Ángel Di María

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ángel di María)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ángel di María
PSG-Shakhter15 (2).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ángel Fabián Di María Hernández
Ngày sinh 14 tháng 2, 1988 (31 tuổi)
Nơi sinh Rosario, Argentina
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)[1]
Vị trí Tiền vệ cánh, Tiền vệ tấn công
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Paris Saint-Germain
Số áo 11
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2001–2005 Rosario Central
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2005–2007 Rosario Central 35 (6)
2007–2010 Benfica 76 (7)
2010–2014 Real Madrid 190 (36)
2014–2015 Manchester United 27 (3)
2015– Paris Saint-Germain 117 (39)
Đội tuyển quốc gia
U-20 Argentina 13 (3)
2008 U-23 Argentina 6 (2)
2008– Argentina 102 (20)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 18 tháng 5 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 6 tháng 7 năm 2019

Ángel Fabián Di María Hernández (sinh ngày 14 tháng 2 năm 1988 ở Rosario, Argentina) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Argentina hiện đang thi đấu cho câu lạc bộ Paris Saint-Germain và đội tuyển Argentina. Anh thường chơi ở vị trí tiền vệ cánh hoặc tiền vệ tấn công, với cái chân trái lắt léo cùng lối chơi đẹp mắt đậm chất Nam Mỹ.

Sau khi bắt đầu sự nghiệp của mình tại Rosario Central, Di María chuyển đến châu Âu trong năm 2007 để chơi cho Benfica, và sau đó 3 năm chuyển đến thi đấu cho Real Madrid với mức phí chuyển nhượng 25 triệu euro. Sau khi giành Champions League với Real Madrid, anh ký hợp đồng với Manchester United vào năm 2014 với mức phí kỷ lục của bóng đá Anh - 59.7 triệu bảng.

Bắt đầu sự nghiệp thi đấu quốc tế cho đội tuyển Argentina từ năm 2008, Di María đã thi đấu hơn 50 trận. Anh đã ghi bàn thắng quyết định giúp Argentina giành huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa hè 2008, cũng như tham dự ba kỳ World Cup và bốn kỳ Copa América.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Di Maria bắt đầu sự nghiệp chơi bóng chuyên nghiệp vào năm 2005 khi anh có trận ra mắt cho Rosario Central. Vào tháng 1 năm 2007, anh có cơ hội để chơi ở Giải ngoại hạng Nga khi Rubin Kazan mời anh ký hợp đồng. Đầu tiên, anh đồng ý, nhưng sau đó, anh đổi ý và từ chối lời đề nghị. Sau khi có màn trình diễn ấn tượng tại giải Vô địch U20 Thế giới chơi cho đội tuyển Argentina, Di Maria thu hút sự chú ý của nhiều đội bóng ở châu Âu và cuối cùng S.L. Benfica ký hợp đồng với anh.

Những kì vọng lớn vào Di Maria đã được chủ tịch Benfica Luis Filipe Vieira phát biểu, khi giới thiệu cầu thủ trẻ người Argentina, ông nói với các cổ động viên rằng ông đã mua được sự thay thế tuyệt vời cho sự ra đi của đội trưởng Simão Sabrosa, một cầu thủ sẽ dẫn dắt Benfica trong 5 mùa giải tới.

Trong tháng đầu tiên ở Lisboa, Di Maria chứng tỏ anh không phải là không xứng với những kì vọng, và các fan nhanh chóng thích anh.

vào ngày 23 tháng 10 năm 2008, Di Maria đưa Benfica dẫn trước trong trận đấu ở cúp UEFA gặp Hertha BSC Berlin. Trận đấu kết thúc với tỉ số 1-1, đồng nghĩa với việc Benfica đã thắng đại diện của nước Đức ở vòng 16 đội.

Di Maria ký hợp đồng mới cùng Benfica vào tháng 10 năm 2009, gia hạn thêm 3 năm so với bản hợp đồng hiện tại của anh, sẽ có thời hạn tới ngày 30 tháng 6 năm 2015 và với mức phí phá hợp đồng tối thiểu là 40 triệu euro. Anh sau đó đã được Diego Maradona ca ngợi và được đánh giá như một ngôi sao mới của bóng đá Argentina.

Vào ngày 27 tháng 7 năm 2007, Benfica trả cho Rosario Central 6 triệu euro cho 80% quyền lợi về thể thao của cầu thủ này. Vào tháng 8 năm 2008, đội bóng Bồ Đào Nha, trả nốt 2 triệu euro cho 20% còn lại, nâng giá trị chuyển nhượng của anh là 8 triệu euro.

Vào ngày 27 tháng 1 năm 2010, Di Maria ghi cú hattrick đầu tiên trong trận thắng Leixões S.C.. Vào ngày sau đó, anh được đưa lên trang nhất của mọi tờ báo thể thao của Bồ Đào Nha.

Angel đã được liên hệ rất nhiều để chuyển tới Manchester City trong năm 2009 và 2010.

Ngày 26 tháng 8 năm 2014, vụ chuyển nhượng Di Maria từ Real Madrid sang Manchester United hoàn tất, lập kỉ lục nước Anh với phí chuyển nhượng 59,7 triệu bảng (tương đương khoảng 75 triệu euro), phá kỉ lục cũ của Torres[2].

