Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
UEFA Euro 2020
UEFA Euro 2020 Logo.svg
Live It. For Real.
Chi tiết giải đấu
Nước chủ nhà
Thời gian11 tháng 6 - 11 tháng 7 năm 2021
Số đội24
Địa điểm thi đấu11 (tại 11 thành phố chủ nhà)
Vị trí chung cuộc
Vô địch Ý (lần thứ 2)
Á quân Anh
Thống kê giải đấu
Số trận đấu51
Số bàn thắng142 (2,78 bàn/trận)
Số khán giả1.099.278 (21.554 khán giả/trận)
Vua phá lướiBồ Đào Nha Cristiano Ronaldo
Cộng hòa Séc Patrik Schick
(mỗi cầu thủ 5 bàn)
Cầu thủ
xuất sắc nhất
Ý Gianluigi Donnarumma
Cầu thủ trẻ
xuất sắc nhất
Tây Ban Nha Pedri
Thủ môn
xuất sắc nhất
Anh Jordan Pickford
2016
2024

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 (tiếng Anh: UEFA Euro 2020) là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 16, giải vô địch bóng đá quốc tế của châu Âu tổ chức 4 năm 1 lần bởi Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA).[1] Để kỷ niệm "sinh nhật" lần thứ 60 của Giải vô địch châu Âu, cựu chủ tịch UEFA Michel Platini đã nói rằng giải đấu tổ chức ở 1 số quốc gia như là 1 sự kiện 1 lần "trong mơ", với 11 thành phố thuộc 11 quốc gia UEFA, mỗi thành phố có một địa điểm tổ chức giải đấu.[2] Đương kim vô địch Bồ Đào Nha, đội giành chức vô địch giải vô địch bóng đá châu Âu 2016 ở Pháp, đã bị loại sau khi thất bại trước Bỉ ở vòng 16 đội.[3] Ý đã giành chức vô địch lần thứ hai trong lịch sử sau khi vượt qua Anh trong trận chung kết bằng loạt đá luân lưu 11m sau khi hai đội hòa nhau với tỉ số 1–1 sau 120 phút thi đấu chính thức.[4]

Do đại dịch COVID-19 tại châu Âu vào năm 2020 nên giải đấu đã bị lùi sang mùa hè năm 2021,[5] nhưng vẫn giữ tên gọi UEFA Euro 2020 cũng như các địa điểm tổ chức ban đầu.[6] Bên cạnh những quy định đặc biệt nhằm phòng chống dịch COVID-19, UEFA cũng đã tăng số cầu thủ dự bị được phép vào sân trong một trận đấu,[7] và lần đầu tiên sử dụng hệ thống trợ lý trọng tài video (VAR) tại giải vô địch bóng đá châu Âu.[8]

Ban đầu, 13 địa điểm đã được chọn để tổ chức giải đấu, nhưng sau đó 2 chủ nhà đã bị loại bỏ: Grimbergen (Bruxelles) vào tháng 12 năm 2017 sau khi sân Eurostadium không thể được xây dựng,[9]Dublin vào tháng 4 năm 2021 do không thể đảm bảo được việc khán giả có thể tới sân. Ban đầu, Tây Ban Nha muốn tổ chức giải đấu tại Bilbao nhưng sau đó đã chuyển sang Sevilla để cho phép các khán giả có thể vào sân xem trận đấu.[10] UEFA chọn sân vận động OlimpicoRoma để tổ chức trận đấu mở màn giữa ÝThổ Nhĩ Kỳ, trong khi sân vận động WembleyLuân Đôn lần thứ 2 được tổ chức các trận bán kết và chung kết,[11] trước đây đã từng làm điều này tại giải đấu năm 1996 trên sân vận động ban đầu.

Giải đấu nhận được sự ủng hộ của người hâm mộ và các bình luận viên, với số bàn thắng nhiều nhất trong một trận đấu ở giải vô địch châu Âu kể từ vòng bảng, và chỉ có hai trận đấu không có bàn thắng. Phong cách cầm còi cũng được khen ngợi, với việc hạn chế sử dụng VAR và những quyết định của họ cũng được thực hiện một cách nhanh chóng trên sân. Bỉ, Thụy Điển, và Pháp đã thua trước những đội bóng xếp hạng thấp hơn.

Quá trình xin đăng cai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi một số quốc gia đã bày tỏ sự quan tâm đến việc giành quyền đăng cai Euro 2020,[12][13][14][15][16][17][18][19] thì chủ tịch UEFA Michel Platini đề xuất tại một cuộc họp báo vào ngày 30 tháng 6 năm 2012, một ngày trước chung kết giải vô địch bóng đá châu Âu 2012, thay vì có một quốc gia chủ nhà (hoặc chủ nhà chung bởi nhiều quốc gia), Euro 2020 có thể trải rộng trên "12 hoặc 13 thành phố" trên khắp châu lục.[20] Vào thời điểm đó, UEFA đã sử dụng một hệ thống các nước chủ nhà tương tự cho "Elite Round" của Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu, nơi bảy bảng đấu được tổ chức tại bảy quốc gia khác nhau.

Quyết định thể thức châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 6 tháng 12 năm 2012, UEFA đã công bố vòng chung kết 2020 sẽ được tổ chức tại nhiều thành phố trên khắp châu Âu để đánh dấu kỷ niệm 60 năm thành lập giải đấu.[21][22] Việc lựa chọn các thành phố chủ nhà không đảm bảo một suất vé vào thẳng vòng bảng cho đội tuyển quốc gia của nước đó.

UEFA lý luận rằng việc tổ chức giải đấu theo dạng Liên châu Âu là quyết định hợp lý trong lúc Khủng hoảng nợ công châu Âu diễn ra.[23][24] Kế hoạch của UEFA nhận được phản ứng trái chiều trên khắp châu Âu.[25] Các nhà phê bình đã trích dẫn và cho rằng việc mở rộng thể thức (từ 31 trận đấu với 16 quốc gia thành 51 trận đấu với 24 quốc gia) và các chi phí bổ sung có liên quan là yếu tố quyết định dẫn đến chỉ một quốc gia duy nhất (Thổ Nhĩ Kỳ) tham gia đấu thầu một cách nghiêm túc.[26]

Địa điểm ứng viên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách cuối cùng của các ứng cử chủ nhà được xuất bản bởi UEFA vào ngày 26 tháng 4 năm 2014. Các quốc gia, các thành phố chủ nhà được quyết định bởi Ủy ban điều hành UEFA vào ngày 19 tháng 9 năm 2014. Có hai ứng cử cho gói "Vòng chung kết" (trong đó có 1 ứng cử đấu thầu thành công, được đánh dấu bằng màu xanh dương, tổ chức bán kết và chung kết) và 19 ứng cử cho gói "Tiêu chuẩn" (trong đó có 12 ứng cử đã đấu thầu thành công, được đánh dấu bằng màu xanh lá cây, tổ chức vòng tứ kết và vòng bảng, và những ứng cử được đánh dấu bàng màu vàng sẽ tổ chức vòng 16 đội và vòng bảng); Brussels, được đánh dấu bằng màu đỏ, ban đầu đã được chọn nhưng sau đó bị loại khỏi danh sách các địa điểm tổ chức giải đấu bởi UEFA vào ngày 7 tháng 12 năm 2017.[11][27][28]

Cộng hòa Ireland, quốc gia mà được đánh dấu bằng màu đỏ, ban đầu được chọn nhưng bị UEFA loại khỏi danh sách địa điểm đăng cai vào ngày 23 tháng 4 năm 2021. Cùng ngày, UEFA cũng thông báo các trận đấu tại Tây Ban Nha sẽ được chuyển từ thành phố Bilbao sang Sevilla.[10]

