Stoke.

Năm 1886, một nhóm công nhân của Royal Arsenal, nhà máy sản xuất đạn dược lớn tại Woolwich đã thành lập ra một đội bóng đá lấy tên là Dial Square; ngay sau đó được đổi tên thành Royal Arsenal.[5] Năm 1893, đội bóng đổi tên thành Woolwich Arsenal sau khi trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn.[6] Cùng năm này, Woolwich Arsenal trở thành đội bóng đầu tiên ở khu vực phía Nam tham dự Football League, bắt đầu từ giải hạng hai, thăng hạng nhất lần đầu vào năm 1904. Do vị trí địa lý không phù hợp nên đội bóng có rất ít khán giả so với các câu lạc bộ khác. Vì thế, năm 1910, công ty sở hữu câu lạc bộ lâm vào khó khăn và phá sản, nhưng đó cũng là lúc mà tỷ phú Henry Norris và doanh nhân William Hall đến với câu lạc bộ.[7] Ông bắt đầu tìm cách di chuyển vị trí và trụ sở đội bóng. Năm 1913, sau khi bị rớt xuống hạng hai, đội bóng vượt sông Thames di chuyển lên phía bắc Luân Đôn, lấy sân vận động Highbury làm sân nhà, chính thức lấy tên câu lạc bộ là Arsenal.[8] Arsenal chỉ đứng thứ năm trong mùa giải hạng nhì trước khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Sau khi chiến tranh kết thúc, trong một cuộc bầu cử, đội bóng được lên hạng Nhất lại bắt đầu từ mùa bóng 1919-1920, từ suất của đội bóng cùng thành phố Tottenham. Một số sách cho rằng kết cuộc bầu cử để chia lại suất chơi hạng nhất này có ý nghĩa mập mờ. Từ đó, mầm mống cho sự kình địch giữa Arsenal và Tottenham bắt đầu xuất hiện.[9] Kể từ mùa giải này, Arsenal là đội bóng bám trụ lâu nhất trong lịch sử giải đấu hạng cao nhất nước Anh.[10]

Năm 1925, Arsenal bổ nhiệm Herbert Chapman làm huấn luyện viên trưởng. Sau khi dẫn dắt Huddersfield Town giành chức vô địch quốc gia 1923-24 và 1924-25, Chapman đã đưa Arsenal bước vào giai đoạn đầu tiên của sự thành công lớn. Với cách huấn luyện đúng đắn, cùng với những bản hợp đồng với các cầu thủ ngôi sao như Alex James và Cliff Bastin, ông đã đặt nền tảng cho sự thống trị của Arsenal trong nền bóng đá Anh vào những năm 1930.[11] Dưới sự dẫn dắt của Chapman, Arsenal đã giành được chức vô địch giải đấu lớn đầu tiên - đó là một chiếc cúp FA vào năm 1930; và sau đó là hai chức vô địch quốc gia vào mùa bóng 1930-31 và 1932-33. Nhờ ông, năm 1932, nhà ga tàu điện ngầm Gillespie Road được đổi tên thành Arsenal, đó là trường hợp đặc biệt khi một nhà ga mang tên câu lạc bộ bóng đá.[12]

Biểu đồ thành tích của Arsenal kể từ mùa bóng 1893-94

Chapman bị chứng viêm phổi và đột ngột qua đời năm 1934. Sau đó, Joe Shaw và George Allison tiếp tục công việc của Chapman rất thành công. Dưới sự huấn luyện của họ, Arsenal đã thêm ba chức vô địch quốc gia, 1933-1934, 1934-1935 và 1937-1938; và chiếc cúp FA 1936, trong khi họ cũng được biết đến như là "Chảo lửa của các câu lạc bộ Anh". Về cuối thập kỷ, một loạt cầu thủ chủ chốt bắt đầu dừng thi đấu do ảnh hưởng từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, và tiếng tăm của Arsenal phần nào bị lu mờ do bóng đá Anh nghỉ thi đấu.[13][14]

Sau chiến tranh, Arsenal có khoảng thời gian thành công thứ hai cùng với huấn luyện viên Tom Whittaker khi giành hai chức vô địch quốc gia 1947-48 và 1952-53 cùng một cúp FA mùa giải 1949–50. Sau năm 1953, Arsenal bắt đầu thi đấu sa sút dần và không còn thu hút cầu thủ như những năm 1930. Câu lạc bộ đã có hai thập kỷ 1950 và 1960 chỉ là một đội bóng hạng trung. Ngay cả cựu đội trưởng tuyển Anh Billy Wright không thể mang lại cho câu lạc bộ có được danh hiệu nào với chức danh huấn luyện viên trưởng, trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1966.[15][16]

Năm 1966, Arsenal bổ nhiệm Bertie Mee làm huấn luyện viên trưởng. Sau khi thua hai trận chung kết League Cup, người đàn ông từng là một nhà vật lý trị liệu này đã giúp Arsenal giành chiếc cúp châu Âu đầu tiên, Inter-Cities Fairs Cup vào mùa bóng 1969-70. Mùa bóng sau đó Arsenal đã có cú đúp danh hiệu đầu tiên trong lịch sử: giành chức vô địch quốc gia và FA Cup.[17][18] Điều này đánh dấu một mốc son chói lọi của Arsenal trong đầu thập kỷ; mùa giải sau đó, Arsenal chỉ về nhì FA Cup[19] và chỉ đứng thứ hai ở giải vô địch quốc gia vào năm 1973.[20]

Sau mùa bóng 1975-76, Bertie Mee từ chức. Terry Neill được ban lãnh đạo Arsenal bổ nhiệm vào vị trí huấn luyện viên trưởng vào ngày 9 tháng 7 năm 1976 khi mới 34 tuổi, và trở thành huấn luyện viên trẻ nhất của Arsenal cho đến nay. Với các bản hợp đồng được ký với các cầu thủ Malcolm Macdonald và Pat Jennings, và các tài năng trẻ như Liam Brady và Frank Stapleton, đội bóng lại đi đến những thành công kể từ năm 1971. Họ liên tiếp lọt vào các trận chung kết FA Cup vào các năm 1978, 1979 và 1980; trong đó họ giành được một chức vô địch FA sau trận chung kết kịch tính thắng Manchester United 3-2 năm 1979. Mùa bóng sau đó, họ giành vị trí á quân European Cup Winners' Cup, để thua trên chấm penalty.[21][22]

Sự trở lại của cựu cầu thủ George Graham trên cương vị huấn luyện viên vào năm 1986 đã đem đến giai đoạn phục hưng thứ ba cho câu lạc bộ. Arsenal đoạt League Cup vào năm 1987, mùa bóng đầu tiên mà Graham dẫn dắt đội bóng. Mùa giải 1988-89, Arsenal giành chức vô địch quốc gia sau trận thắng một cách nghẹt thở trước Liverpool với bàn thắng ở phút cuối cùng. Với duy nhất một trận thua, họ đã bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia mùa bóng sau đó. Arsenal cũng đã giành cú đúp danh hiệu FA Cup và League Cup vào mùa bóng 1992-93. Họ đã giành chiếc cúp thứ hai trên đấu trường châu Âu vào năm 1994, với danh hiệu UEFA Cup Winner's Cup, khi thắng Parma F.C. trong trận chung kết với bàn thắng duy nhất của Alan Martin Smith.[21][23] Uy tín của Graham đã bị lu mờ khi dính vào một số bê bối trong chuyển nhượng cầu thủ. [24] Graham bị sa thải năm 1995, mặc dù đem đến nhiều thành công cho câu lạc bộ. Người kế tiếp Graham, Bruce Rioch, chỉ huấn luyện một mùa, rời câu lạc bộ sau một bất đồng với ban lãnh đạo.[25][26]

Các cầu thủ và cổ động viên Arsenal diễu hành ăn mừng chức vô địch năm 2004

Vào những năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Arsenal đã có những thành công lớn mà một phần bởi quyết định ký hợp đồng với huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ, Arsène Wenger từ ban lãnh đạo Arsenal vào ngày 30 tháng 9 năm 1996.[27] Wenger đã có những thay đổi táo bạo trong chiến thuật, chế độ ăn uống, cách huấn luyện và chính sách chuyển nhượng. Ông đã đưa một số cầu thủ nước ngoài vào thi đấu cũng như đào tạo các cầu thủ trẻ người Anh. Arsenal đoạt cú đúp Ngoại hạng Anh và cúp FA mùa giải 1997-98; cùng với cú ăn ba mùa giải 2001-02. Ngoài ra, câu lạc bộ đạt đến trận chung kết của UEFA Cup 1999-2000 (thua sau loạt đá luân lưu 11m trước Galatasaray) và đoạt cúp FA năm 2003, 2005. Đặc biệt là chức vô địch giải bóng đá Ngoại hạng Anh mùa bóng 2003-04 với toàn bộ 38 trận bất bại (trong đó có 26 trận thắng, 12 trận hòa);[28] từ đó các cổ động viên đặt cho họ biệt danh The Invincibles.[29] Đó là một phần trong chuỗi 49 trận bất bại của Arsenal tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh kể từ ngày 7 tháng 5 năm 2003 đến ngày 24 tháng 10 năm 2004,[30] một kỷ lục của bóng đá Anh.[31]

Cũng trong năm 2002, Arsenal đã tham gia vào nhóm G-14 - đại diện quyền lợi cho những câu lạc bộ, Hiệp hội bóng đá khác nhau tại châu Âu trước Liên đoàn Bóng đá châu Âu (UEFA) và Liên đoàn Bóng đá Thế giới (FIFA). Năm 2008, nhóm G-14 này giải thể để thành lập Hiệp hội các Câu lạc bộ Châu Âu (ECA).

