Bộ Công an (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Bộ Công an Việt Nam
Chính phủ Việt Nam
Vietnam People's Public Security insignia.png
Huy hiệu CAND Việt Nam


Đương nhiệm
Tô Lâm
từ 9 tháng 4 năm 2016


Bổ nhiệm bởiQuốc hội Việt Nam
Thành lập19 tháng 8 năm 1945 (&0000000000000074.00000074 năm, &0000000000000030.00000030 ngày)
Thứ trưởngLê Quý Vương

Bùi Văn Nam
Nguyễn Văn Thành
Nguyễn Văn Sơn
Lương Tam Quang

Nguyễn Duy Ngọc
Địa chỉSố 47 đường Phạm Văn Đồng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Websitemps.gov.vn
Trụ sở Bộ Công An trên đường Phạm Văn Đồng được xây dựng theo kiến trúc hiện đại
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Emblem of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Bộ Công an tiền thân là Bộ Nội vụ là cơ quan công quyền trực thuộc Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; phản gián; điều tra phòng chống tội phạm; phòng cháy chữa cháy và cứu hộ; thi hành án hình sự, thi hành án không phải phạt tù, tạm giữ, tạm giam; bảo vệ, hỗ trợ tư pháp; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Bộ Công an là cơ quan quản lý Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Bộ Công an nhận được nhiều danh hiệu trong đó có Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân,[1] 13 Huân chương Sao vàng và 88 Huân chương Hồ Chí Minh. Hiện thời (2018) bộ có 205 tướng lĩnh.[2].

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ tháng 8 năm 1945, lực lượng Công an đã được thành lập chưa có tên gọi chung: ở Bắc Bộ có tên là Sở Liêm phóng, ở Trung Bộ là Sở trinh sát và ở Nam Bộ là Quốc gia tự vệ cuộc. Ngày 19 tháng 8 năm 1945 được coi là ngày thành lập ngành Công an Việt Nam.[3]

Ngày 21-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất Sở Cảnh sát và Sở Liêm phóng toàn quốc thành một cơ quan đặt tên là Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ. Theo Sắc lệnh, Lê Giản được cử phụ trách Việt Nam Công an vụ.

Ngày 18 tháng 4 năm 1946, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 121-NV/NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ có 3 cấp:[4]

  • Cấp trung ương gọi là Nha Công an Trung ương[4]
  • Cấp kỳ có tên gọi là Sở Công an kỳ[4]
  • Cấp tỉnh có tên gọi là Ty Công an tỉnh, thành phố[4]

Thực hiện Sắc lệnh số 23/SL, ở Bắc Bộ, Sở Liêm phóng đổi thành Sở Công an Bắc Bộ; ở Trung Bộ, Sở Trinh sát đổi thành Sở Công an Trung Bộ; Quốc gia Tự vệ Cuộc Nam Bộ đổi thành Sở Công an Nam Bộ. Ở các tỉnh và thành phố đều đổi thành Ty Công an. Từ sau khi có Sắc lệnh 23-SL đến ngày Toàn quốc Kháng chiến, Nha Công an Việt Nam có ba bộ phận chủ yếu (Văn phòng, Ty tập trung tài liệu, Ty thanh tra).

Giám đốc đầu tiên của Việt Nam Công an vụ là Nguyễn Dương (từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 7 tháng 6 năm 1946). Sau đó Phó Giám đốc Việt Nam Công an vụ Lê Giản lên thay.[4]

Trong kháng chiến chống Pháp, Nha Công an Trung ương đóng tại thung lũng Lũng Cò, thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây có các cơ quan trực thuộc như Ty tình báo, Ty trật tự tư pháp, Ty chính trị. Giám đốc Nha Công an đầu tiên là Lê Giản. Đến tháng 8 năm 1952, Trần Quốc Hoàn thay Lê Giản làm Giám đốc Nha Công an.

Ngày 16 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha công an Trung ương thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Trần Quốc Hoàn ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an. Thứ Bộ Công an có nhiệm vụ chống gián điệp, phản động ở trong nước để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ quân đội nhân dân, bảo vệ kinh tế quốc dân; bảo vệ biên giới, chống đặc vụ và gián điệp quốc tế; Bài trừ lưu manh trộm cướp, bài trừ các tệ nạn xã hội và giữ trật tự an ninh trong nhân dân; Quản trị các trại giam, giáo dục cải tạo phạm nhân. Thứ Bộ Công an gồm có: Văn phòng Thứ Bộ, Vụ Chấp pháp, Phòng Nhân sự, Cục cảnh vệ, Vụ Bảo vệ chính trị, Trường Công an, Vụ trị an hành chính.[5]

Cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8 năm 1953, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Trần Quốc Hoàn được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959, các lực lượng biên phòng đổi thành lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là lực lượng Biên phòng) trực thuộc quyền quản lý của Bộ Công an.