  Đấu thầu thành công cho vòng bảng và vòng 16 đội
  Đấu thầu thành công cho vòng bảng và tứ kết
  Đấu thầu thành công cho bán kết và chung kết. Sau đó đã thêm: Vòng bảng và vòng 16 đội
  Đấu thầu thành công cho vòng bảng và vòng 16 đội tại lần đầu nhưng sau đó đã rút khỏi danh sách
  Đấu thầu thành công cho vòng bảng và vòng 16 đội nhưng sau đó đã chuyển sang địa điểm khác
  Đấu thầu không thành công (bị từ chối theo đánh giá của UEFA để không đáp ứng các yêu cầu đấu thầu hoặc bị loại bằng cách bỏ phiếu)
Quốc gia Thành phố Địa điểm Sức chứa Gói Kết quả
 Azerbaijan Baku Sân vận động Olympic 68.700 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và tứ kết
 Belarus Minsk Sân vận động Dinamo 34.000 (được mở rộng đến 39.000) Gói tiêu chuẩn Từ chối
 Bỉ Brussels Sân vận động Euro (sân vận động quốc gia mới được đề xuất) 50.000 (khả năng 62.613) Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
(sau đó đã hủy bỏ)
 Bulgaria Sofia Sân vận động Quốc gia Vasil Levski 43.000 (được mở rộng đến 50.000) Gói tiêu chuẩn Từ chối
 Đan Mạch Copenhagen Sân vận động Parken 38.065 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
 Anh Luân Đôn Sân vận động Wembley 90.000 Gói chung kết
(Gói tiêu chuẩn rút lui)
Bán kết và chung kết
Vòng bảng và vòng 16 đội (sau đó đã thêm)
 Đức Munich Allianz Arena 75.000 Gói tiêu chuẩn, Gói chung kết Vòng bảng và tứ kết
 Hungary Budapest Puskás Aréna 56.000 (sân vận động mới 68.000 được đề xuất) Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
 Israel Jerusalem Sân vận động Teddy 34.000 (được mở rộng đến 53.000) Gói tiêu chuẩn Từ chối
 Ý Roma Sân vận động Olimpico 72.698 Gói tiêu chuẩn Trận mở màn, vòng bảng và tứ kết
 Macedonia Skopje Philip II Arena 33.460 Gói tiêu chuẩn Từ chối
 Hà Lan Amsterdam Amsterdam Arena[a] 54.990 (được mở rộng đến khoảng 56.000) Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
 Cộng hòa Ireland Dublin Sân vận động Aviva 51.700 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
(sau đó đã bị hủy bỏ)
 România Bucharest Arena Națională 55.600 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
 Nga Sankt-Peterburg Sân vận động Krestovsky 68.134 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và tứ kết
 Scotland Glasgow Hampden Park 52.063 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
 Tây Ban Nha Bilbao San Mamés 53.289 Gói tiêu chuẩn Vòng bảng và vòng 16 đội
(sau đó đã chuyển sang La CartujaSevilla)
 Thụy Điển Solna, Stockholm Friends Arena 54.329 Gói tiêu chuẩn Bị loại
 Wales Cardiff Sân vận động Thiên niên kỷ 74.500 Gói tiêu chuẩn Bị loại
  1. ^ Đã đổi tên thành Johan Cruyff Arena vào năm 2018

Ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và lùi thời gian[sửa | sửa mã nguồn]

Bùng phát đại dịch và quyết định trì hoãn[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 tại châu Âu đã gây ra mối lo ngại về tác động nguy hiểm của đại dịch lên các cầu thủ, nhân viên và du khách đến với 12 quốc gia chủ nhà của giải.[29] Tại Đại hội UEFA vào đầu tháng Ba, chủ tịch UEFA Aleksander Čeferin cho rằng tổ chức này vẫn đang lạc quan rằng vẫn có thể giải quyết được tình huống này, trong khi thư ký Theodore Theodoridis tuyên bố rằng UEFA vẫn đang duy trì mối liên lạc với Tổ chức Y tế Thế giới và chính phủ các quốc gia về virus corona.[30] Ảnh hưởng của đại dịch tới bóng đá ngày càng nghiêm trọng vào cuối tháng 3, khi nhiều trận đấu thuộc giải quốc nội và UEFA bắt đầu trong điều kiện không có khán giả. Cho tới ngày 13 tháng 3 năm 2020, những trận đấu sắp tới của các giải đấu thuộc hệ thống UEFA đã bị hoãn, trong khi nhiều giải đấu lớn của châu Âu cũng đều bị tạm hoãn, trong đó có Bundesliga, La Liga, Ligue 1, Premier LeagueSerie A.[31]

UEFA đã tổ chức một cuộc họp video vào ngày 17 tháng 3 năm 2020 cùng đại diện của 55 quốc gia thành viên, đại diện Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Thế giới và hội đồng Hiệp hội các Câu lạc bộ Châu Âu và của các giải quốc nội châu Âu, để cùng thảo luận về giải pháp đối phó với sự bùng phát này đối với các giải đấu quốc nội và châu Âu, trong đó có Euro 2020.[32] Tại cuộc họp này, UEFA đã tuyên bố giải đấu sẽ bị lùi lại một năm, đồng thời đề xuất giải đấu được tổ chức từ ngày 11 tháng 6 đến ngày 11 tháng 7 năm 2021.[33] Quyết định lùi lại này giúp giảm áp lực lên các dịch vụ công cộng ở các quốc gia bị ảnh hưởng, đồng thời cũng tạo điều kiện cho lịch thi đấu của các giải đấu quốc nội châu Âu đã bị tạm hoãn có thể hoàn thành mùa giải của họ.[5] Một ngày sau đó, văn phòng hội đồng FIFA đã phê duyệt việc điều chỉnh lịch thi đấu Trận đấu Quốc tế FIFA. Kết quả là, Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ mở rộng, giải đấu được tổ chức vào tháng 6 và tháng 7 năm 2021, đã bị hoãn lại.[34] Vào ngày 23 tháng 4 năm 2020, UEFA đã xác nhận rằng giải đấu vẫn sẽ giữ tên gọi là UEFA Euro 2020.[6][35]

Kế hoạch khán giả và sự thay đổi địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5 năm 2020, Čeferin tuyên bố rằng về nguyên tắc, giải đấu sẽ diễn ra ở 12 thành phố chủ nhà của giải đấu. Tuy nhiên, ông không chỉ ra khả năng phải giảm bớt số thành phố chủ nhà, khi mà ba quốc gia chủ nhà không chắc việc các trận đấu có thể diễn ra theo lịch thi đấu mới.[36] Địa điểm tổ chức và lịch thi đấu của giải đã được Ủy ban điều hành UEFA xem xét lại trong cuộc họp vào ngày 17 tháng 6 năm 2020.[37] Trong cuộc họp đó, UEFA đã xác nhận rằng tất cả 12 thành phố chủ nhà ban đầu vẫn sẽ duy trì việc làm chủ nhà của giải đấu trong năm 2021, và thông qua việc điều chỉnh lịch thi đấu.[38][39] Tuy nhiên, Čeferin đã tuyên bố vào tháng 10 năm 2020 rằng việc giải đấu được tổ chức ở ít hơn 12 quốc gia chủ nhà ban đầu vẫn có thể xảy ra.[40] Một tháng sau đó, UEFA tuyên bố rằng họ "dự định tổ chức Euro 2020 theo một định dạng và các địa điểm mà đã được xác nhận đầu năm nay và chúng tôi đang theo sát tất cả các thành phố chủ nhà về khâu chuẩn bị".[41] Họ cũng cho biết rằng mỗi chủ nhà đang thảo luận với UEFA và chính quyền y tế địa phương về việc địa điểm đăng cai có thể tổ chức các trận đấu với sức chứa tối đa, từ 100% đến 50% sức chứa, 33% sức chứa hay không có khán giả. Mỗi thành phố chủ nhà được lựa chọn hai hay ba kế hoạch trong số 4 lựa chọn này. Lệnh hạn chế này cũng có thể bao gồm việc chỉ những khán giả địa phương được phép đến sân xem trận đấu. Quyết định cuối cùng về việc phương án nào sẽ được áp dụng lên từng địa điểm ban đầu đã được quyết định vào ngày 5 tháng 3 năm 2021.[42][43] Vào tháng 10 năm 2020, các trận đấu do UEFA tổ chức sẽ bị hoãn tổ chức ở Armenia và Azerbaijan cho đến khi có thông báo mới do chiến tranh Nagorno-Karabakh 2020.[44] Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng đến kế hoạch của các trận đấu Euro 2020 được tổ chức tại Baku.[45] Lệnh hạn chế này đã được dỡ bỏ vào tháng 12 năm 2020 sau thỏa thuận đình chiến giữa hai quốc gia này.[46]