Trận chung kết Champions League năm 2006 với FC Barcelona, giúp Arsenal trở thành đội bóng Luân Đôn đầu tiên lọt vào một trận chung kết cúp C1

Arsenal đã giành được vị trí thứ nhất hoặc thứ nhì ở tám trong trong mười một mùa giải đầu tiên của Wenger ở câu lạc bộ, tuy nhiên ở các mùa giải tiếp sau họ đã không thể hoàn thành được điều này. Vào tháng 7 năm 2013, họ là một trong năm đội, với các đội khác là Manchester United, Blackburn Rovers, Chelsea và Manchester City, đã vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh kể từ khi thành lập vào năm 1992.[32] Arsenal chưa bao giờ tiến xa hơn vòng tứ kết của UEFA Champions League cho đến mùa bóng 2005-06; mùa giải mà họ trở thành đội bóng đầu tiên đến từ London trong lịch sử năm mươi năm của giải đấu lọt đến trận chung kết, và họ bị thua 2-1 trước Barcelona.[33][34] Vào tháng 7 năm 2006, họ chuyển đến sân Emirates, sau 93 năm thi đấu trên sân Highbury.[35][36]

Họ vào đến 2 trận chung kết cúp Liên đoàn năm 2007 và 2011, nhưng đều thua với tỷ số 2-1 trước Chelsea[37] và Birmingham.[38][39] Arsenal trải qua chuỗi tám năm không có danh hiệu kể từ năm 2005 cho đến ngày 17 tháng 5 năm 2014, khi đánh bại Hull City trong trận chung kết cúp FA, từ việc bị dẫn 2-0 để rồi lội ngược dòng đánh bại Hull với tỷ số 3-2.[40] Ngày 10 tháng 8 năm 2014, Arsenal đánh bại Manchester City 3-0 trong trận Siêu cúp Anh 2014.[41] Chín tháng sau khi giành Siêu cúp Anh 2014, Arsenal đã xuất hiện trong trận chung kết FA Cup năm thứ hai liên tiếp, và họ đã bảo vệ thành công chức vô địch khi đánh bại Aston Villa 4-0 trong trận chung kết vào ngày 30 tháng 5 năm 2015 và trở thành câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử giải đấu với 12 danh hiệu.[42] Ngày 2 tháng 8 năm 2015, Arsenal đánh bại Chelsea 1-0 trên sân vận động Wembley để giành Siêu cúp Anh 2015, danh hiệu siêu cúp thứ 14 trong lịch sử của họ.[43][44]

Biểu tượng của Arsenal vào năm 1888

Vào năm 1888, chỉ sau hai năm thành lập câu lạc bộ, Arsenal khi đó với cái tên là Royal Arsenal đã chọn cho mình biểu tượng, gồm 3 cột tượng trưng cho những khẩu pháo thần công hướng về phía bắc, tương tự như các huy hiệu của Khu Metropolitan vùng Woolwich (ngày nay, nó trở thành các huy hiệu của khu Greenwich tại Luân Đôn). Đôi khi, biểu tượng có thể bị nhầm lẫn với những ống khói, nhưng với hình ảnh đầu một con sư tử được chạm khắc, và với một cascabel[nb 3] được đặt trên đó để trở thành biểu tượng của đội bóng.[45] Nó đã được bỏ bớt sau khi chuyển tới sân Highbury vào năm 1913 và được khôi phục năm 1922, khi câu lạc bộ chọn biểu tượng gồm 1 một khẩu thần công hướng về phía đông, kèm theo biệt danh của câu lạc bộ, The Gunners (Pháo thủ), được đính vào đó. Biểu tượng này chỉ được sử dụng đến năm 1925, khi Arsenal đổi biểu tượng thành hình với khẩu pháo nhỏ hơn, hướng về phía tây với dòng chữ "The Gunners" được khắc bên cạnh.[45]

Năm 1949, câu lạc bộ đã đóng một biểu tượng mới, với khẩu pháo được đặt ở dưới tên câu lạc bộ, viền màu đen, trên biểu tượng của Khu Metropolitan của Islington, ở dưới vẽ một dải băng viết theo tiếng Latin: Victoria Concordia Crescit (tiếng Việt: Chiến thắng đến từ sự hài hoà). Nó được thiết kế bởi một biên tập viên của đội bóng, Harry Homer.[45] Lần đầu tiên, biểu tượng được kết hợp bởi màu sắc, sau đó có thay đổi chút ít do hoàn cảnh lúc đó, rồi rút gọn chỉ còn ba màu: đỏ, vàng, xanh lá cây. Vì có nhiều phiên bản khác của biểu tượng, Arsenal đã bất lực trong việc mua bản quyền của nó. Mặc dù đội bóng đã đăng ký biểu tượng như một nhãn hiệu, nhưng họ phải cạnh tranh (cuối cùng thắng) trong một cuộc chiến pháp lý về vấn đề bản quyền với một hãng buôn đường phố ở địa phương, và là nơi "không chính thức" bán các mặt hàng từ Arsenal,[46] từ đó thì Arsenal mới thành công trong việc bảo hộ bản quyền pháp lý của biểu tượng. Do đó, năm 2002, Arsenal đã giới thiệu một biểu tượng mới, với các đường cong đẹp và hiện đại hơn nhưng với một phong cách đơn giản, được bảo hộ bản quyền.[47] Khẩu pháo hướng về phía Đông, tên của đội bóng được viết bằng kiểu chữ sans-serif ở phía trên của khẩu pháo. Màu xanh lá cây đã được thay thế bằng màu xanh đậm. Biểu tượng mới đã bị một số người hâm mộ chỉ trích. Hội cổ động viên của Arsenal đã lên tiếng rằng, câu lạc bộ đã bỏ qua nhiều các thiết kế về lịch sử và truyền thống câu lạc bộ, thay bằng một thiết kế mới mẻ và hiện đại, tuy nhiên chưa tham khảo ý kiến người hâm mộ.[48]

Đến những năm 1960, hình vẽ biểu tượng câu lạc bộ được gắn trên áo đấu để tham dự các trận đấu lớn như chung kết cúp FA, thường là hình thức lồng tên câu lạc bộ với màu đỏ trên nền trắng.[49]

Các kiểu chữ viết lồng nhau được viết theo phong cách Art-Deco, các chữ A và C trên hình vẽ biểu tượng được bố trí theo kiểu cách bóng đá hơn chữ F, tất cả được đặt trong một bộ khung hình lục giác. Ví dụ, đầu tiên đây là một logo của một tổ chức, sau đó được giới thiệu như một phần trong thương hiệu trước đây của Herbert Chapman tại câu lạc bộ vào những năm 1930, mặc dù chưa được sử dụng trên áo đấu trong trận chung kết cúp FA nhưng lại là một chi tiết trong thiết kế sân Highbury, bao gồm các lối vào chính và trong việc ốp lát nền các tầng.[50] Từ năm 1967, trên áo đấu thường xuyên xuất hiện hình vẽ khảu pháo trắng, cho đến khi được thay thế bởi biểu tượng câu lạc bộ, đôi khi có thêm biệt danh "The Gunners", trong những năm 1990.[49]

Biểu tượng kỷ niệm 125 năm thành lập đội bóng

Mùa bóng 2011-12, Arsenal kỷ niệm 125 năm thành lập câu lạc bộ. Nhân dịp này, đội bóng cho thiết kế một biểu tượng mới, được đính kèm trên áo đấu của họ để thi đấu trong suốt cả mùa giải. Biểu tượng hầu hết có màu trắng, xung quanh bao gồm 15 lá cây sồi ở bên phải và 15 lá nguyệt quế ở bên trái. Những chiếc lá sồi biểu thị cho 15 thành viên cũ được tìm thấy của câu lạc bộ đã gặp nhau ở quán rượu Royal Oak. Còn 15 lá nguyệt quế tượng trưng cho các chi tiết được thiết kế trên 6 đồng xu bởi những người thành lập đội bóng. Các lá nguyệt quế còn thể hiện cho sức mạnh đội bóng. Để hoàn thành được biểu tượng này, các lá sồi và nguyệt quế được biểu diễn ở hai bên của khẩu hiệu "Forward" (tiếng Việt: tiến lên) ở phía dưới cùng của biểu tượng.[51]

Màu áo thi đấu

Áo sơ mi đỏ sẫm, quần trắng, tất sọc xanh trắng
Bộ đồng phục sân nhà của Arsenal vào mùa bóng 2005-06

Trong phần lớn lịch sử của Arsenal, màu áo thi đấu trên sân nhà của họ thường là áo sơ mi màu đỏ tươi, tay áo và quần đều có màu trắng, mặc dù không phải lúc nào cũng mặc như thế. Việc lựa chọn màu đỏ là để ghi nhận những hỗ trợ và đóng góp từ Nottingham Forest sau khi Arsenal thành lập năm 1886. Hai trong số các thành viên sáng lập ra Dial Square, Fred Beardsley và Morris Bates, là cựu cầu thủ của Forest đã chuyển tới Woolwich để thi đấu. Vì họ cùng nhau đưa đội một vào khu vực không thể tìm thấy áo đấu, nên Beardsley và Bates đã viết thư về nhà cầu xin sự giúp đỡ, và họ nhận được một bộ đồ và một quả bóng.[5] Chiếc áo có màu đỏ, một màu đỏ đậm, đi cùng với nó là chiếc quần màu trắng, và tất màu xanh và trắng.[52][53]