Ngày 28 tháng 7 năm 1956, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 982/TTg về việc thành lập Cục Cảnh sát nhân dân thuộc Bộ Công an để thống nhất việc xây dựng, quản lý, huấn luyện, giáo dục các loại cảnh sát nhân dân trong toàn quốc về nghiệp vụ, chính trị, quân sự, văn hoá. Cục trưởng đầu tiên là Thượng tá Lê Hữu Qua[6]

Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh 34-LCT công bố pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn và pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc của sĩ quan và hạ sĩ quan Cảnh sát nhân dân. Để tăng cường kiện toàn bộ máy lực lượng Công an, đồng thời để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.[7]

Ngày 1 tháng 8 năm 1975, kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa X đã quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành một bộ mới lấy tên là Bộ Nội vụ.

Cuối năm 1979, lực lượng Công an nhân dân vũ trang đổi tên là Bộ đội Biên phòng và được chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Đến năm 1988, Bộ đội Biên phòng lại chuyển sang trực thuộc Bộ Nội vụ, đến cuối năm 1995 thì lại chuyển về Bộ Quốc phòng.

Ngày 7 tháng 5 năm 1998, Quốc hội ra Nghị quyết số 13/1998/NQ-QH10, theo đó Bộ Nội vụ đổi lại tên thành Bộ Công an.[8]

Ngày 9 tháng 6 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 37/1998/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.[9]

Ngày 5 tháng 8 năm 2002, Quốc hội ra Nghị quyết số 02/2002/QH11 về việc quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Theo đó, Bộ Nội vụ mới được thành lập trên cơ sở đổi tên từ Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và tồn tại song song với Bộ Công an.[10]

Ngày 14 tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 136/2003/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an[11]

Ngày 15 tháng 9 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 77/2009/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an. Theo đó, 6 Tổng cục hiện tại của Bộ Công an (An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần, Tình báo, Kỹ thuật) được tách, sát nhập và đổi tên thành 8 Tổng cục đó là (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng-chống Tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp).

Ngày 9 tháng 12 năm 2013, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Quy định số 216-QĐ/TW về thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên ở Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Bộ Công an[12]

Ngày 17 tháng 11 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số 106/2014/NĐ-CP, Quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an và có hiệu lực từ 01/01/2015. Theo đó, 8 Tổng cục (An ninh 1, An ninh 2, Xây dựng Lực lượng, Hậu cần Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát Phòng chống tội phạm, Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội, Cảnh sát Thi hành án và hỗ trợ tư pháp) được sát nhập lại thành 6 Tổng cục (An ninh, Chính trị, Hậu cần-Kỹ thuật, Tình báo, Cảnh sát và Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp). Cũng theo đó, Tổng cục Xây dựng Lực lượng được đổi tên thành Tổng cục Chính trị Công an nhân dân.[13][14][15][16][17]

Trước ngày 6 tháng 8 năm 2018, Bộ Công an gồm có 6 Tổng cục là Tổng cục An ninh (Tổng cục I), Tổng cục Cảnh sát (Tổng cục II), Tổng cục Chính trị (Tổng cục III), Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV), Tổng cục Tình báo (Tổng cục V), Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII). Các Tổng cục VI (Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống Tội phạm) và Tổng cục VII (Tổng cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự an toàn xã hội) đã sáp nhập vào Tổng cục Cảnh sát.