Trong bài phỏng vấn vào đầu năm mới, Čeferin nói rằng, "Việc sản xuất vắc-xin đã bắt đầu và tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ được đón toàn bộ khán giả vào mùa hè. Cho đến bây giờ, kế hoạch là tổ chức giải ở cả 12 quốc gia. Tất nhiên, sẽ có phương án dự phòng nếu một quốc gia có vấn đề. Chúng tôi sẵn sàng tổ chức giải đấu ở 11, 10 hoặc 9 thành phố... và thậm chí là chỉ ở một quốc gia, nếu cần thiết. Tuy nhiên, tôi đã chắc chắn đến 99.9% rằng chúng ta sẽ tổ chức giải vô địch châu Âu ở cả 12 quốc gia, như kế hoạch."[47][48] Vào ngày 27 tháng 1 năm 2021, UEFA đã gặp gỡ các hiệp hội của các quốc gia chủ nhà để thảo luận về các vấn đề trong việc tổ chức, và tái khẳng định rằng giải đấu sẽ được tổ chức tại 12 thành phố.[49] Hạn chót cho các thành phố chủ nhà để xác nhận sức chứa dự kiến của họ đã được lùi tới ngày 7 tháng 4 năm 2021,[50] và quyết định cuối cùng đối với các thành phố chủ nhà và khán giả đến sân ban đầu đã được Ủy ban điều hành UEFA quyết định vào ngày 19 tháng 4 năm 2021.[51] Ngày hôm sau, UEFA cũng đã thông báo rằng Daniel Koch, cựu giám đốc trung tâm các bệnh truyền nhiễm tại Văn phòng Y tế Công cộng Liên bang Thụy Sĩ, sẽ đảm nhận công việc cố vấn y khoa của giải đấu đối với những vấn đề liên quan đến đại dịch COVID-19.[52] Vào tháng 2 năm 2021, Hiệp hội bóng đá Israel đề nghị tổ chức một số trận đấu thuộc giải đấu quốc nội có tỷ lệ tiêm chủng cao. Tuy nhiên, UEFA đã từ chối việc này, đồng thời nhắc lại cam kết của họ đối với 12 thành phố chủ nhà.[53] Trong cuộc phỏng vấn vào tháng 3 năm 2021, Čeferin cho biết, "Chúng tôi có một số kịch bản, nhưng chúng tôi đảm bảo một điều rằng sẽ không có lựa chọn việc tổ chức bất cứ trận đấu nào của Euro 2020 trên sân vận động không có khán giả. Mỗi chủ nhà phải đảm bảo việc sẽ có khán giả đến theo dõi những trận đấu của họ." Sau đó, UEFA cũng đã tuyên bố rằng sẽ không có thành phố chủ nhà nào bị loại bỏ nếu họ phải tổ chức các trận đấu mà không có khán giả. Tuy nhiên, UEFA sẽ cần phải cân nhắc rằng liệu có hợp lý hay không khi tổ chức trận đấu mà không có khán giả, hay là những trận đấu đó nên được di chuyển sang những địa điểm khác.[54] Cũng trong tháng đó, Thủ tướng Anh Boris Johnson đã đề nghị UEFA tổ chức thêm các trận đấu của giải tại Anh nếu bất cứ địa điểm nào phải di chuyển.[55]

Vào ngày 9 tháng 4 năm 2021, UEFA đã thông báo rằng 8 trong số 12 quốc gia chủ nhà ban đầu đã xác nhận kế hoạch đón khán giả vào sân, theo đó sức chứa các sân vận động của họ dao động trong khoảng từ 25% đến 100%. Chỉ có Bilbao, Dublin, MunichRoma chưa quyết định kế hoạch của họ, vì vậy từng quốc gia chủ nhà ban đầu đó đã được kéo dài thời gian đến hạn ngày 19 tháng 4 năm 2021 để xác nhận sức chứa của những địa điểm này.[56] Vào ngày 14 tháng 4, UEFA đã thông báo rằng Roma đã đảm bảo được việc cho phép người hâm mộ đến với giải đấu, và đã được xác nhận là địa điểm đăng cai giải đấu.[57] Vào ngày 19 tháng 4, họ đã thông báo rằng ba quốc gia chủ nhà còn lại đã được gia hạn đến ngày 23 tháng 4, thời điểm mà UEFA sẽ đưa ra quyết định cuối cùng.[58] Do nhu cầu trong việc hoàn thiện thông tin phòng vé, các chủ nhà sẽ có thời hạn tới ngày 28 tháng 4 để quyết định có nên giữ nguyên việc giới hạn số lượng khán giả đến sân hay không, hay được tăng sức chứa tối đa của sân.[59]

Vào ngày 23 tháng 4, UEFA thông báo rằng Sevilla sẽ thay thế Bilbao làm thành phố chủ nhà, trong khi các trận đấu ở Dublin sẽ được chuyển sang Sankt-Peterburg đối với vòng bảng và Luân Đôn đối với vòng 16 đội.[10] Do đại dịch COVID-19 tại Cộng hòa Ireland, Hiệp hội bóng đá Cộng hòa Ireland không thể có được sự đảm bảo từ chính phủ Irelandhội đồng thành phố Dublin trong việc cho phép khán giả vào sân.[60][61][62] Trong khi đó, Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha (RFEF) cho biết các điều kiện vệ sinh mà chính phủ Basque đưa ra để tổ chức các trận đấu tại Bilbao là "không thể tuân thủ được", và bởi vậy sẽ không cho phép khán giả vào sân.[63] Sau khi bị loại bỏ khỏi danh sách chủ nhà, hội đồng thành phố Bilbao cho rằng UEFA và RFEF "chịu trách nhiệm trực tiếp về việc chúng tôi không tổ chức sự kiện thể thao này và việc đơn phương hủy bỏ các hợp đồng cam kết của chúng tôi", và đe dọa việc hành động pháp lý để bồi thường tài chính.[64]

Cũng vào ngày 23 tháng 4, UEFA thông báo rằng các chính quyền địa phương đã đảm bảo được "số lượng khán giả tối thiểu đến sân là 14,500" cho các trận đấu được tổ chức tại Munich, bởi vậy mà thành phố này đã được xác nhận là thành phố chủ nhà của 4 trận đấu.[10] Tuy nhiên, chính quyền địa phương BavariaBộ nội vụ Đức sau đó đều nhắc lại lập trường của họ rằng không có sự đảm bảo nào như vậy, và việc cho phép khán giả vào sân sẽ phụ thuộc vào tình hình thực tế của đại dịch khi mà giải đấu diễn ra.[65] Vài ngày sau, trong cuộc phỏng vấn với báo chí Đức, chủ tịch UEFA Čeferin phủ nhận việc UEFA phải đảm bảo rằng các trận đấu phải diễn ra trong điều kiện có khán giả, đồng thời thừa nhận "chính quyền địa phương sẽ quyết định trước trận đấu liệu họ có cho phép khán giả đến sân hay không."[66][67]

Địa điểm đăng cai các trận bán kết và chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Ý Sergio Mattarella trò chuyện cùng thủ tướng Anh Boris Johnson trước trận chung kết

Việc tổ chức các trận đấu bán kết và chung kết tại sân vận động Wembley đã bị đe dọa do những hạn chế cách ly tại Anh mà các khán giả và 2,500 VIP sẽ phải tuân theo. Sân vận động Puskás ArénaBudapest đã được xác nhận làm địa điểm thay thế, vì Hungary sẽ không có hạn chế nhập cảnh nào khi đi du lịch trong khu vực Schengen và có thể tổ chức các trận đấu với sức chứa tối đa.[68] Người phát ngôn Liên đoàn bóng đá Hungary cho biết họ đã "sẵn sàng tổ chức bất cứ sự kiện bóng đá cấp cao nào".[69] Tuy nhiên, UEFA vẫn tự tin rằng Wembley có thể tổ chức trận chung kết, khi mà liên đoàn và chính phủ Anh đã bàn luận về những ngoại lệ trong cách ly,[70] nhưng không chỉ ra việc thay đổi địa điểm.[71] Bộ trưởng Kit Malthouse cho rằng chính quyền đang thực hiện một cách "hết sức có thể" để tổ chức được trận chung kết,[72] trong khi thủ tướng Boris Johnson nói rằng họ sẽ cố gắng tạo "chỗ ở hợp lý" cho UEFA trong khi vẫn đặt sức khỏe cộng đồng lên hàng đầu.[73] Thủ tướng Ý Mario Draghi đề xuất rằng trận chung kết nên được tổ chức ở Roma do số ca nhiễm COVID-19 tại Anh đang tăng lên.[74] Một tuần sau đó, báo cáo cho rằng các quan chức và giám đốc điều hành đi xem các trận đấu sẽ không cần phải tự cách ly, mặc dù họ sẽ bị hạn chế và bắt buộc phải ở trong một "bong bóng bóng đá".[75][76]