Năm 1933, Herbert Chapman muốn các cầu thủ của mình được mặc những bộ quần áo sáng màu hơn, nên đã thay thế và nâng cấp bộ áo đấu, thêm phần tay áo màu trắng và đổi màu nền trên thân áo thành một màu đỏ khác sáng hơn. Có hai giả thiết nói về nguồn gốc từ việc thêm các tay áo màu trắng. Thứ nhất, có một mẩu chuyện viết rằng, Chapman nhìn thấy một cổ động viên trên khán đài mặc chiếc áo len không có tay, màu đỏ và mặc trên một chiếc áo sơ mi trắng. Giả thiết thứ hai là ông đã lấy cảm hứng từ một bộ trang phục tương tự được mặc bởi họa sĩ biếm Tom Webster, một người chơi golf cùng với Chapman.[54] Có thể một trong hai câu chuyện này là sự thật, nhưng những bộ áo đấu màu đỏ và trắng đã trở thành màu áo đấu truyền thống của Arsenal. Đội bóng đã mặc những bộ áo đấu như thế trong suốt những năm từ 1933 đến nay, ngoại trừ hai mùa bóng: mùa thứ nhất là 1966-67 khi Arsenal mặc những bộ đồ toàn màu đỏ;[53] nhưng các cổ động viên không ưa chuộng và phải trở lại những chiếc áo có cánh tay trắng vào mùa bóng kế tiếp. Mùa thứ hai là 2005-06, mùa cuối cùng mà Arsenal thi đấu trên sân vận động Highbury, đội bóng đã mặc những chiếc áo đỏ sẫm, tương tự những bộ đồ mà đội bóng mặc trong năm 1913; và câu lạc bộ đã trở về với bộ đồ đỏ trắng vào mùa bóng sau đó.[54] Trong mùa giải 2008-09, Arsenal thay thế tay áo toàn màu trắng truyền thống bằng tay áo màu đỏ với một sọc ngang màu trắng.[53]

Màu áo sân nhà Arsenal trở thành nguồn cảm hứng cho ít nhất ba câu lạc bộ khác. Năm 1909, Sparta Prague đã cho ra mắt một bộ áo đấu màu đỏ sẫm, bộ đồ thi đấu Arsenal đã mặc vào thời điểm đó;[54] sau đó vào năm 1938, Hibernian cũng cho ra mắt thiết kế tay áo giống với chiếc áo của Arsenal với các đường nét màu xanh lá cây và màu trắng.[55] Năm 1920, Sporting Clube de Braga, sau khi trở về từ một trận bóng tại Highbury, đã thay đổi bộ áo đấu màu xanh của câu lạc bộ đến một bộ đồ có những điểm giống với Arsenal: áo màu đỏ, tay áo màu trắng và quần soóc, từ đó mà họ có biệt danh "Os Arsenalist".[56] Đội bóng đã mặc bộ đồ đó cho đến nay.

Trong nhiều năm, quần áo sân khách của Arsenal là chiếc áo màu trắng và quần soóc màu đen hoặc trắng. Đến mùa giải 1969-70, Arsenal giới thiệu bộ áo đấu sân khách, với chiếc áo màu vàng và quần soóc màu xanh. Bộ đồ này đã được Arsenal mặc trong Chung kết cúp FA 1971, trận đấu mà Arsenal đã đánh bại Liverpool để giành cú đúp danh hiệu đầu tiên trong lịch sử.[57] Arsenal lọt vào chung kết cúp FA lần tiếp theo vào năm sau, mặc bộ đồ sân nhà màu trắng và màu đỏ, nhưng bị thua cuộc trước Leeds United. Cuối thập niên 1970, các Pháo thủ thi đấu ba trận chung kết cúp FA liên tiếp từ năm 1978 đến 1980 và họ mặc bộ đồ "may mắn" có màu vàng và màu xanh,[57] sau đó đội bóng vẫn tiếp tục lấy nó làm bộ đồ sân khách của câu lạc bộ cho đến khi giới thiệu một bộ đồ màu xanh lá cây và màu áo hải quân để làm bộ đồ sân khách trong mùa bóng 1982-83. Mùa giải tiếp theo, Arsenal trở lại bộ quần áo sân khách màu vàng và màu xanh, mặc dù với một màu xanh đậm hơn trước.

Khi Nike thay Adidas làm nhà sản xuất quần áo thi đấu cho Arsenal vào năm 1994, màu áo sân khách của Arsenal đã được đổi lại thành áo sơ mi và quần soóc màu xanh với hai tông màu. Kể từ khi mà thị trường bán áo đấu bắt đầu xuất hiện, các bộ đồ sân khách của Arsenal thay đổi thường xuyên, và Arsenal thường cho giới thiệu bộ đồ sân khách và bộ đồ thứ ba. Trong thời gian này, các mẫu thiết kế quần áo sân khách của Arsenal thường là màu xanh, hoặc một vài thay đổi nhỏ từ bộ đồ sân khách truyền thống với màu vàng và màu xanh, chẳng hạn màu vàng, màu áo hải quân và màu kim loại được sử dụng trong mùa bóng 2001-02, màu xám vàng và đen được sử dụng trong các năm từ 2005-2007, màu vàng và màu nâu sẫm từ 2010-2013.[58] Từ năm 2009, bộ đồ sân khách được thay đổi theo từng mùa, và các bộ đồ thi đấu trên sân khách sẽ có ba lựa chọn nếu như bộ áo đấu sân nhà được thiết kế mới theo từng năm.[59]

Nhà tài trợ áo đấu

Quần áo thi đấu của Arsenal được sản xuất ở các hãng bao gồm Bukta (từ năm 1930 cho đến đầu những năm 1970), Umbro (từ năm 1970 cho đến năm 1986), Adidas (1986-1994), Nike (1994-2014), và Puma (từ năm 2014).[60] Cũng như hầu hết các câu lạc bộ bóng đá lớn khác, quần áo thi đấu của Arsenal được đính kèm thêm tên của các nhà tài trợ từ những năm 1980; các nhà tài trợ gồm có: JVC (1982-1999), Sega (1999-2002), O2 (2002-2006) và Emirates (từ năm 2006).[53][54]

Sân vận động

Một khán đài trên sân Highbury. Những chiếc ghế này chủ yếu có màu đỏ.
Khán đài Bắc Sân vận động Highbury.

Trong phần lớn thời gian đội bóng có trụ sở tại Đông Nam Luân Đôn, Arsenal lấy sân Manor Ground tại Plumstead làm sân nhà, ngoại trừ ba năm thi đấu tại sân Invicta Ground trong các năm từ 1890 đến 1893. Sân Manor Ground ban đầu chỉ là một bãi đất trống, cho đến khi câu lạc bộ nâng cấp sân bằng việc cải tạo, đắp đất và trồng cỏ để tham dự Football League vào năm 1893. Đội bóng đã lấy đây làm sân nhà trong suốt hai mươi năm[nb 4] cho đến khi chuyển lên Bắc Luân Đôn vào năm 1913.[61][62]

Tháng 9 năm 1913, Arsenal chuyển lên Bắc Luân Đôn và lấy Sân vận động Highbury làm sân nhà; và Arsenal đã sử dụng nó cho đến hết tháng 5 năm 2006. Sân vận động lúc đầu được thiết kế bởi kiến trúc sư bóng đá nổi tiếng thời đó, Archibald Leitch. Ông đã có một thiết kế chung cho các sân bóng của các câu lạc bộ Anh vào thời điểm ấy, với một kiến trúc đơn giản và ba khán đài hướng ra ngoài trời của sân bóng.[63] Toàn bộ sân vận động đã được trùng tu và nâng cấp trong những năm 1930. Được xây dựng theo phong cách Art-Deco, các khán đài Tây và Đông lần lượt được mở cửa vào các năm 1932 và 1936. Một mái che đã được lắp vào khán đài Bắc của sân bóng, tuy nhiên nó đã bị đánh bom trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và không được khôi phục, trùng tu lại cho đến năm 1954.[63]

Highbury có thể chứa được 60 nghìn khán giả ở mức cao nhất, và sân bóng này có sức chứa khoảng 57 nghìn chỗ ngồi cho đến đầu những năm 1990. Taylor Report cũng như ban tổ chức Premier League yêu cầu Arsenal rời sân Higubury và tìm một sân bóng khác có sức chứa lớn hơn cho mùa bóng 1993-94, do đó mà Highbury phải giảm 38.419 chỗ.[64] Khi Ban tổ chức UEFA Champions League có quy định làm thêm các biển quảng cáo được đặt ở đường biên các sân, nên chỗ ngồi tiếp tục giảm xuống và vì thế, Arsenal phải thi đấu Champions League trên sân Wembley và đăng ký nó làm sân nhà để thi đấu ở giải đấu trên, sân bóng này có sức chứa 70 nghìn khán giả.[65]

Một góc của sân vận động. Không có cầu thủ nào trên sân nhưng lại có khán giả trên khán đài.
Sân vận động Emirates dưới ánh mắt của Dennis Bergkamp.