Ngày 6 tháng 8 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Nghị định 01 có hiệu lực cùng ngày quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an, theo đó Bộ Công an không còn cấp Tổng cục.[18] Bộ máy Bộ Công an giảm 6 tổng cục và gần 60 đơn vị cấp Cục, 300 đơn vị cấp Phòng.[19] Bộ máy công an địa phương giảm hơn 500 đơn vị cấp phòng và 1000 đơn vị cấp Đội.[20] Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy của 20 tỉnh thành gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu được sát nhập vào Công an tỉnh, thành phố tương ứng.[21] Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm kinh tế, tham nhũng sáp nhập với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm buôn lậu thành Cục Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế, tham nhũng, buôn lậu. Cục An ninh mạng trực thuôc Bô trưởng Bô Công an và Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Tổng cục cảnh sát sáp nhập thành Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trực thuộc Bộ Công an Việt Nam.[22][23] Cục An ninh Thông tin truyền thông sáp nhập vào Cục An ninh chính trị nội bộ.[24]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo Bộ Công an hiện nay
Chức vụ Họ và tên Quân hàm Năm sinh Quê quán Chức vụ trong Đảng Cộng sản Việt Nam Chức vụ khác
Bộ trưởng Tô Lâm Cấp hiệu Đại tướng Công an.png Đại tướng 1957 Tỉnh Hưng Yên Ủy viên Bộ Chính trị
Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương
Thứ trưởng Thường trực Lê Quý Vương Cấp hiệu Thượng tướng Công an.png Thượng tướng 1956 Tỉnh Phú Thọ Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương
Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Bộ Công an
Thứ trưởng Bùi Văn Nam Cấp hiệu Thượng tướng Công an.png Thượng tướng 1955 Tỉnh Nam Định Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương
Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an
Thứ trưởng Nguyễn Văn Thành Cấp hiệu Thượng tướng Công an.png Thượng tướng 1957 Tỉnh Ninh Bình Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương
Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
Thứ trưởng Nguyễn Văn Sơn Cấp hiệu Trung tướng Công an.png Trung tướng 1961 Đà Nẵng Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương Thủ trưởng Cơ quan quản lý thi hành án hình sựCơ quan quản lý tạm giam, tạm giữ, Bộ Công an
Thứ trưởng Lương Tam Quang Cấp hiệu Trung tướng Công an.png Trung tướng 1965 Tỉnh Hưng Yên Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương


Thứ trưởng Nguyễn Duy Ngọc Cấp hiệu Thiếu tướng Công an.png Thiếu tướng 1964 Tỉnh Hưng Yên Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an


Tổ chức Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng ủy Công an Trung ương Việt Nam là cơ quan lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Công an nhân dân Việt Nam và là cơ quan nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, chính sách, Bảo vệ An ninh Quốc gia và trật tự an toàn xã hội; lãnh đạo mọi mặt công tác trong công an.[4]

Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ủy Công an Trung ương do Bộ Chính trị chỉ định gồm một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong Công an nhân dân và một số Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác ngoài Công an nhân dân, một số đồng chí công tác thuộc Đảng bộ Công an Trung ương, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.[4]

Tổ chức chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo Bộ Công an

  • Bộ trưởng
  • Thứ trưởng thường trực và các Thứ trưởng khác

Theo Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 6 tháng 8 năm 2018 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Công an, qua đó Bộ Công an không còn cấp tổng cục. 6 tổng cục của Bộ Công an không còn gồm: Tổng cục An ninh (Tổng cục 1: Trung tướng Nguyễn Chí Thành); Tổng cục Cảnh sát (Tổng cục 2: Trung tướng Trần Văn Vệ); Tổng cục Chính trị (Tổng cục 3: Trung tướng Nguyễn Thanh Nam); Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục 4: Trung tướng Lê Văn Minh); Tổng cục Tình báo (Tổng cục 5: Trung tướng Đặng Xuân Loan); Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Tổng cục 8: Trung tướng Nguyễn Ngọc Bằng). Trong khi đó, 2 đơn vị tương đương cấp tổng cục là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (K10) và Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động (K20) được giữ nguyên. Các cơ quan sau khi tái cơ cấu: [25][26]