Thay đổi về luật[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 31 tháng 3 năm 2021, Ủy ban điều hành UEFA đã thông qua việc thay tối đa năm cầu thủ trong các trận đấu của giải (cùng với quyền thay người thứ sáu trong hiệp phụ).[7] Tuy nhiên, mỗi đội chỉ có ba cơ hội thay người, cùng với việc cho phép cơ hội thay người thứ tư trong hiệp phụ, không bao gồm những sự thay đổi người được đưa ra trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp, trước khi bắt đầu hiệp phụ và trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp phụ.[77] Quyền thay năm cầu thủ đã được IFAB phê duyệt trong đại dịch COVID-19 là kết quả của lịch thi đấu dày đặc, điều này đã tạo ra gánh nặng lớn hơn cho các cầu thủ.[78]

Đầu tháng 4 năm 2021, UEFA cũng cho biết họ đang quyết định việc cho phép tăng số lượng cầu thủ đăng ký tham gia giải từ số lượng 23 cầu thủ như thường lệ, sau những yêu cầu của các huấn luyện viên của các đội tuyển quốc gia đề phòng việc dịch COVID có thể bùng phát trong nội bộ đội bóng, cũng như nhằm giảm bớt sự mệt mỏi của các cầu thủ do lịch thi đấu dày đặc của mùa giải trước đó.[79] Vào ngày 27 tháng 4, Ủy ban thi đấu đội tuyển quốc gia UEFA đã thông qua việc tăng số lượng cầu thủ đăng ký tham gia giải đấu lên 26 cầu thủ, điều này còn tùy thuộc vào sự xác nhận của Ủy ban điều hành UEFA.[80] Vào ngày 4 tháng 5 năm 2021, Ủy ban điều hành đã xác nhận việc đăng ký đội hình 26 cầu thủ. Tuy nhiên, đội tuyển vẫn chỉ có thể gọi tối đa 23 cầu thủ trong đội hình cho mỗi trận đấu của giải (12 trong số đó là cầu thủ dự bị), nhằm đáp ứng Luật bóng đá. 23 cầu thủ đó phải bao gồm ba thủ môn. Họ cũng thông báo rằng sau trận đấu đầu tiên của mỗi đội, các thủ môn vẫn có thể bị thay thế do không đủ thể lực, ngay cả khi vẫn còn các thủ môn khác trong đội hình.[81]

Những giờ nghỉ water break đã được thông qua nhằm giúp các cầu thủ có thể uống nước trong những chiếc bình cá nhân.[82] Cooling break, giờ nghỉ lần đầu tiên xuất hiện tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 cũng đã được áp dụng cho các trận đấu thi đấu trong nhiệt độ cao.[83]

Các quy tắc đặc biệt do dịch COVID-19[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 4 tháng 5 năm 2021, Ủy ban điều hành UEFA đã thông qua một số quy tắc đặc biệt cho vòng chung kết của giải đấu do đại dịch COVID-19 tại châu Âu:[81][84]

  • Nếu một nhóm các cầu thủ trong đội bị cách ly bắt buộc hoặc phải tự cách ly theo quyết định từ các quan chức y tế quốc gia hoặc địa phương do xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, trận đấu sẽ tiếp tục được diễn ra theo dự kiến với điều kiện đội bóng đó vẫn còn ít nhất 13 cầu thủ (trong đó có ít nhất một thủ môn).
  • Nếu đội bóng không thể có được số lượng cầu thủ tối thiểu theo yêu cầu do xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, trận đấu có thể được lùi lại trong vòng 48 giờ tiếp theo kể từ ngày diễn ra trận đấu ban đầu bởi ban điều hành UEFA, điều này tùy thuộc vào các phương án khả thi để sắp xếp lại lịch thi đấu. Thêm vào đó, UEFA có thể chuyển địa điểm của trận đấu đã bị lùi lịch thi đấu tới một địa điểm dự phòng nếu thấy phù hợp.
  • Nếu trận đấu không thể được lên lịch lại, Cơ quan kiểm soát, đạo đức và kỷ luật của UEFA sẽ quyết định vấn đề này. Đội bóng sẽ phải chịu trách nhiệm cho việc trận đấu không thể diễn ra và sẽ bị xử thua 3–0.
  • Nếu bất kỳ thành viên nào của tổ trọng tài được chỉ định bị buộc phải thay thế do xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2, UEFA có thể chỉ định một trọng tài khác có cùng quốc tịch với một trong các đội bóng hoặc một trọng tài không thuộc danh sách của FIFA.

Số ca mắc COVID-19 trong dịp Euro 2020[sửa | sửa mã nguồn]

Scotland, khoảng 2,000 ca mắc COVID-19 có liên quan tới Euro 2020.[85] Hơn nữa, một số cầu thủ, cổ động viên và nhân viên đã có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19.[86][87][88][89][90][91]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

  Đội bóng đã vượt qua vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
  Đội bóng không vượt qua vòng loại
  Không phải là thành viên UEFA

Tất cả 55 đội tuyển quốc gia của UEFA, bao gồm 12 đội tuyển quốc gia chủ nhà của 6 bảng đấu, phải thi đấu vòng loại để chọn ra 24 đội lọt vào vòng chung kết.[92][93] Khi các thành phố chủ nhà được bổ nhiệm bởi UEFA vào tháng 9 năm 2014, trước khi vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 diễn ra, có thể có một số đội tuyển quốc gia từ các thành phố chủ nhà không thể lọt vào vòng chung kết.

Lễ bốc thăm vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 được tổ chức vào ngày 2 tháng 12 năm 2018 tại Trung tâm Hội nghị DublinDublin, Cộng hòa Ireland.[94]

Vòng loại truyền thống bắt đầu thi đấu từ tháng 3 năm 2019, thay vì ngay vào tháng 9 năm 2018 sau giải vô địch bóng đá thế giới 2018, và kết thúc vào tháng 11 năm 2019. Phần lớn thể thức được giữ nguyên, tuy nhiên chỉ có 20 trong số 24 suất tham dự vòng chung kết được quyết định từ vòng loại chính, để lại 4 suất chưa được xác định. Sau khi công nhận Kosovo là thành viên của UEFA vào tháng 5 năm 2016, UEFA đã thông báo rằng 55 đội tuyển vào thời điểm đó sẽ được bốc thăm chia thành 10 bảng sau khi kết thúc vòng bảng của UEFA Nations League (5 bảng 5 đội và 5 bảng 6 đội, với bốn đội lọt vào vòng chung kết của Nations League được đảm bảo sẽ được bốc thăm vào các bảng 5 đội, với hai đội tuyển đứng đầu trong mỗi bảng vượt qua vòng loại. Các trận đấu vòng loại được diễn ra theo hình thức 2 trận 1 đợt vào tháng 3, tháng 6, tháng 9, tháng 10 và tháng 11 năm 2019.[95]

Với sự ra đời của Giải vô địch bóng đá các quốc gia châu Âu bắt đầu từ năm 2018,[95][96][97][98] Giải vô địch bóng đá các quốc gia châu Âu 2018-19 được kết hợp với vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu, cung cấp cho các đội tuyển một cơ hội khác để lọt vào vòng chung kết Euro. Bốn đội tuyển từ mỗi hạng đấu (A, B, C, D) mà không thể giành vé vào vòng chung kết Euro sẽ thi đấu play-off tại nhánh đấu thuộc hạng đấu đó, các trận được diễn ra vào tháng 10 và tháng 11 năm 2020. Các đội giành chiến thắng tại các nhánh play-off thuộc các hạng đấu, được quyết định bởi hai trận bán kết "một lượt" (đội xếp hạng tốt nhất với đội xếp hạng thứ tư tốt nhất, và đội xếp hạng thứ hai tốt nhất với đội xếp hạng thứ ba tốt nhất, được diễn ra tại sân nhà của các đội được xếp hạng cao hơn trong nhánh) và một trận chung kết "một lượt" (Hai đội thắng tại hai trận bán kết được bốc thăm để xác định đội chủ nhà trong trận chung kết nhánh), sẽ giành vé cùng với 20 đội tuyển đã lọt vào vòng chung kết Euro thông qua vòng loại trước đó.[98]