Việc mở rộng sân vận động Highbury bị hạn chế vì khán đài Đông của sân bóng được thông báo là sẽ đập bỏ để xây một công trình cấp hai và ba khán đài còn lại nhiều khả năng sẽ bị phá để làm khu dân cư.[63] Những sự hạn chế này đã đưa câu lạc bộ vào thế khó trong việc bán vé các trận đấu trong suốt thập niên 1990 và lan sang cả nửa thập niên đầu của thế kỷ 21, vì thế họ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau về doanh thu trong sự phát triển của bóng đá ở thời điểm đó.[66] Sau khi tham khảo và xem xét các đề xuất, đến năm 2000, Arsenal công bố đề án xây dựng một sân vận động mới với sức chứa 60.361 chỗ ngồi tại khu vực Ashburton Grove, lấy tên sân vận động là Emirates, và nó khoảng 500 mét về phía tây nam của sân Highbury. [67] Dự án ban đầu bị trì hoãn do dải băng đỏ và chi phí cao,[68] nhưng cuối cùng sân bóng đã xây xong vào tháng 7 năm 2006, thời điểm bắt đầu mùa giải 2006-07.[69] Sân bóng được đặt tên theo tên nhà tài trợ, Hãng hàng không Emirates, đối tác mà câu lạc bộ đã ký một hợp đồng tài trợ lớn nhất trong lịch sử bóng đá Anh, trị giá khoảng 100 triệu Bảng Anh;[70] nhưng một số người hâm mộ đã gọi sân bóng với các tên gọi như Ashburton Grove hoặc nói một cách ngắn gọn Grove, vì họ không ủng hộ việc lấy tên một doanh nghiệp làm tên sân vận động.[71] Sân vận động sẽ có được cái tên Emirates cho đến ít nhất là năm 2028, và hãng là nhà tài trợ áo đấu của câu lạc bộ cho đến cuối mùa bóng 2018-19.[72] Từ đầu mùa bóng 2010-11, các khán đài của sân vận động được biết đến với những cái tên như Khán đài Bắc, khán đài Đông, khán đài Tây và khán đài cuối (có chiếc đồng hồ hiển thị thời gian thi đấu).[73]

Các cầu thủ của Arsenal được đào tạo và tập luyện ở Trung tâm đào tạo bóng đá Shenley ở Hertfordshire, một trung tâm bóng đá được khánh thành vào năm 1999.[74] Trước đó, câu lạc bộ mượn một khu đất thuộc quyền sở hữu của Trường Đại học Luân Đôn, và đến năm 1961 thì họ tập trực tiếp trên sân Highbury.[74] Đội U-18 của học viện bóng đá Arsenal thi đấu sân nhà tại Shenley, và họ cũng có một sân bóng dự bị là Meadow Park;[75] và đây cũng là sân nhà của Boreham Wood F.C..

Cổ động viên

Arsenal có một trận đấu với đội bóng cùng khu vực, Tottenham, hay được biết đến dưới cái tên Derby Bắc Luân Đôn, vào tháng 11 năm 2010.

Các cổ động viên của Arsenal luôn gọi chính họ dưới cái tên "Gooners", cái tên mà bắt nguồn từ biệt danh của đội bóng, "The Gunners" (Pháo thủ). Lượng người hâm mộ của đội bóng này rất đông, hầu như ai cũng trung thành với đội bóng. Hầu hết tất cả các trận đấu trên sân nhà của Arsenal trong mùa bóng 2007-08 có số lượng cổ động viên trung bình cho một trận đấu tại giải vô địch quốc gia cao thứ hai trong các câu lạc bộ Anh với 60.070 khán giả/trận, chiếm 99,5% tổng số chỗ ngồi trên sân Emirates.[76] Còn đối với năm 2006 thì số cổ động viên trung bình đứng thứ tư.[77] Arsenal có số cổ động viên trung bình cho một trận đấu cao thứ bảy trong số các câu lạc bộ ở châu Âu, đứng sau Borussia Dortmund, FC Barcelona, Manchester United, Real Madrid, Bayern München, và Schalke.[78][79][80][81] Vị trí của câu lạc bộ nằm liền kề với những khu vực có đông tầng lớp xã hội như Islington, Holloway, HighburyKhu Camden tại Luân Đôn, có những khu vực có đông người lao động như Finsbury Park hay Stoke Newington. Điều đó cho thấy các fan hâm mộ Arsenal đến từ nhiều tầng lớp xã hội.

Cũng như các câu lạc bộ bóng đá lớn khác tại nước Anh, Arsenal có một nhóm cổ động viên đã hợp tác chặt chẽ với Hiệp hội các cổ động viên độc lập Arsenal, nhưng đã lập ra một hội độc lập khác. Hiệp hội ủng hộ lòng tin Arsenal (viết tắt: AST[82]) luôn thúc đẩy sự tích cực tham gia ủng hộ câu lạc bộ từ người hâm mộ. Các cổ động viên của câu lạc bộ cũng đã cho xuất bản các tờ báo cổ động chẳng hạn như: The Gooner, Gunflash và loạt báo châm biếm Up The Arse!. Ngoài các bài hát về bóng đá Anh, các cổ động viên còn hát "One-Nil to the Arsenal" (theo giai điệu của bài hát "Go West"), "Boring, Boring Arsenal", bài hát này đã từng là một bài hát mang tính chê bai Arsenal từ cổ động viên, nhưng trớ trêu thay, về sau này các cổ động viên lại hát bài này khi đội nhà chơi tốt.[83]

Cũng có rất nhiều cổ động viên của Arsenal ngoài khu vực Luân Đôn. Kể từ khi truyền hình vệ tinh ra đời, các cổ động viên bóng đá đã không còn phụ thuộc nhiều về vị trí địa lý. Do đó, Arsenal cũng có một số lượng đáng kể cổ động viên ở ngoài Luân Đôn và khắp nơi trên thế giới. Thống kê vào năm 2007, số hội cổ động viên Arsenal như sau: 24 ở Anh, 37 ở Irish, 49 ở nước ngoài và các khu vực khác đã liên kết với câu lạc bộ.[84] Một báo cáo năm 2005 của Granada Ventures, lúc đó họ đang sở hữu 9,9% cổ phần của đội bóng, ước tính Arsenal có khoảng 27 triệu người hâm mộ trên thế giới.[85]

Arsenal có lịch sử đối đầu và cũng là đại kình địch đối với đội bóng hàng xóm Tottenham Hotspur, trận đấu giữa hai đội được xem là trận Derby Bắc Luân Đôn. Những đội bóng kình địch khác từ Luân ĐônChelsea, FulhamWest Ham. Ngoài ra, Arsenal cũng có những cuộc đối đầu mạnh mẽ với Manchester United kể từ thập niên 1980, và mạnh mẽ nhất là trong những năm gần đây khi Manchester United và Arsenal đều cạnh tranh cho chức vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh[86] - vì thế mà trong một cuộc thăm dò trực tuyến năm 2003 thì Manchester United là đối thủ lớn nhất của Arsenal, tiếp đến là Tottenham và Chelsea.[87] Một cuộc thăm dò năm 2008 cho thấy đại kình địch Tottenham mới là quan trọng nhất.[88][89]

Chủ sở hữu và nền tài chính

Doanh nghiệp chủ sở hữu của đội bóng, Arsenal Holdings plc, hoạt động như một công ty đại chúng trách nhiệm hữu hạn chưa được niêm yết rộng rãi, do đó mà có quyền sở hữu khác nhau lớn so với các câu lạc bộ bóng đá khác. Chỉ có 62.217 cổ phần của Arsenal được phát hành;[90][91] họ không được tham gia giao dịch trong các trao đổi công cộng chẳng hạn như Thị trường Tập đoàn FTSE hoặc Thị trường đầu tư lựa chọn Luân Đôn[nb 5]; và họ tương đối ít khi tham gia giao dịch tại hệ thống sàn chứng khoán ICAP và Thị trường Trao đổi Derivatives, một thị trường chuyên biệt. Ngày 6 tháng 11 năm 2014, một cổ phần đơn của Arsenal có giá trung bình ở vào khoảng 14.500 Bảng; và giá trị vốn hóa thị trường của câu lạc bộ là vào khoảng 902,2 triệu Bảng.[93] Câu lạc bộ có lợi nhuận kinh doanh trước thuế (không tính đến việc chuyển nhượng cầu thủ) là 62,7 triệu Bảng tính đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2009, trong khoản doanh thu 313,3 triệu Bảng.[94]

Cổ đông lớn nhất của Arsenal là một ông bầu thể thao Hoa Kỳ, Stan Kroenke, người đã khởi đầu cho việc đấu thầu câu lạc bộ trong năm 2007,[95] và trong năm 2009 đã nắm giữ 18.594 cổ phần câu lạc bộ (chiếm 29,9%).[96]

Đối thủ cùng tham gia đấu thầu với Kroenke là một người đến từ hệ thống sàn chứng khoán Red&White; một hệ thống do tỷ phú người Nga Alisher Usmanov và một chuyên gia tài chính người Iran tại Luân Đôn, Farhad Moshiri làm đồng chủ sở hữu.[97] Red&White đã bắt đầu tham gia đấu thầu vào tháng 8 năm 2007, được mua cổ phần từ số cổ phần mà cựu phó chủ tịch Arsenal David Dein nắm giữ, và tính đến tháng 10 năm 2013 thì họ sở hữu 18.671 cổ phần của câu lạc bộ (chiếm 30% tổng số).[98] Điều này đã kích hoạt một sự đầu cơ tích trữ trong một cuộc chiến giữa hai nhà thầu Kroenke và Usmanov.[97] Kroenke đồng ý không mua hơn 29,9% cổ phần của đội bóng cho đến ít nhất là tháng 9 năm 2009,[99] trong khi phần dự trữ còn lại từ ban quản trị đội bóng được chào giá lần đầu trên các cổ phần khác cho đến tháng 10 năm 2012.[100]

Đến tháng 10 năm 2011, Kroenke sở hữu 41.574 cổ phần (chiếm 66,82%) và hệ thống sàn chứng khoán Red&White nắm giữ 18.261 cổ phần (chiếm 29,35%).[101] Những đơn vị dưới công ty luật Kroenke, cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ, đều phải thực hiện các nghĩa vụ đặt ra lời đề nghị về các cổ phần còn lại trong câu lạc bộ.