Ngày 14 tháng 9 năm 2014, Angle Di Maria có bàn thắng đầu tiên trong màu áo Man Utd bằng một pha đá phạt ngoài vòng 16m50 trong trận Man United 4-0 Queen Park Rangers. Ngày 21 tháng 10 năm 2014, anh có pha làm bàn đẳng cấp nâng tỉ số lên 2-0 trong trận Quỷ đỏ để thua ngược 5-3 trước Leicester City sau khi dẫn trước đối thủ với cách biệt 3 bàn. Trong trận đấu với Everton, anh đã đóng góp một bàn và một đường kiến tạo để Falcao ghi bàn giúp Manchester United thắng Everton chung cuộc 2-1.

Sự nghiệp thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2007, Di Maria được triệu tập vào đội U20 Argentina. Anh được triệu tập cho Giải trẻ Nam Mĩ vào năm 2007 ở Paraguay. Vào năm 2007, anh được triệu tập cho giải U20 Thế giới ở Canada. Họ vô địch giải này và Di Maria ghi 3 bàn.

Vào ngày 28 tháng 1 năm 2008, Di Maria và một số đồng đội của anh ở đội U20 được triệu tập và đội Olympic Argentina cho Thế vận hội 2008. Anh ghi bàn thắng ấn định tỉ số thắng 2-1 trước Hà Lan vào phút thứ 105 của hiệp phụ.

Vào ngày 23 tháng 8, trong khoảng khắc có lẽ là tuyệt vời nhất sự nghiệp anh, Di Maria ghi bàn thắng quyết định của trận đấu, một cú chích bóng từ rìa vòng cấm ở phút 57 giúp Argentina đánh bại Nigeria để giành huy chương vàng Olympic bộ môn bóng đá.

Giải đấu quốc tế đầu tiên trong sự nghiệp của Di María là World Cup 2010 dưới sự dẫn dắt của huyền thoại Diego Maradona. Tại giải đấu này, anh không được bàn thắng nào nhưng đã tạo ra những đường kiến tạo thành bàn để giúp Argentina lọt vào tứ kết và thua Đức với tỉ số 0-4.

Tại Copa América 2011 tổ chức tại quê nhà Argentina, anh chỉ có được một bàn thắng trong trận thắng 3-0 trước Costa Rica ở vòng đấu bảng. Đội tuyển Argentina sau đó lọt vào tứ kết nhưng để thua Uruguay (đội sau đó đăng quang) với tỉ số 4-5 ở loạt sút penalty sau khi hai đội hòa 0-0 trong suốt 120 phút thi đấu chính thức.

Tại World Cup 2014, anh cũng chỉ có được một bàn thắng trong trận thắng Thụy Sĩ với tỉ số 1-0 ở vòng 16 đội. Anh cùng đội tuyển Argentina sau đó lọt vào trận chung kết và để thua sát nút 0-1 trước Đức và giành ngôi á quân.

Tại Copa América 2015 tổ chức tại quốc gia láng giềng Chile, anh có được một cú đúp trong trận thắng đậm 6-1 trước Paraguay ở vòng bán kết, giúp vũ công Tango lọt vào trận chung kết và thua chủ nhà Chile với tỉ số 1-3 ở loạt sút penalty sau khi hai đội hòa 0-0 trong suốt 120 phút thi đấu chính thức.

Tại Copa América Centenario 2016 tổ chức tại Hoa Kỳ, Di María chỉ có được một bàn thắng trong trận thắng 2-1 trước đương kim vô địch Chile. Đội tuyển Argentina cũng sau đó lọt vào trận chung kết gặp lại Chile và lặp lại thành tích tương tự như Copa América 2015.

Tại World Cup 2018 tổ chức tại Nga, Di María đã ghi bàn thắng gỡ hòa 1-1 cho vũ công Tango nhưng sau đó thua chung cuộc 3-4 trước Pháp và đành ngậm ngùi chia tay giải đấu. Đây cũng là bàn thắng duy nhất của anh tại giải đấu này.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 18 tháng 5 năm 2019[3]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Khác1 Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Rosario Central 2005–06 10 0 0 0 4 0 0 0 14 0
2006–07 25 6 0 0 0 0 0 0 25 6
Tổng cộng 35 6 0 0 4 0 0 0 39 6
Benfica 2007–08 26 0 5 0 3 0 10 1 0 0 44 1
2008–09 24 2 1 0 5 1 5 1 0 0 35 4
2009–10 26 5 1 0 4 1 14 4 0 0 45 10
Tổng cộng 76 7 7 0 12 2 29 6 0 0 124 15
Real Madrid 2010–11 35 6 8 0 10 3 0 0 53 9
2011–12 23 5 2 0 7 2 0 0 32 7
2012–13 32 7 9 2 11 0 0 0 52 9
2013–14 34 4 7 4 11 3 0 0 52 11
2014–15 0 0 0 0 0 0 1 0 1 0
Tổng cộng 124 22 27 6 39 8 1 0 191 36
Manchester United 2014–15 27 3 5 1 0 0 0 0 32 4
Paris Saint-Germain 2015–16 29 10 4 0 4 2 8 3 0 0 45 15
2016–17 29 6 3 1 3 3 7 4 1 0 43 14
2017–18 30 11 6 7 4 2 5 1 0 0 45 21
2018–19 29 12 4 3 2 0 8 2 1 2 44 19
Tổng cộng 117 39 17 11 13 7 30 10 2 2 179 69
Tổng cộng sự nghiệp 379 77 52 17 25 9 101 23 7 3 564 127
1 Bao gồm Supercopa de España.

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 6 tháng 7 năm 2019