Các đội tuyển vượt qua vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số 24 đội đã vượt qua vòng loại, 19 đội đã từng góp mặt tại giải đấu năm 2016. Trong số đó có BỉÝ là hai đội có thành tích bất bại trong tất cả trận đấu vòng loại (thắng 10 trên 10 trận đấu),[99][100] đương kim vô địch châu Âu Bồ Đào Nha và đương kim vô địch thế giới Pháp, cùng với Đức cũng vượt qua vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 13 liên tiếp.[101] Phần LanBắc Macedonia lần đầu tiên góp mặt tại giải vô địch bóng đá châu Âu, khi mà trước đó họ chưa từng vượt qua vòng loại của một giải đấu lớn nào.[102][103] Scotland, đội đồng chủ nhà của giải đấu, đã lần đầu tiên vượt qua vòng loại của một giải đấu lớn kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 1998, và cũng là lần đầu tiên họ vượt qua vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu kể từ năm 1996.[104] Hà LanĐan Mạch đã trở lại sau khi không thể góp mặt tại giải đấu năm 2016, đồng thời Hà Lan lần đầu tiên góp mặt tại một giải đấu lớn kể từ Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[105][106] Lần đầu tiên, Áo, Hungary, SlovakiaWales là các đội đã tham gia liên tiếp hai giải vô địch bóng đá châu Âu.[107][108] Hy Lạp, nhà vô địch của giải đấu năm 2004, là đội cựu vô địch duy nhất của giải đấu không thể vượt qua vòng loại, trở thành đội bóng bỏ lỡ giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ hai liên tiếp và là giải đấu lớn thứ ba liên tiếp mà họ bỏ lỡ.[109] Albania, Iceland, Bắc Ireland, Cộng hòa IrelandRomânia là các đội bóng không thể vượt qua vòng loại sau khi góp mặt trong vòng chung kết năm 2016.[110]

Trong số 11 quốc gia chủ nhà, bảy đội đã vượt qua vòng loại và vào thẳng vòng chung kết, trong khi Hungary và Scotland là những đội đã vượt qua vòng play-off. Romania đã bị loại tại bán kết của vòng play-off,[111]Azerbaijan đã bị loại tại vòng bảng ở vòng loại.[112] Cộng hòa Ireland, ban đầu được chọn là chủ nhà của giải đấu, cũng đã bị loại tại vòng bán kết của vòng play-off,[111] tuy nhiên sau đó đã bị loại bỏ khỏi danh sách chủ nhà của giải.

Đội tuyển[A] Tư cách qua vòng loại Ngày vượt qua vòng loại Tham dự giải đấu lần trước[B]
 Bỉ Nhất bảng I 10 tháng 10, 2019 (2019-10-10) 5 (1972, 1980, 1984, 2000, 2016)
 Ý Nhất bảng J 12 tháng 10, 2019 (2019-10-12) 9 (1968, 1980, 1988, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Nga[C] Nhì bảng I 13 tháng 10, 2019 (2019-10-13) 11 (1960, 1964, 1968, 1972, 1988, 1992, 1996, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Ba Lan Nhất bảng G 13 tháng 10, 2019 (2019-10-13) 3 (2008, 2012, 2016)
 Ukraina Nhất bảng B 14 tháng 10, 2019 (2019-10-14) 2 (2012, 2016)
 Tây Ban Nha Nhất bảng F 15 tháng 10, 2019 (2019-10-15) 10 (1964, 1980, 1984, 1988, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Pháp Nhất bảng H 14 tháng 11, 2019 (2019-11-14) 9 (1960, 1984, 1992, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Thổ Nhĩ Kỳ Nhì bảng H 14 tháng 11, 2019 (2019-11-14) 4 (1996, 2000, 2008, 2016)
 Anh Nhất bảng A 14 tháng 11, 2019 (2019-11-14) 9 (1968, 1980, 1988, 1992, 1996, 2000, 2004, 2012, 2016)
 Cộng hòa Séc[D] Nhì bảng A 14 tháng 11, 2019 (2019-11-14) 9 (1960, 1976, 1980, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Phần Lan Nhì bảng J 15 tháng 11, 2019 (2019-11-15) 0 (lần đầu)
 Thụy Điển Nhì bảng F 15 tháng 11, 2019 (2019-11-15) 6 (1992, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Croatia Nhất bảng E 16 tháng 11, 2019 (2019-11-16) 5 (1996, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Áo Nhì bảng G 16 tháng 11, 2019 (2019-11-16) 2 (2008, 2016)
 Hà Lan Nhì bảng C 16 tháng 11, 2019 (2019-11-16) 9 (1976, 1980, 1988, 1992, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012)
 Đức[E] Nhất bảng C 16 tháng 11, 2019 (2019-11-16) 12 (1972, 1976, 1980, 1984, 1988, 1992, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Bồ Đào Nha Nhì bảng B 17 tháng 11, 2019 (2019-11-17) 7 (1984, 1996, 2000, 2004, 2008, 2012, 2016)
 Thụy Sĩ Nhất bảng D 18 tháng 11, 2019 (2019-11-18) 4 (1996, 2004, 2008, 2016)
 Đan Mạch Nhì bảng D 18 tháng 11, 2019 (2019-11-18) 8 (1964, 1984, 1988, 1992, 1996, 2000, 2004, 2012)
 Wales Nhì bảng E 19 tháng 11, 2019 (2019-11-19) 1 (2016)
 Hungary Nhất path A play-off 12 tháng 11, 2020 (2020-11-12) 3 (1964, 1972, 2016)
 Slovakia Nhất path B play-off 12 tháng 11, 2020 (2020-11-12) 1 (2016)
 Scotland Nhất path C play-off 12 tháng 11, 2020 (2020-11-12) 2 (1992, 1996)
 Bắc Macedonia Nhất path D play-off 12 tháng 11, 2020 (2020-11-12) 0 (lần đầu)
  1. ^ Chữ nghiêng chỉ ra đội tuyển từ 1 trong số 12 hiệp hội chủ nhà.
  2. ^ Chữ đậm chỉ ra vô địch cho năm đó. Chữ nghiêng chỉ ra chủ nhà cho năm đó.
  3. ^ Từ năm 1960 đến năm 1988, Nga được tranh tài với tư cách là Liên Xô và năm 1992 với tư cách là CIS.
  4. ^ Từ năm 1960 đến năm 1980, Cộng hòa Séc được tranh tài với tư cách là Tiệp Khắc.
  5. ^ Từ năm 1972 đến năm 1988, Đức được tranh tài với tư cách là Tây Đức.

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

13 địa điểm ban đầu đã được UEFA lựa chọn và công bố vào ngày 19 tháng 9 năm 2014.[113] Tuy nhiên, Ủy ban điều hành UEFA đã loại bỏ Brussels làm thành phố chủ nhà vào ngày 7 tháng 12 năm 2017 do sự trì hoãn với việc xây dựng sân vận động Euro. Bốn trận đấu (ba trận vòng bảng, một trận vòng 16 đội) ban đầu được dự kiến sẽ được tổ chức ở Brussels đã được phân bổ lại cho sân vận động WembleyLuân Đôn.[9] Vào ngày 23 tháng 4 năm 2021, UEFA thông báo rằng do không đảm bảo đủ điều kiện cho khán giả đến sân do đại dịch COVID-19, sân vận động AvivaDublin đã bị loại bỏ khỏi danh sách các thành phố đăng cai giải đấu. Bốn trận đấu được tổ chức tại sân này được chuyển sang sân vận động KrestovskySaint-Petersburg với ba trận vòng bảng và sân vận động Wembley ở Luân Đôn cho một trận đấu thuộc vòng 16 đội. Tương tự, UEFA đã chuyển địa điểm tổ chức bốn trận đấu ở Tây Ban Nha sang địa điểm khác, sân La CartujaSeville sẽ được tổ chức thay thế cho sân San MamésBilbao.[10]