Ivan Gazidis trở thành Giám đốc điều hành của câu lạc bộ kể từ năm 2009.[102]

Trong văn hóa, thông tin đại chúng

Arsenal được biết đến trong các phương tiện thông tin và truyền thông đầu tiên. Ngày 22 tháng 1 năm 1927, trận đấu trên sân vận động Highbury với đội Sheffield United là trận đấu bóng đá Anh đầu tiên được phát thanh trực tiếp trên vô tuyến truyền thanh.[103][104] Một thập kỷ sau, ngày 16 tháng 9 năm 1937, trận đấu giữa đội một của Arsenal và đội dự bị của Arsenal đã trở thành trận bóng đá đầu tiên trên thế giới được truyền hình trực tiếp.[103][105] Arsenal cũng xuất hiện trong lần đầu tiên lên sóng của chương trình Match of the Day của kênh BBC, khi chương trình đã chiếu những nét nổi bật của trận gặp Liverpool trên sân vận động Anfield vào ngày 22 tháng 8 năm 1964.[103][106] Trận đấu giữa Arsenal và Manchester United được phát sóng trên kênh truyền hình trả tiền BSkyB vào tháng 1 năm 2010 là lần đầu tiên phát sóng công khai một sự kiện thể thao dưới dạng truyền hình 3D.[103][107]

Là một trong những câu lạc bộ bóng đá thành công nhất ở nước Anh, Arsenal thường có những nét đặc biệt khi bóng đá được miêu tả trong nền mỹ thuật nước Anh. Họ đã hình thành nên nền tảng của một trong những bộ phim sớm nhất về bóng đá, "Bí ẩn sân vận động Arsenal"[nb 6] (1939).[108] Bộ phim nói về một trận đấu giao hữu giữa Arsenal với một đội bóng nghiệp dư, mà một trong các cầu thủ của họ bị ngộ độc khi tham dự trận đấu. Nhiều cầu thủ Arsenal xuất hiện trong bộ mặt của chính họ và huấn luyện viên George Allison đã có một phần phát biểu.[109] Gần đây, cuốn sách Fever Pitch được viết bởi Nick Hornby là một cuốn tự truyện viết về cuộc sống của Hornby và mối liên hệ với bóng đá và Arsenal nói riêng. Được xuất bản vào năm 1992, cuốn sách đã ra đời trong bối cảnh mà bóng đá đang dần phục hưng và xây dựng lại vị thế[nb 7] trong xã hội Anh vào những năm đầu thập niên 1990.[112] Cuốn sách này đã hai lần được chuyển thể thành phim. Năm 1997, một bộ phim nói về mùa giải 1988-89 mà Arsenal vô địch quốc gia;[113] và một bộ phim ở Hoa Kỳ vào năm 2005 với một cổ động viên của đội bóng chày Boston Red Sox.[114]

Arsenal thường có một lối chơi phòng thủ có những nét ấn tượng, nhưng có khía cạnh "nhàm chán", đặc biệt là vào những năm 1970 và 1980.[83][115] Có nhiều diễn viên hài, chẳng hạn như Eric Morecambe, đã gây cười với các thông tin về kinh phí của câu lạc bộ. Chủ đề này đã được nhắc lại trong một bộ phim của năm 1997, The Full Monty, trong cảnh mà diễn viên chính di chuyển dọc đường biên và giơ tay, cố ý bắt chước trọng tài căng cờ báo bẫy việt vị do hàng phòng ngự Arsenal tạo ra; trong nỗ lực để diễn cho giống với những gì mà Arsenal đã thường làm.[109] Trong một bộ phim tài liệu khác, chiến thuật phòng thủ của câu lạc bộ được nhắc đến trong bộ phim Plunkett&Macleane, trong đó có hai nhân vật có tên Dixon và Winterburn, tên của hai hậu vệ quan trọng một thời của câu lạc bộ, Lee Dixon và Nigel Winterburn.[109]

Một chương trình hài kịch truyền hình ngắn năm 1991 đã mô tả lại những nét nổi bật từ bản phác họa lại với nhân vật Mr Cholmondly-Warner và Grayson nói về trụ sở của Arsenal năm 1933. Họ đã phóng đại những nét giống của các cầu thủ nghiệp dư của Liverpool vào năm 1991 (mặc dù chỉ là bản hư cấu lại).[116]

Trong xã hội

Vào năm 1985, Arsenal đã thành lập một tổ chức cộng đồng, "Arsenal in the Community" (Arsenal với cộng đồng), trong đó họ tổ chức đóng góp về các dụng cụ thể thao, sự hòa nhập xã hội, phát triển giáo dục và các dự án từ thiện. Đội bóng đã tham gia trực tiếp vào một số hoạt động từ thiện, và đến năm 1992 thành lập "Tổ chức lòng tin từ thiện Arsenal" và vào năm 2006 đã quyên góp được hơn 2 triệu Bảng cho quỹ từ thiện địa phương.[117] Các cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp đã từng chơi cho câu lạc bộ cũng đã gây quỹ bằng cách tổ chức và tham dự các trận đấu từ thiện.[118]

Trong mùa bóng 2009-10, Arsenal thông báo là họ đã đóng góp 818.897 Bảng Anh cho tổ chức từ thiện dành cho trẻ em, Great Ormond Street Hospital. Ban đầu họ dự định đóng góp 500 nghìn Bảng.[119]

Kỷ lục và thành tích

Thierry Henry là cầu thủ ghi bàn nhièu nhất của Arsenal, với 228 bàn thắng trong các giải đấu.

Tổng cộng 13 chức vô địch quốc gia của Arsenal đứng thứ ba chỉ sau Manchester United (với 20 chức vô địch) và Liverpool (18 chức vô địch).[120] Họ là đội bóng giành được nhiều chiếc cúp FA nhất trong lịch sử với 12 chiếc trong phòng truyền thống.[121][122] Arsenal đã từng đoạt được ba cú đúp danh hiệu vô địch quốc gia và FA Cup (vào các năm 1971, 1998, 2002), thành tích này ngang bằng với Manchester United (vào các năm 1994, 1996, 1999),[21][123] và họ cũng là đội bóng đầu tiên giành được cú đúp cúp FA và cúp Liên đoàn Anh (vào năm 1993).[124] Arsenal cũng là câu lạc bộ Luân Đôn đầu tiên lọt đến một trận chung kết Champions League, vào năm 2006, lúc đó họ thua 2-1 trước Barcelona.[125]

Arsenal là một trong những câu lạc bộ có một vị trí tốt nhất ở giải vô địch quốc gia trong lịch sử, với việc chỉ 7 lần kết thúc mùa bóng ở vị trí từ 15 trở xuống. Họ là đội bóng có vị trí trung bình sau khi kết thúc mùa giải cao nhất trong thế kỷ 20, với vị trí trung bình là 8,5.[126] Ngoài ra, họ là một trong sáu câu lạc bộ đoạt cúp FA 2 lần liên tiếp, vào các năm 2002 và 2003; 2014 và 2015.[127] Arsenal cũng giữ kỷ lục về số trận bất bại dài nhất trong giải bóng đá Ngoại hạng Anh với 49 trận, và là đội bóng duy nhất có một mùa giải bất bại ở giải đấu này (mùa bóng 2003-04).[128]

David O'Leary hiện đang nắm giữ kỷ lục số trận ra sân nhiều nhất cho Arsenal, với 722 trận đấu trong những năm 1975 và 1993. Người đồng đội, trung vệ và cũng là cựu đội trưởng của Arsenal, Tony Adams đứng thứ hai, với 669 lần ra sân. Thủ môn ra sân nhiều nhất cho Arsenal là David Seaman, với 564 lần.[129]

Thierry Henry là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ, với 228 bàn thắng trong những năm 1999 đến 2007 và đầu năm 2012,[130] vượt qua kỷ lục của Ian Wright với 185 bàn thắng lập được vào tháng 10 năm 2005.[131] Kỷ lục của Wright đứng vững từ tháng 9 năm 1997 khi cầu thủ này vượt qua mốc 178 bàn của cầu thủ chạy cánh Cliff Bastin lập được vào năm 1939.[132] Henry cũng là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại giải vô địch quốc gia cho câu lạc bộ với 175 bàn,[130] một kỷ lục mà Bastin đã lập và đứng vững tới tháng 2 năm 2006.[133]

Kỷ lục về số cổ động viên dự một trận đấu trên sân nhà của Arsenal là 73.707 khán giả, trong trận cúp C1 châu Âu với RC Lens vào ngày 25 tháng 11 năm 1998, trên sân vận động Wembley, nơi mà trước đây đội bóng chơi các trận đấu tại cúp châu Âu vì những vướng mắc về sân vận động Highbury. Kỷ lục về số cổ động viên dự một trận đấu tại Highbury là 73.295 người, trong trận hòa 0-0 với Sunderland ngày 9 tháng 3 năm 1935.[129] Còn đối với kỷ lục về số cổ động viên trên sân Emirates thì con số là 60.161 người, trong trận hòa 2-2 với Manchester United vào ngày 3 tháng 11 năm 2007.[134]

Arsenal cũng đã làm nên kỷ lục của bóng đá Anh, khi trở thành đội bóng có nhiều mùa giải nhất tại giải vô địch quốc gia trong lịch sử (88 mùa bóng tính đến 2014-15) và có chuỗi trận bất bại dài nhất tại giải vô địch quốc gia (với 49 trận từ ngày 7 tháng 5 năm 2003 đến 24 tháng 10 năm 2004).[31] Chuỗi trận bất bại này bao gồm cả 38 trận đấu của mùa bóng 2003-04, giúp Arsenal trở thành đội bóng thứ hai sau Preston North End (cách mùa bóng đó 115 năm) có một mùa giải bất bại.[29]

Arsenal cũng đã lập kỷ lục giữ sạch lưới tại cúp C1 châu Âu 2005-06 với 10 trận không để đối phương chọc thủng lưới. Họ đã có tổng cộng 995 phút không để thủng lưới, và kết thúc bởi bàn thắng của cầu thủ Barcelona, Samuel Eto'o ở phút thứ 76 trong trận chung kết.[33]

Cầu thủ

Đội một

Số liệu thống kê chính xác tới 7 tháng 8 năm 2015.[135]

Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.