  1. Văn phòng Bộ Công an
  2. Thanh tra Bộ Công an
  3. Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương
  4. Cục Đối ngoại
  5. Cục Pháp chế và cải cách hành chính tư pháp
  6. Cục Khoa học chiến lược và lịch sử
  7. Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc
  8. Cục Tổ chức Cán bộ
  9. Cục Đào tạo
  10. Cục Công tác đảng và công tác chính trị
  11. Cục Truyền thông Công an nhân dân
  12. Cục Kế hoạch và tài chính
  13. Cục An ninh điều tra
  14. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
  15. Cục An ninh nội địa
  16. Cục An ninh đối ngoại
  17. Cục An ninh chính trị nội bộ
  18. Cục An ninh kinh tế
  19. Cục Tình báo kinh tế, khoa học, kỹ thuật[27]
  20. Cục Xử lý tin và hỗ trợ tình báo[27]
  21. Cục Tình báo Châu Á[27]
  22. Cục Tình báo Mỹ Âu Phi[27]
  23. Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra
  24. Cục Cảnh sát hình sự
  25. Cục Cảnh sát giao thông
  26. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu
  27. Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy
  28. Cục Cảnh sát truy nã tội phạm
  29. Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường
  30. Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
  31. Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
  32. Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
  33. Cục Cảnh sát quản lý tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
  34. Cục Công nghệ thông tin
  35. Cục Y tế
  36. Cục Hậu cần
  37. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ
  38. Cục Ngoại tuyến
  39. Cục Hồ sơ nghiệp vụ
  40. Cục Quản lý xuất nhập cảnh
  41. Cục Quản lý xây dựng và doanh trại
  42. Cục Trang bị và kho vận
  43. Cục Viễn thông và cơ yếu
  44. Cục Công nghiệp an ninh
  45. Viện Khoa học và công nghệ
  46. Viện Khoa học Hình sự
  47. Bộ Tư lệnh Cảnh vệ
  48. Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động
  49. Học viện An ninh Nhân dân
  50. Học viện Cảnh sát Nhân dân
  51. Học viện Chính trị Công an nhân dân
  52. Trường Đại học An ninh Nhân dân.
  53. Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân
  54. Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
  55. Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an Nhân dân
  56. Trường Cao đẳng An ninh nhân dân I
  57. Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
  58. Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
  59. Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II
  60. Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân III
  61. Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân V
  62. Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân VI
  63. Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ Trang
  64. Trường Văn Hóa I
  65. Trường Văn Hóa II
  66. Trường Văn Hóa III
  67. Bệnh viện 19-8
  68. Bệnh viện 199
  69. Bệnh viện 30-4
  70. Bệnh viện Y học cổ truyền

Công an Tỉnh, Thành phố trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ huy lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận định đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phát biểu tại Hội nghị Công An Toàn quốc lần thứ 72, lãnh đạo Đảng Cộng sản, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào ngày 26/12/2016 chỉ đạo công an phải "là lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuyệt đối kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường xã hội chủ nghĩa...Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải là những người hết lòng trung thành với Đảng, chỉ biết 'còn Đảng, còn mình'." [28]

Tranh luận về con số tướng lĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tới giữa năm 2018 bộ Công an có 205 tướng lĩnh.[2]

Tại Quốc hội trong phiên thảo luận về dự án Luật công an nhân dân sửa đổi sáng 14-6, có tranh luận về con số tướng lãnh ngành Công an.

Đại biểu Nguyễn Tạo đại diện Lâm Đồng cho biết thời gian qua người dân có nhiều băn khoăn về cả thời gian lên tướng và số lượng cấp tướng: "Hiện nay việc phong hàm lên nhanh, chất lượng tướng lĩnh cũng gây tranh cãi, thậm chí có tướng lĩnh vi phạm pháp luật như đã xảy ra ở một vài vụ việc gần đây".

Đại biểu Đỗ Ngọc Thịnh (Khánh Hoà) nói rằng tình hình an ninh trật tự thời bình không quá phức tạp, trong khi kinh tế đất nước đang khó khăn mà "tướng lĩnh hơi bị nhiều".

Vấn đề Công an xã[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm chiều 7-6-2018 cho biết Công an xã đang được duy trì thì từ trước đến nay về bản chất không phải là công an, họ là lực lượng không chính quy. Lực lượng này không có quân hàm, không phải là sĩ quan, có trang phục riêng để phân biệt công an xã với công an chính quy do Bộ Công an quản lý. Đang có dự đưa công an huyện từ 3-5 người về xã hoạt động. Số công an xã mà hiện không thể vào được chính quy sẽ được tổ chức lại như hình thức của lực lượng dân phòng phường.[29]

“Thực tế cho thấy, việc lực lượng công an xã không được đào tạo chính quy về chuyên môn, nghiệp vụ đã gặp không ít khó khăn trong công tác bảo đảm an ninh cơ sở. Trong khi đó, việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn hiện nay chủ yếu do công an xã đảm nhiệm nhưng lực lượng này còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng. Công an xã là lực lượng bán chuyên trách nên chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ.[30]

Cải cách tinh gọn bộ máy công an[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2018, Thực hiện chủ trương, nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ Công an tiến hành, triển khai đề án 106 sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo phương châm Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở. Việc tinh gọn bộ máy trong lực lượng Công an là chủ trương đúng đắn, phù hợp thực tế khách quan, hợp lòng dân.[30] Bộ không tổ chức cấp trung gian, nâng cao chất lượng các cục trực thuộc Bộ và sắp xếp, thu gọn các đơn vị sự nghiệp công lập, báo chí, y tế và sáp nhập 20 đơn vị cảnh sát phòng cháy, chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với Công an tỉnh thành phố để bảo đảm gắn kết, phát huy tối đa nguồn lực trong thực thi nhiệm vụ.[31]