Vào ngày 7 tháng 12 năm 2017, nó cũng đã được thông báo rằng trận khai mạc sẽ diễn ra tại sân vận động OlimpicoRoma, đã chọn trước Amsterdam, Glasgow, và Saint-Petersburg. UEFA quyết định rằng, nếu họ đủ điều kiện, trận khai mạc sẽ có sự góp mặt của Ý.[9][114]

Trong số 11 thành phố và quốc gia được chọn, 7 thành phố và 6 quốc gia chưa bao giờ tổ chức trận đấu tại vòng chung kết giải vô địch châu Âu trước đây. Bilbao không phải là địa điểm đăng cai khi mà Tây Ban Nha tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu 1964, và không thành phố nào ở Azerbaijan, Đan Mạch, Hungary, România, Nga, hoặc Scotland đã tổ chức giải đấu trước đó. Trong số 11 sân vận động được chọn, chỉ có 2 sân đã tổ chức một trận đấu tại giải vô địch châu Âu trước đó: sân vận động Olimpico (19681980) và Johan Cruyff Arena (2000). Sân vận động Wembley ban đầu đã tổ chức các trận đấu và trận chung kết tại giải vô địch bóng đá châu Âu 1996, nhưng mặc dù trên cùng một địa điểm, sân này được phân loại vào một sân vận động khác với sân vận động Wembley hiện tại.

Anh Luân Đôn Ý Roma Đức Munich
Sân vận động Wembley Sân vận động Olimpico Allianz Arena
Sức chứa: 90.000 Sức chứa: 70.634 Sức chứa: 70.000
Wembley-Stadion 2013 16x10.jpg L'Olimpico - panoramio.jpg München - Allianz-Arena (Luftbild).jpg
Azerbaijan Baku Nga Sankt-Peterburg Hungary Budapest
Sân vận động Olympic Sân vận động Krestovsky Puskás Aréna
Sức chứa: 68.700 Sức chứa: 68.134 Sức chứa: 67.215
Baku Olympic Stadium panorama 1.JPG Spb 06-2017 img40 Krestovsky Stadium (cropped).jpg Puskás Aréna 05.jpg
Tây Ban Nha Seville România Bucharest Hà Lan Amsterdam Scotland Glasgow Đan Mạch Copenhagen
La Cartuja Arena Națională Johan Cruyff Arena Hampden Park Sân vận động Parken
Sức chứa: 60.000 Sức chứa: 55.600 Sức chứa: 54.990 Sức chứa: 51.866 Sức chứa: 38.065
Panoramio - V&A Dudush - Estadio Olímpico 57 619.jpg Bucharest (8272279241).jpg Amsterdam Arena Roof Open.jpg Hampden Park (Glasgow) aerial view cropped.jpg Parken from the air 2.JPG

Mỗi thành phố sẽ tổ chức ba trận đấu vòng bảng và một trận đấu ở vòng 16 đội hoặc tứ kết, riêng Saunt-Petersburg sẽ tổ chức sáu trận đấu vòng bảng, và Luân Đôn sẽ tổ chức hai trận đấu ở vòng 16 đội. Phân bổ trận đấu cho 11 sân vận động như sau:

Chủ nhà vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành phố chủ nhà đã được phân chia thành sáu cặp đấu, được thành lập trên cơ sở sức mạnh thể thao (giả sử tất cả các đội chủ nhà đủ điều kiện), cân nhắc địa lý và các hạn chế về an ninh/chính trị. Các cặp đấu đã được phân bổ cho các bảng bằng phương tiện của một bốc thăm ngẫu nhiên vào ngày 7 tháng 12 năm 2017. Mỗi quốc gia chủ nhà đủ điều kiện sẽ diễn ra tối thiểu hai trận đấu trên sân nhà. Các cặp đấu địa điểm bảng sau đây đã được công bố:[9]

Các tiêu chí sau đây được áp dụng để xác định trận đấu trên sân nhà của các đội chủ nhà trong cùng một bảng:[115]

  • Nếu cả hai đội chủ nhà vượt qua vòng bảng trực tiếp hoặc cả hai đều giành quyền vào vòng play-off, một bốc thăm sẽ xác định đội nào sẽ thi đấu cả ba trận đấu vòng bảng trên sân nhà (tức là sẽ tổ chức trận đấu đối đầu) và đội nào sẽ chỉ thi đấu hai trận đấu trên sân nhà.
  • Nếu một đội chủ nhà vượt qua vòng bảng trực tiếp và đội còn lại cũng không vượt qua vòng bảng trực tiếp, đội chủ nhà vượt qua vòng bảng trực tiếp sẽ thi đấu cả ba trận đấu vòng bảng trên sân nhà và đội chủ nhà còn lại, nếu vượt qua vòng bảng, sẽ chỉ thi đấu hai trận đấu.
  • Nếu một đội chủ nhà giành quyền vào vòng play-off và đội còn lại bị loại hoàn toàn, đội chủ nhà trong vòng play-off, nếu vượt qua vòng bảng, sẽ thi đấu cả ba trận đấu vòng bảng trên sân nhà.
  • Không có hành động nào là cần thiết nếu cả hai đội chủ nhà không vượt qua vòng bảng.

Nếu một đội chủ nhà trong vòng play-off không vượt qua vòng loại, đội thắng path sẽ chiếm vị trí của chủ nhà trong lịch thi đấu và do đó sẽ thi đấu hai hoặc ba trận đấu dựa trên các tiêu chí trên tại thành phố chủ nhà của chủ nhà tương ứng không vượt qua vòng loại. Lễ bốc thăm diễn ra vào ngày 22 tháng 11 năm 2019, lúc 12:00 CET, tại trụ sở UEFA ở Nyon, Thụy Sĩ (cùng với lễ bốc thăm vòng play-off).[116] Trong lễ bốc thăm, chỉ cần thiết cho bảng B (Đan Mạch và Nga), hai quả bóng đã được chuẩn bị, với bốc thăm đầu tiên sẽ tổ chức ba trận đấu.[117]

Phân bổ các trận đấu vòng bảng trên sân nhà cho các nước chủ nhà
Bảng Chủ nhà Tình trạng của chủ nhà Bốc thăm? Số trận đấu trên sân nhà
Ba Hai
A  Azerbaijan Bị loại ở vòng bảng vòng loại Không  Ý Không
 Ý Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết
B  Đan Mạch Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết  Đan Mạch  Nga
 Nga Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết
C  Hà Lan Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết Không  Hà Lan Không
 România Bị loại thông qua vòng play-off
D  Anh Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết Không  Anh  Scotland
 Scotland Đủ điều kiện thông qua vòng play-off
E  Cộng hòa Ireland[a] Bị loại thông qua vòng play-off Không  Tây Ban Nha Không
 Tây Ban Nha Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết
F  Đức Đủ điều kiện trực tiếp vào chung kết Không  Đức  Hungary
 Hungary Đủ điều kiện thông qua vòng play-off
  1. ^ a b Vào tháng 4 năm 2021, Dublin đã bị loại với tư cách là chủ nhà của giải đấu, với các trận đấu vòng bảng của họ được phân bổ lại cho Saint-Petersburg, đội đã là chủ nhà của bảng B.