Số áo Vị trí Tên cầu thủ


2 Pháp HV Mathieu Debuchy
3 Anh HV Kieran Gibbs
4 Đức HV Per Mertesacker (đội phó)
5 Brasil HV Gabriel
6 Pháp HV Laurent Koscielny
7 Cộng hòa Séc TV Tomáš Rosický (đội phó 3)
8 Tây Ban Nha TV Mikel Arteta (đội trưởng)
10 Anh TV Jack Wilshere
11 Đức TV Mesut Özil
12 Pháp Olivier Giroud
13 Colombia TM David Ospina
14 Anh Theo Walcott
Số áo Vị trí Tên cầu thủ
15 Anh TV Alex Oxlade-Chamberlain
16 Wales TV Aaron Ramsey
17 Chile Alexis Sánchez
18 Tây Ban Nha HV Nacho Monreal
19 Tây Ban Nha TV Santi Cazorla (đội phó 2)
20 Pháp TV Mathieu Flamini
21 Anh HV Calum Chambers
23 Anh Danny Welbeck
24 Tây Ban Nha HV Héctor Bellerín
28 Costa Rica Joel Campbell
33 Cộng hòa Séc TM Petr Čech
34 Pháp TV Francis Coquelin

Cầu thủ cho mượn

Lưu ý: Các cờ cho đội tuyển quốc gia được xác định tại quy chuẩn FIFA. Cầu thủ có thể nắm giữ hơn một phi quốc tịch FIFA.

Số áo Vị trí Tên cầu thủ
1 Ba Lan TM Wojciech Szczęsny (cho mượn tới Roma đến hết mùa giải 2015-16)[136]
22 Pháp Yaya Sanogo (cho mượn tới Ajax đến hết mùa giải 2015-16)[137]
25 Anh HV Carl Jenkinson (cho mượn tới West Ham United đến hết mùa giải 2015-16)[138]
26 Argentina TM Emiliano Martínez (cho mượn tới Wolverhampton Wanderers đến hết mùa bóng 2015-16)
Số áo Vị trí Tên cầu thủ
27 Đức Serge Gnabry (cho mượn tới West Bromwich Albion đến hết mùa giải 2015-16)[139]
32 Anh Chuba Akpom (cho mượn tới Hull City đến hết mùa giải 2015-16)[140]
42 Anh HV Isaac Hayden (cho mượn tới Hull City đến hết mùa giải 2015-16)[141]

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của đội

Tính từ năm 2006 đến nay.[142]

Năm Vô địch
2006 Pháp Thierry Henry
2007 Tây Ban Nha Cesc Fàbregas
2008 Tây Ban Nha Cesc Fàbregas
2009 Hà Lan Robin van Persie
2010 Tây Ban Nha Cesc Fàbregas
2011 Anh Jack Wilshere
2012 Hà Lan Robin van Persie
2013 Tây Ban Nha Santi Cazorla
2014 Wales Aaron Ramsey
2015 Chile Alexis Sánchez

Ban huấn luyện

Ban huấn luyện hiện tại

Đến tháng 8 năm 2014.[143]
Công việc Người phụ trách
Huấn luyện viên trưởng Pháp Arsène Wenger
Trợ lý huấn luyện viên trưởng Anh Steve Bould
Huấn luyện viên đội một Bosna và Hercegovina Boro Primorac
Anh Neil Banfield
Huấn luyện viên thủ môn Cộng hòa Ireland Gerry Peyton
Trợ lý nâng cao thể lực Hoa Kỳ Shad Forsythe
Huấn luyện viên thể lực Anh Tony Colbert
Trợ lý trị liệu Anh Colin Lewin
Bác sĩ Cộng hòa Ireland Gary O'Driscoll
Quản lý quần áo thi đấu Anh Vic Akers
Quản lý học viện Hà Lan Andries Jonker
Huấn luyện viên U-21 Anh Steve Gatting
Anh Carl Laraman
Huấn luyện viên U-18 Hà Lan Frans de Kat
Huấn luyện viên U-16 Hà Lan Jan van Loon

Các đời huấn luyện viên trưởng

Arsène Wenger, huấn luyện viên hiện tại của Arsenal

Có 18 huấn luyện viên chính thức và 5 huấn luyện viên tạm quyền trong lịch sử câu lạc bộ, kể từ khi họ bổ nhiệm Thomas Mitchell vào năm 1897.[144] Huấn luyện viên có nhiệm kỳ dài nhất và cũng có nhiều trận đấu nhất cho câu lạc bộ chính là Arsène Wenger; và ông cũng là huấn luyện viên nước ngoài duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ.[145][146] Có hai vị chiến lược gia đã qua đời ngay trên ghế huấn luyện, Herbert Chapman và Tom Whittaker.[147]

Arsenal FC.svg
Các huấn luyện viên trưởng của Arsenal

Danh hiệu

Trong nước

13 chức vô địch, ở các mùa bóng 1930–31, 1932–33, 1933–34, 1934–35, 1937–38, 1947–48, 1952–53, 1970–71, 1988–89, 1990–91, 1997–98, 2001–02, 2003–04
  • Cúp FA: 12 (kỷ lục), vào các mùa bóng: 1929–30, 1935–36, 1949–50, 1970–71, 1978–79, 1992–93, 1997–98, 2001–02, 2002–03, 2004–05, 2013–14, 2014–15
  • Cúp Liên đoàn: 2, vào các mùa bóng 1986-87 và 1992-93
  • Siêu cúp bóng đá Anh[nb 8]: 14, vào các năm: 1930, 1931, 1933, 1934, 1938, 1948, 1953, 1991 (chia sẻ danh hiệu), 1998, 1999, 2002, 2004, 2014, 2015.

Châu Âu

Cú đúp danh hiệu

Arsenal giành được 4 cú đúp, bao gồm:

  • Cú đúp vô địch quốc gia và cúp FA các mùa: 1970-71, 1997-98, 2001-02.
  • Cúp đúp vô địch cúp FA và cúp Liên đoàn mùa 1992-93.

Đội nữ

Đội nữ Arsenal là một câu lạc bộ bóng đá nữ tại Anh và là một phần của câu lạc bộ Arsenal. Được thành lập năm 1987, họ trở thành câu lạc bộ bán chuyên nghiệp vào năm 2002, và Clare Wheatley là huấn luyện viên trưởng.[149] Đội nữ của Arsenal là đội bóng thành công nhất trong hệ thống bóng đá nữ của nước Anh. Mùa bóng 2008-09, các cô gái Arsenal đã giành cú ăn ba danh hiệu ở nước Anh: Giải bóng đá nữ Ngoại hạng Anh, Cúp bóng đá nữ FA và Cúp Liên đoàn bóng đá nữ Anh.[150] Họ là câu lạc bộ duy nhất của nước Anh giành được cúp UEFA Cup dành cho nữ (giành được vào mùa bóng 2006-07) trước khi bị đổi tên vào năm 2009.[nb 10][151] Mặc dù đội bóng nam và đội bóng nữ Arsenal là các câu lạc bộ bóng đá chính thức hoàn toàn khác nhau nhưng họ vẫn có được mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đội nữ Arsenal được chơi bóng 1 lần trong một mùa tại sân Emirates, mặc dù sân nhà mà họ đang thi đấu là ở Boreham Wood.[152]

Xem thêm

Chú ý

  1. ^ Đây là sức chứa của sân vận động Emirates.
  2. ^ Trước năm 1992, đây được gọi là giải hạng nhất (First Division). Kể từ năm 1992, giải đấu được mang tên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (Premier League)
  3. ^ Là một núm ở phần cuối của một khẩu pháo, được lắp vào nòng súng, được đi kèm để kiểm soát sự bắn của khẩu pháo.
  4. ^ Ngoại trừ hai trường hợp ở mùa bóng 1894-95.
  5. ^ Tiếng Anh là Alternative Investment Market; Viết tắt: AIM. Đây là một thị trường được thiết kế đặc trưng cho các công ty mới và đang phát triển tại Anh.[92]
  6. ^ "Sân vận động Arsenal" là một tên gọi khác để gọi sân vận động Highbury.
  7. ^ Các đội bóng Anh không được dự cúp châu Âu sau thảm họa ở sân vận động Heysel của nước Bỉ, thảm họa đã khiến cho 39 cổ động viên thiệt mạng trong trận chung kết cúp C1 giữa Liverpool và Juventus năm 1985.[110] 4 năm sau, vào năm 1989, thảm hoạ Hillsbrough làm 96 cổ động viên thiệt mạng và hơn 150 người khác bị thương tại trận bán kết cúp FA giữa LiverpoolNottingham Forest. [111] Chính vì thế mà bóng đá Anh vào cuối những năm 1980 bị suy yếu và xuống cấp rất trầm trọng, sau đó được phục hồi lại bắt đầu từ những năm 1990.
  8. ^ Bao gồm cả giai đoạn với cái tên FA Charity Shield (trước 2002) và FA Community Shield (từ 2002).[148]
  9. ^ Kể từ năm 1998, giải đấu này hợp nhất với Cúp Inter-Cities Fairs thành cúp UEFA Europa League.
  10. ^ Đổi tên thành UEFA Women's Champions League (Cúp các đội nữ vô địch bóng đá quốc gia châu Âu).