Các Tổ chức Quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế Interpol (tiếng Anh: International Criminal Police Organization)
  • Hiệp hội Cảnh sát các Quốc gia Đông Nam Á (Aseanapol)
  • Hiệp hội Học viện cảnh sát quốc tế (INTERPA)
  • Hội nghị các Bộ trưởng Nội vụ các nước ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC)
  • Hội nghị những người đứng đầu Cơ quan An ninh Nội địa các nước ASEAN (MACOH)
  • Hội nghị Phòng chống ma túy Quốc tế (tiếng Anh: "International Drug Enforcement Conference" hay "IDEC")

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Quá trình phát triển Bộ Công An”. 
  2. ^ a ă “Đại biểu tranh luận 'thời bình mà phong nhiều tướng tá thế?'. 
  3. ^ “Quá trình trưởng thành của lực lượng CAND Việt Nam qua những dấu mốc lịch sử”. 
  4. ^ a ă â b c d đ “Nghị định 121-NV/NĐ 18/4/1946”. 
  5. ^ “Sắc lệnh 141/SL ngày 16/2/1953”. 
  6. ^ “Thành lập Cục Cảnh sát nhân dân”. 
  7. ^ “Pháp lệnh 34/LCT ngày 16/7/1962”. 
  8. ^ “Nghị quyết đổi tên Bộ Nội vụ thành Bộ Công an”. 
  9. ^ “QĐ ban hành quy chế dân chủ”. 
  10. ^ “NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ Nội vụ”. 
  11. ^ “THÔNG TƯ”. 
  12. ^ “Thực hiện chế độ chính ủy tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động 3/2014”. 
  13. ^ “Bộ Công an sẽ chỉ còn 6 Tổng cục”. 
  14. ^ “Thủ tướng điều động 3 trung tướng Tổng cục trưởng của Bộ Công an”. 
  15. ^ “Thủ tướng điều động một số cán bộ lãnh đạo”. 
  16. ^ “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng điều động một số cán bộ lãnh đạo Công an”. 
  17. ^ Quyết định số 86/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc bổ nhiệm Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Bằng giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII), Bộ Công an Nguyễn Tấn Dũng 19/01/2015
  18. ^ Thái Sơn (7 tháng 8 năm 2018). “Bộ Công an giảm 6 tổng cục và 60 đơn vị cấp cục”. Báo Thanh niên. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018. 
  19. ^ “Bộ Công an triển khai Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức; sơ kết công tác công an 6 tháng đầu năm 2018”. 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  20. ^ “Chi tiết về nội dung Bộ Công an tinh gọn bộ máy hoạt động”. 
  21. ^ Bá Đô (12 tháng 8 năm 2018). “Hàng loạt tướng công an được bổ nhiệm làm phó thủ trưởng cơ quan điều tra”. VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2018. 
  22. ^ Thái Sơn, Báo Thanh niên (14 tháng 8 năm 2018). “Bổ nhiệm Cục trưởng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng CNC”. VOV. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018. 
  23. ^ Bộ trưởng Công an bổ nhiệm thủ trưởng hai cơ quan điều tra
  24. ^ “Sáp nhập nhiều cục nghiệp vụ của Bộ Công an”. 
  25. ^ “Danh sách các đơn vị mới thuộc Bộ Công an”. Báo An ninh thủ đô. 7 tháng 8 năm 2018. 
  26. ^ “Bộ Công an sẽ không còn những tổng cục nào?”. vietnamnet. 7 tháng 8 năm 2018. 
  27. ^ a ă â b “Trao cờ thi đua của Chính phủ, Bộ Công an cho các đơn vị xuất sắc”. 
  28. ^ TBT Nguyễn Phú Trọng: ‘Công an phải bảo vệ Đảng’, BBC, 27.12.2016
  29. ^ Bộ trưởng Tô Lâm: 'Không thể có hai nhóm công an', tuoitre.vn, 8.6.2018
  30. ^ a ă “Niềm tin lớn khi lực lượng được tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hướng về cơ sở”. 
  31. ^ a ă “Bộ trưởng Tô Lâm nói về đề án sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an”. 
  32. ^ “Tô Lâm trải lòng về cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy công an”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]