Giới hạn khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Do đại dịch COVID-19 và các hạn chế về tụ tập công cộng, nhiều địa điểm tại giải đấu không thể hoạt động hết sức chứa. UEFA yêu cầu mỗi chủ nhà đưa ra một kế hoạch khán giả kết hợp với chính quyền địa phương/quốc gia và các cơ quan y tế của họ. Đội chủ nhà đã được đưa ra hạn chót là ngày 7 tháng 4 năm 2021 để thông báo kế hoạch của họ với UEFA. Vào ngày 9 tháng 4, UEFA thông báo rằng tám trong số các chủ nhà của giải đấu đã xác nhận các sức chứa sân vận động của họ, dao động từ 25% đến 100%. Bốn chủ nhà còn lại (Bilbao, Dublin, MunichRoma) đã được gia hạn cho đến ngày 23 tháng 4 để nộp các sức chứa địa điểm của họ.[56] Vào ngày 14 tháng 4, UEFA thông báo rằng Roma cũng đã xác nhận sức chứa địa điểm của mình.[57] Vào ngày 23 tháng 4, sức chứa địa điểm cho Munich cũng đã được xác nhận, trong khi Bilbao đã được thay thế bởi Seville, có thể đảm bảo khán giả. Ngoài ra, Dublin đã bị loại bỏ với tư cách là đội chủ nhà, vì nó không thể đảm bảo khán giả có thể tham dự.[10]

Nhiều trận đấu trên các sân vận động này không thể lấp đầy sức chứa tối đa cho phép của sân, nhất là các trận đấu vòng bảng của Hà Lan được chơi trên sân Johan Cruyff Arena chỉ được lấp đầy khoảng không quá môt nghìn chỗ ngồi. Trận đấu giữa Anh và Croatia chỉ đón 18,497 khán giả vào sân, so với sức chứa tối đa cho phép là 22,500, khi mà UEFA cho rằng những hạn chế cách ly có thể là nguyên nhân khiến cho khán giả ít đến sân hơn.[118]

Sức chứa được phép của các địa điểm tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020
Thành phố Địa điểm Sức chứa tiêu chuẩn Sức chứa cho phép
Amsterdam Johan Cruyff Arena 54.990 Ít nhất 25% (khoảng 12.000), có thể tăng[119]
Baku Sân vận động Olympic 68.700 50% (khoảng 34.350), không cho phép khán giả nước ngoài không phải là công dân của các đội tham gia[120]
Bucharest Arena Națională 55.600 Ít nhất 25% (khoảng 13.000) cho vòng bảng và 50% (khoảng 25,000) cho vòng 16 đội[121][122]
Budapest Puskás Aréna 67.215 Sức chứa đầy đủ, tùy thuộc vào khán giả đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt vào sân vận động
Copenhagen Sân vận động Parken 38.065 40% (khoảng 15,900) cho trận đấu đầu tiên với Phần Lan và 67% (khoảng 25,000) cho hai trận đấu còn lại ở vòng bảng và trận đấu vòng 16 đội.[123]
Glasgow Hampden Park 51.866 25% (khoảng 12.000)[124]
Luân Đôn Sân vận động Wembley 90.000 25% (khoảng 22,500) cho vòng bảng và trận đấu đầu tiên của vòng 16 đội, 50% (khoảng 45,000) cho trận đấu thứ hai của vòng 16 đội và 67% (khoảng 60,000) cho các trận bán kết và chung kết[125]
Munich Allianz Arena 70.000 Ít nhất 20% (14.500)[126]
Roma Sân vận động Olimpico 70.634 Ít nhất 25% (khoảng 17.659), có thể tăng[127]
Sankt-Peterburg Sân vận động Krestovsky 68.134 Ít nhất 50% (khoảng 34.067), có thể tăng
Seville La Cartuja 60.000 30% (khoảng 18.000)

Đại bản doanh của đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi đội tuyển chọn một "đại bản doanh của đội tuyển" để ở lại giữa các trận đấu. Các đội tuyển sẽ đào tạo và cư trú tại các địa điểm này trong suốt giải đấu, đi đến các trận đấu được tổ chức cách xa đại bản doanh của họ. Không giống như các giải đấu trước, mỗi đội tuyển có thể thiết lập đại bản doanh của họ ở bất cứ đâu do thể thức liên châu Âu, mà không có bất kỳ nghĩa vụ nào ở lại bất kỳ quốc gia chủ nhà nào.[128]

Các đại bản doanh được lựa chọn bởi 20 đội tuyển được vượt qua vòng loại trực tiếp đã được UEFA công bố vào ngày 27 tháng 1 năm 2020.[129] Các đại bản doanh của các đội vượt qua vòng play-off đã được công bố trong năm 2021.[130]

Đội tuyển Đại bản doanh
 Áo Seefeld in Tirol, Áo
 Bỉ Tubize, Bỉ
 Croatia Rovinj, Croatia[a]
 Cộng hòa Séc Prague, Cộng hòa Séc[b]
 Đan Mạch Helsingør, Đan Mạch
 Anh Burton upon Trent, Anh
 Phần Lan Repino, Sankt-Peterburg, Nga
 Pháp Clairefontaine-en-Yvelines, Pháp
 Đức Herzogenaurach, Đức
 Hungary Telki, Hungary
 Ý Coverciano, Florence, Ý
 Hà Lan Zeist, Hà Lan
 Bắc Macedonia Bucharest, România
 Ba Lan Sopot, Ba Lan[c]
 Bồ Đào Nha Budapest, Hungary
 Nga Novogorsk (ru), Khimki, Russia
 Scotland Hurworth-on-Tees, Anh[133]
 Slovakia Sankt-Peterburg, Nga[d]
 Tây Ban Nha Las Rozas de Madrid, Tây Ban Nha
 Thụy Điển Gothenburg, Thụy Điển[e]
 Thụy Sĩ Roma, Ý
 Thổ Nhĩ Kỳ Baku, Azerbaijan
 Ukraina Bucharest, România
 Wales Baku, Azerbaijan
  1. ^ Trước đây là St Andrews, Scotland,[129] nhưng đã chuyển tới đây do những hạn chế cách ly vì ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 tại Scotland[131]
  2. ^ Trước đây là Currie, Edinburgh, Scotland,[129] nhưng đã chuyển tới đây do những hạn chế cách ly vì ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 tại Scotland[132]
  3. ^ Ban đầu là Portmarnock, Cộng hòa Ireland[129]
  4. ^ Ban đầu là Castleknock, Cộng hòa Ireland[134][135][136]
  5. ^ Ban đầu là Maynooth, Cộng hòa Ireland[129]

Bốc thăm[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm cho vòng chung kết được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 năm 2019, lúc 18:00 CET (19:00 giờ địa phương, EET) tại RomexpoBucharest, România.[112][137][138][139] 24 đội được chia vào sáu bảng đấu, mỗi bảng 4 đội. Danh tính của bốn đội vượt qua vòng play-off không được biết tại thời điểm bốc thăm và được xác định là các đội thắng vòng play-off các nhánh từ A đến D.[140] Nếu có bảng đấu nào mà không thể hoàn thành tại thời điểm bốc thăm cho vòng chung kết thì một buổi lễ bốc thăm khác sẽ được diễn ra sau vòng play-off vào ngày 1 tháng 4 năm 2020,[1] nhưng UEFA đã xác nhận rằng không cần phải tiến hành thêm lễ bốc thăm nào khác sau khi danh tính của 20 đội bóng vào thẳng vòng chung kết và 16 đội bóng góp mặt tại vòng play-off được công bố.[117]

Các đội bóng được phân loại hạt giống dựa trên bảng xếp hạng tổng thể của vòng loại châu Âu dựa trên kết quả của họ tại Vòng loại giải vô địch bóng đá châu Âu 2020. Các nhóm bốc thăm tiêu chuẩn được phân bổ như sau:[141]

  • Nhóm hạt giống số 1: Đội nhất các bảng xếp hạng 1–6
  • Nhóm hạt giống số 2: Đội nhất các bảng xếp hạng 7–10, đội nhì các bảng xếp hạng 1–2 (xếp hạng tổng thể là 11–12)
  • Nhóm hạt giống số 3: Đội nhì các bảng xếp hạng 3–8 (xếp hạng tổng thể là 13–18)
  • Nhóm hạt giống số 4: Đội nhì các bảng xếp hạng 9–10 (xếp hạng tổng thể là 19–20), các đội thắng vòng play-off nhánh A–D (danh tính các đội chưa được biết tại thời điểm bốc thăm)

Vì hai đội chủ nhà trong cùng một bảng đấu không thể cùng nằm trong một nhóm hạt giống, Hội đồng khẩn cấp của UEFA đã có thể phải hoán đổi một đội chủ nhà với đội xếp hạng thấp hơn vào nhóm hạt giống cao hơn, hay hoán đổi một đội chủ nhà với đội xếp hạng cao hơn vào nhóm hạt giống thấp hơn (dựa trên nguyên tắc sự thay đổi sẽ có ảnh hưởng thấp nhất đối với việc phân loại hạt giống ban đầu). Tuy nhiên, họ không cần phải điều chỉnh thêm bất cứ việc phân loại hạt giống nào.