Chú thích

  1. ^ “Premier League Handbook Season 2013/14” (PDF). Premier League. Truy cập 17 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ O'Connor, Ashling (13 tháng 10 năm 2011). “Liverpool lag in fight for global fan supremacy as TV row grows”. The Times. Truy cập 17 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ “Football Money League”. deloitte.com. Deloitte. Tháng 1 năm 2014. Truy cập 27 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ “Arsenal”. Forbes. Ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013. 
  5. ^ a ă Soar, Phil & Tyler, Martin (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. Hamlyn. tr. 23. ISBN 9780600613442. 
  6. ^ “Royal Arsenal becomes Woolwich Arsenal”. Andy Kelly's Arsenal Resource Website. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ Soar & Tyler (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. tr. 32–33. 
  8. ^ Soar & Tyler (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. tr. 40. 
  9. ^ Soar & Tyler (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. tr. 40.  Thông tin chi tiết hơn xin xem tại Spurling, Jon (2004). Rebels for the Cause: The Alternative History of Arsenal Football Club. Mainstream. tr. 38–41. ISBN 978-1-84018-900-1. 
  10. ^ “Club profile – Arsenal”. Premier League. Truy cập 17 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ Soar & Tyler (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. tr. 18. 
  12. ^ “London Underground and Arsenal present The Final Salute to Highbury”. Transport for London. Ngày 12 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ “Arsenal clinch a hat-trick of titles”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009. 
  14. ^ Brown, Tony (2007). Champions all!. Nottingham: SoccerData. tr. 6–7. ISBN 1-905891-02-4. 
  15. ^ “Post-War Arsenal – Overview”. Arsenal F.C. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ Brown (2007). Champions all!. tr. 7. 
  17. ^ 1970-71 in English football RSSSF.
  18. ^ 1971 - King George of Wembley BBC. Truy cập 18 tháng 8 năm 2015.
  19. ^ 1972 FA Cup Final
  20. ^ 1972-73 in English Football RSSSF.
  21. ^ a ă â b c d “Arsenal”. Football Club History Database. Richard Rundle. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009. 
  22. ^ Hai trận chung kết 2005 và 1979 có các đội tham dự như nhau. CT:Winter, Henry (ngày 19 tháng 4 năm 2005). “Classic final? More like a classic five minutes”. Daily Telegraph. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  23. ^ Clarke, Andy (ngày 26 tháng 3 năm 2009). “Top Ten: Title Run-ins”. Sky Sports. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  24. ^ Bower, Tom (2003). Broken Dreams. Simon & Schuster. ISBN 978-0-7434-4033-2. 
  25. ^ Collins, Roy (ngày 18 tháng 3 năm 2000). “Rune Hauge, international man of mystery”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  26. ^ Moore, Glenn (ngày 13 tháng 8 năm 1996). “Rioch at odds with the system”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009. 
  27. ^ “Angry Wenger denies rumours”. Evening Standard (London). 7 tháng 11 năm 1996. tr. 71. 
  28. ^ Xuân Lộc (16 tháng 4 năm 2015). 7 yếu tố có thể giúp Arsenal vượt Chelsea vô địch Ngoại hạng Anh mùa này VnExpress. Truy cập 26 tháng 8 năm 2015.
  29. ^ a ă Hughes, Ian (ngày 15 tháng 5 năm 2004). “Arsenal the Invincibles”. BBC Sport. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  30. ^ Rooney lại mang nỗi buồn đến với Arsenal VnExpress Truy cạp 22 tháng 8 năm 2015.
  31. ^ a ă Fraser, Andrew (ngày 25 tháng 10 năm 2004). “Arsenal run ends at 49”. BBC Sport. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2008. 
  32. ^ Ross, James M. “FA Premier League Champions 1993–2007”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  33. ^ a ă “2005/06: Ronaldinho delivers for Barça”. UEFA. Ngày 17 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  34. ^ Quang Dũng (13 tháng 5 năm 2015). Tám lần Barca vào chung kết Champions League VnExpress. Truy cập 26 tháng 8 năm 2015.
  35. ^ Aizlewood, John (ngày 23 tháng 7 năm 2006). “Farewell Bergkamp, hello future”. The Times (UK). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009. 
  36. ^ Khoảnh khắc vĩ đại thứ 8: 2006 - Arsenal chuyển đến sân Emirates Hội cổ động viên Arsenal tại Việt Nam. Truy cập 26 tháng 8 năm 2015.
  37. ^ Chelsea vô địch Carling Cup 2007 Báo Tiền phong. Truy cập 26 tháng 8 năm 2015.
  38. ^ Thua sốc Birmingham, Arsenal nối dài 6 năm tay trắng Công ty Truyền hình kỹ thuật số VTC (Việt Nam). Truy cập 18 tháng 8 năm 2015.
  39. ^ Hải Đăng (28 tháng 2 năm 2011). Thua phút cuối, Arsenal nối dài "cơn khát" danh hiệu Báo Dân Trí. Truy cập 26 tháng 8 năm 2015.
  40. ^ Hytner, David (18 tháng 5 năm 2014). “Arséne Wenger savours FA Cup win over Hull as Arsenal end drought”. The Guardian (UK). Truy cập 18 tháng 8 năm 2015. 
  41. ^ Ronay, Barney (10 tháng 8 năm 2014). “Arsenal cruise to Community Shield win over weakened Manchester City”. The Guardian (UK). Truy cập 18 tháng 8 năm 2015. 
  42. ^ Taylor, Daniel (30 tháng 5 năm 2015). “Alexis Sánchez inspires Arsenal to win over Aston Villa”. The Guardian (UK). Truy cập 18 tháng 8 năm 2015. 
  43. ^ Cryer, Andy (2 tháng 8 năm 2015). “Arsenal 1-0 Chelsea”. BBC (UK). Truy cập 18 tháng 8 năm 2015. 
  44. ^ Arsenal 1-0 Chelsea: Wenger giải lời nguyền Mourinho VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 15 tháng 8 năm 2015.
  45. ^ a ă â “The Crest”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  46. ^ Free, Dominic (4 tháng 6 năm 2003). Arsenal v. Reed in the Court of Appeal”. Michael Simkins LLP. Truy cập 23 tháng 8 năm 2015.  (được đăng lại sau này)
  47. ^ “Arsenal go for a makeover”. BBC Sport. 1 tháng 2 năm 2004. Truy cập 18 tháng 8 năm 2015. 
  48. ^ “Crestfallen” (PDF). Arsenal Independent Supporters' Association. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2006. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  49. ^ a ă “The Arsenal shirt badge”. Arsenal F.C. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2010. 
  50. ^ “The Art Deco crest”. Arsenal F.C. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  51. ^ “125th anniversary crest”. Arsenal F.C. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  52. ^ “The Arsenal home kit”. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  53. ^ a ă â b “Arsenal”. Historical Football Kits. D & M Moor. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  54. ^ a ă â b “Arsenal Kit Design”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2008. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  55. ^ “Hibernian”. Historical Football Kits. D & M Moor. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  56. ^ Rui Matos Pereira (21 tháng 10 năm 2005). “Secret of Braga's success”. UEFA. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  57. ^ a ă “FA Cup Finals”. Historical Football Kits. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  58. ^ “Arsenal Change Kits”. Historical Football Kits. D & M Moor. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  59. ^ “Club Charter”. Arsenal F.C. Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  60. ^ Kent, David (8 tháng 5 năm 2013). “Arsenal agree £30m-a-year deal with Puma in most lucrative kit contract in Britain”. Daily Mail (London). Truy cập 19 tháng 8 năm 2015. 
  61. ^ Inglis, Simon (1996) [1985]. Football Grounds of Britain (ấn bản 3). London: CollinsWillow. tr. 16–17. ISBN 0-00-218426-5. 
  62. ^ “Suspension of the Plumstead Ground”. The Times. 7 tháng 2 năm 1895. tr. 6. 
  63. ^ a ă â “A Conservation Plan for Highbury Stadium, London” (PDF). Islington Council. Tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  64. ^ “Highbury”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
  65. ^ “Arsenal get Wembley go-ahead”. BBC Sport. 24 tháng 7 năm 1998. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  66. ^ Garner, Clare (18 tháng 8 năm 1997). “Arsenal consider leaving hallowed marble halls”. The Independent (London). Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  67. ^ “Arsenal unveil new stadium plans”. BBC Sport. 7 tháng 11 năm 2000. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  68. ^ “Arsenal stadium delay”. BBC Sport. 16 tháng 4 năm 2003. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  69. ^ “Bergkamp given rousing farewell”. BBC Sport. 22 tháng 7 năm 2006. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  70. ^ “Arsenal name new ground”. BBC Sport. 5 tháng 10 năm 2004. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  71. ^ Dawes, Brian (2006). “The 'E' Word”. Arsenal World. Footymad. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  72. ^ Riach, James (23 tháng 11 năm 2012). “Arsenal's new Emirates sponsorship deal to fund transfers and salaries”. The Guardian (London). Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  73. ^ Emirates Stadium stands to be renamed Arsenal FC, ngày 19/7/2010, truy cập 20 tháng 8 năm 2015.
  74. ^ a ă “The Training Centre”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2008. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  75. ^ “Youth sides to play at Meadow Park”. 30 tháng 7 năm 2013. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  76. ^ Kempster, Tony. “Attendances 2007/08”. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  77. ^ “All Time League Attendance Records”. NUFC.com. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  78. ^ “German Bundesliga Stats: Team Attendance – 2010–11”. ESPNsoccernet. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  79. ^ “Camp Nou: Average attendance 79,390 | FCBarcelona.cat”. Arxiu.fcbarcelona.cat. 17 tháng 5 năm 2011. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  80. ^ “Barclays Premier League Stats: Team Attendance – 2010–11”. ESPNsoccernet. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  81. ^ “Spanish La Liga Stats: Team Attendance - 2010-11”. ESPNsoccernet. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  82. ^ CĐV Arsenal vẫn dành sự tin tưởng tuyệt đối cho Arsene Wenger Báo Thể thao Văn hóa, truy cập 20 tháng 8 năm 2015.
  83. ^ a ă Noble, Kate (22 tháng 9 năm 2002). “They Came To Reign in Spain”. Time. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  84. ^ “Fans Report 2006/2007” (Word document). Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  85. ^ “Arsenal FC – the Premiership's fastest growing football brand” (Word document). Granada Ventures. 5 tháng 8 năm 2005. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 6 năm 2007. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  86. ^ “The Classic: Arsenal-Manchester Utd”. FIFA. 17 tháng 1 năm 2007. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  87. ^ “Club Rivalries Uncovered” (PDF). Football Fans Census. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  88. ^ Boffins reveal football's biggest rivalry Sunderland Echo. Truy cập 25 tháng 8 năm 2015.
  89. ^ Anglian Derby England's second greatest rivalry The East Anglian News. Truy cập 25 tháng 8 năm 2015.
  90. ^ “Statement of Accounts and Annual Report 2006/2007 (p43)” (PDF). Arsenal Holdings plc. Tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  91. ^ “Statement of Accounts and Annual Report 2009/2010 (p41)” (PDF). Arsenal Holdings plc. Tháng 9 năm 2010. Truy cập 12 tháng 11 năm 2011. 
  92. ^ Quỹ đầu tư đầu tiên của Việt Nam lên sàn Luân Đôn Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015.
  93. ^ “Arsenal Holdings plc”. ICAP. Truy cập 20 tháng 8 năm 2015. 
  94. ^ “Arsenal Holdings plc: 2009 Financial results”. Arsenal Holdings plc. 28 tháng 9 năm 2009. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  95. ^ Scott, Matt and Allen, Katie (6 tháng 4 năm 2007). “Takeover gains pace at Arsenal with 9.9% sale”. The Guardian (London). Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  96. ^ “Kroenke increases stake in Arsenal Holdings”. Arsenal F.C. 5 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2009. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  97. ^ a ă “Russian buys Dein's Arsenal stake”. BBC News. 30 tháng 8 năm 2007. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  98. ^ “Arsenal Holdings PLC: Holding(s) in Company”. Bloomberg. 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  99. ^ “Kroenke joins Arsenal's Board of Directors”. Arsenal F.C. 19 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2008. Truy cập 19 tháng 9 năm 2008. 
  100. ^ “Arsenal board announce revised 'lock-down' agreement”. Arsenal F.C. 18 tháng 10 năm 2007. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  101. ^ “The Arsenal Board | Corporate Info | The Club”. Arsenal.com. 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  102. ^ “The Arsenal Board | Corporate Info | The Board”. Arsenal.com. 5 tháng 2 năm 2013. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  103. ^ a ă â b Firsts, Lasts & Onlys: Football – Paul Donnelley (Hamlyn, 2010)
  104. ^ “It Happened at Highbury: First live radio broadcast”. Arsenal F.C. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  105. ^ “Happened on this day – 16 September”. BBC Sport. 16 tháng 9 năm 2002. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  106. ^ “History of Match of the Day”. BBC Sport. 14 tháng 2 năm 2003. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  107. ^ “Fans trial first live 3D sports event”. Sydney Morning Herald. Associated Press. 1 tháng 2 năm 2010. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  108. ^ “The Arsenal Stadium Mystery”. IMDb. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  109. ^ a ă â “Arsenal at the movies”. Arseweb. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2008. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  110. ^ “1985: English teams banned after Heysel”. BBC Archive (BBC). 31 tháng 5 năm 1985. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  111. ^ “The Taylor Report”. Football Network. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  112. ^ “Nick Hornby”. The Guardian (London). 22 tháng 7 năm 2008. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. “Critically acclaimed and commercial dynamite, Fever Pitch helped to make football trendy and explain its appeal to the soccerless” 
  113. ^ “Fever Pitch (1997)”. IMDb. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  114. ^ “Fever Pitch (2005)”. IMDb. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  115. ^ May, John (19 tháng 5 năm 2003). “No more boring, boring Arsenal”. BBC Sport. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  116. ^ Association Football – Harry Enfield – Mr Cholmondley-Warner YouTube
  117. ^ “Arsenal Charity Ball raises over £60,000”. Arsenal F.C. 11 tháng 5 năm 2006. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  118. ^ “Ex-Pro and Celebrity XI”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  119. ^ Arsenal smash fundraising target for GOSH Arsenal FC, 2 tháng 8 năm 2010, truy cập 21 tháng 8 năm 2015
  120. ^ Ross, James M (28 tháng 8 năm 2009). “England – List of Champions”. RSSSF. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  121. ^ Ross, James M (12 tháng 6 năm 2009). “England FA Challenge Cup Finals”. RSSSF. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  122. ^ Taylor, Daniel (ngày 31 tháng 5 năm 2015). “FA Cup final: Alexis Sánchez inspires Arsenal to win over Aston Villa”. The Observer (London: Guardian News and Media). Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  123. ^ Stokkermans, Karel (24 tháng 9 năm 2009). “Doing the Double: Countrywise Records”. RSSSF. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  124. ^ Collins, Roy (20 tháng 5 năm 2007). “Mourinho collects his consolation prize”. The Daily Telegraph (London). Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. “Đến nay chỉ có Chelsea là đội thứ hai làm được điều này.” 
  125. ^ “Arsenal Football Club”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2008. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  126. ^ Hodgson, Guy (17 tháng 12 năm 1999). “Football: How consistency and caution made Arsenal England's greatest team of the 20th century”. The Independent (London). Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  127. ^ Ross, James M (12 tháng 6 năm 2009). “England FA Challenge Cup Finals”. RSSSF. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  128. ^ “The Unbeaten Record”. Arsenal Broadband. Truy cập 23 tháng 8 năm 2015. 
  129. ^ a ă “Club Records”. Arsenal F.C. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  130. ^ a ă “Goalscoring Records”. Arsenal.com. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  131. ^ “Wright salutes Henry's goal feat”. BBC Sport. 19 tháng 10 năm 2005. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  132. ^ Ward, Rupert. “Arsenal vs Bolton. 13/09/97”. Arseweb. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  133. ^ “Arsenal 2–3 West Ham”. BBC Sport. 1 tháng 2 năm 2006. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  134. ^ “Man Utd game attracts record attendance”. Arsenal F.C. 5 tháng 11 năm 2007. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  135. ^ “Players”. Arsenal F.C. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2015. 
  136. ^ “Szczesny joins AS Roma on loan”. Arsenal FC. 29 tháng 7 năm 2015. 
  137. ^ Yaya Sanogo to join Ajax on loan Arsenal FC. Truy cập 24 tháng 8 năm 2015.
  138. ^ Jenkinson returns to West Ham on loan Arsenal FC. Truy cập 24 tháng 8 năm 2015.
  139. ^ “Serge Gnabry joins West Brom on loan”. Arsenal FC. 7 tháng 8 năm 2015. 
  140. ^ “Tigers Sign Akpom On Season-Long Loan From Arsenal”. Hull City AFC. 4 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 4 tháng 8 năm 2015. Truy cập 30 tháng 8 năm 2015. 
  141. ^ “Hayden Arrives On Loan”. Hull City AFC. 31 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ 31 tháng 7 năm 2015. Truy cập 30 tháng 8 năm 2015. 
  142. ^ “My Football Facts & Stats”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  143. ^ “Staff”. Arsenal F.C. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2014. 
  144. ^ Soar & Tyler (2005). The Official Illustrated History of Arsenal. tr. 30. 
  145. ^ “Wenger hungry for further success”. BBC Sport. 2 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009. 
  146. ^ Davies, Christopher (8 tháng 12 năm 2008). “700 and not out: Arsenal boss Wenger looking to celebrate memorable day at Porto”. Daily Mail (UK). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2009. 
  147. ^ “The Managers”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  148. ^ Ross, James (28 tháng 8 năm 2009). “England – List of FA Charity/Community Shield Matches”. RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2010. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  149. ^ “Clare Wheatley”. Arsenal FC. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  150. ^ “Arsenal Ladies Honours”. Arsenal F.C. Truy cập 21 tháng 8 năm 2015. 
  151. ^ Mawhinney, Stuart (7 tháng 5 năm 2007). “Arsenal clinch quadruple”. The Football Association. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2009. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 
  152. ^ “Get to Boreham Wood”. Arsenal F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2008. Truy cập 22 tháng 8 năm 2015. 

Tài liệu khác

Đọc thêm

Liên kết ngoài khác