Quá trình bốc thăm khởi đầu với nhóm hạt giống số 1 và kết thúc với nhóm hạt giống số 4, khi mà một đội được bốc thăm và được gán vào bảng đấu đầu tiên. Sau đó tiếp tục với các vị trí khác của bảng đấu (để quyết định lịch thi đấu). Trong quá trình bốc thăm, các tiêu chí sau được áp dụng (bao gồm các đội vẫn có thể vượt qua vòng play-off):[142]

  • Nghiễm nhiên được gán vào bảng đấu: Các đội chủ nhà được gán vào các bảng đấu của họ dựa trên việc ghép cặp các thành phố chủ nhà.
  • Hạn chế xung đột: Vì lý do chính trị, UEFA đã thực hiện việc ghép cặp các đội nhằm hạn chế xung đột giữa các đội đó. Ngoài việc không thể được xếp vào cùng một bảng đấu, các đội không phải là chủ nhà sẽ không thể được bốc vào cùng một bảng đấu có quốc gia chủ nhà gây nên sự xung đột với họ, ngay cả khi đội chủ nhà không thể vượt qua vòng loại. Chỉ có một trường hợp hạn chế xung đột, Nga / Ukraina, đã được áp dụng trong quá trình bốc thăm vòng bảng. Những trường hợp hạn chế xung đột khác giữa các đội vượt qua vòng loại và các đội tham gia vòng play-off là Kosovo / Bosnia và HerzegovinaKosovo / Serbia, nhưng những đội trong các cặp đó đều trong vòng play-off và nằm trong nhóm hạt giống số 4 tại thời điểm bốc thăm, và sẽ không nằm trong cùng một bảng; cặp Kosovo / Nga cũng không thể xảy ra,[143] nhưng họ cũng sẽ không thể nằm trong cùng một bảng đấu do sự ghép cặp các nhánh play-off cần thiết cho sự phân bổ các chủ nhà. Tuy nhiên, những điều kiện hạt chế xung đột này cũng sẽ không phải là ngoại lệ đối với vòng đấu loại trực tiếp.

Chia bảng cho các nhánh tại vòng play-off[sửa | sửa mã nguồn]

Do thể thức của vòng play-off khiến việc đoán trước được tất cả các tình huống có thể xảy ra là không thể, Ủy ban điều hành UEFA phải chờ đợi giải quyết một số vấn đề liên quan đến việc bốc thăm cho vòng chung kết của giải đấu cho đến khi vòng bảng của vòng loại kết thúc.[115] Việc tránh để một trong số các nhánh play-off có hai đội chủ nhà là không thể đối với UEFA, dẫn tới việc România (chủ nhà bảng C) và Hungary (chủ nhà bảng F) được bốc thăm vào cùng nhánh A. Vì vậy, đội thắng nhánh play-off này cần được gán vào hai bảng đấu trong lễ bốc thăm vòng chung kết. Để đảm bảo cho điều này, nhánh A được ghép cặp cùng với nhánh D (nhánh không có chủ nhà), từ đó đảm bảo cho các tình huống cụ thể cho từng đội có thể vượt qua vòng loại. Lễ bốc thăm đã diễn ra vào ngày 22 tháng 11 năm 2019, lúc 12:00 CET, tại trụ sở UEFA ở Nyon, Thụy Sĩ (cùng với việc bốc thăm vòng play-off), nơi quyết định thứ tự ưu tiên để phân chia nhánh A cho các bảng đấu ở vòng chung kết.[117]

Hai quả bóng đã được chuẩn bị trước và có chứa tên của hai bảng đấu của các đội chủ nhà được nhắc tới (bảng C cho Romania và bảng F cho Hungary). Quả bóng đầu tiên được bốc thăm đã xác định được ("nhóm ưu tiên") được phân chia cho nhánh A, trừ đội chủ nhà của quả bóng thứ hai được bốc thăm ("nhóm không ưu tiên") là đội thắng nhánh A. Trong quá trình bốc thăm, Bảng F đã được chọn làm bảng đấu ưu tiên, dẫn đến các kết quả có thể xảy ra sau:

  • Bulgaria, Hungary hoặc Iceland giành chiến thắng ở nhánh A: Đội thắng nhánh A sẽ vào bảng F, và đội thắng nhánh D sẽ vào bảng C. (Vì România thất bại ở bán kết của vòng play-off nên đây là khả năng phân chia bảng đã xảy ra.)
  • România giành chiến thắng ở nhánh A: România sẽ vào bảng C, và đội thắng nhánh D sẽ vào bảng F.

Hạt giống[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là thành phần của các nhóm:[144]

Nhóm 1
Đội tuyển Chủ nhà Hạng
 Bỉ[a] 1
 Ý Bảng A 2
 Anh Bảng D 3
 Đức Bảng F 4
 Tây Ban Nha Bảng E 5
 Ukraina[a] 6
Nhóm 2
Đội tuyển Chủ nhà Hạng
 Pháp 7
 Ba Lan 8
 Thụy Sĩ 9
 Croatia 10
 Hà Lan Bảng C 11
 Nga Bảng B 12
Nhóm 3
Đội tuyển Chủ nhà Hạng
 Bồ Đào Nha 13
 Thổ Nhĩ Kỳ 14
 Đan Mạch Bảng B 15
 Áo 16
 Thụy Điển 17
 Cộng hòa Séc 18
Nhóm 4[b]
Đội tuyển Chủ nhà Hạng
 Wales 19
 Phần Lan 20
Thắng play-off nhánh A Bảng C & F[c] Không có
Thắng play-off nhánh B Bảng E[d]
Thắng play-off nhánh C Bảng D[e]
Thắng play-off nhánh D[f]
  1. ^ a b Ukraine không thể được bốc thăm vào cùng bảng với Nga (chủ nhà bảng B). Vì họ cũng không được xếp vào bất kỳ bảng nào trong 4 bảng còn lại với đội chủ nhà thuộc Nhóm 1, Ukraine được chia vào bảng C. Do đó, Bỉ được chia vào bảng B.
  2. ^ Tên của 4 đội bóng chiến thắng vòng play-off chưa được công bố tại thời điểm bốc thăm.
  3. ^ Romania (chủ nhà bảng C) và Hungary (chủ nhà bảng F) đã thi đấu trong vòng play-off Nhánh A, và do đó đội giành chiến thắng ở Nhánh A đã được chia vào hai bảng (Bảng C và Bảng F), với kết quả cuối cùng phụ thuộc vào tên đội giành chiến thắng ở Nhánh A.
  4. ^ Cộng hòa Ireland (từng là chủ nhà bảng E) đã thi đấu trong vòng play-off Nhánh B, và do đó đội giành chiến thắng ở Nhánh B đã được chia vào bảng E.
  5. ^ Scotland (chủ nhà bảng D) đã thi đấu trong vòng play-off Nhánh C, và do đó đội giành chiến thắng ở Nhánh C đã được chia vào bảng D.
  6. ^ Play-off nhánh D đã được ghép với nhánh A (có hai đội chủ nhà), và do đó đội giành chiến thắng ở Nhánh A đã được chia vào hai bảng (Bảng C và Bảng F), với kết quả cuối cùng phụ thuộc vào tên đội giành chiến thắng ở Nhánh A.

Kết quả bốc thăm và lịch thi đấu bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đã kết quả bốc thăm trong các bảng sau đây (các đội tuyển trong chữ nghiêng là các đội thắng play-off mà danh tính của họ không được biết đến tại thời điểm bốc thăm):

Bảng A
VT Đội tuyển
A1  Thổ Nhĩ Kỳ
A2  Ý[a]
A3  Wales
A4  Thụy Sĩ
Bảng B
VT Đội tuyển
B1  Đan Mạch[a]
B2  Phần Lan
B3  Bỉ
B4  Nga[b]
Bảng C
VT Đội tuyển
C1  Hà Lan[a]
C2  Ukraina
C3  Áo
C4  Bắc Macedonia
Bảng D
VT Đội tuyển
D1  Anh[a]
D2  Croatia
D3  Scotland
D4  Cộng hòa Séc
Bảng E
VT Đội tuyển
E1  Tây Ban Nha[a]
E2  Thụy Điển
E3  Ba Lan
E4  Slovakia
Bảng F
VT Đội tuyển
F1  Hungary
F2  Bồ Đào Nha
F3  Pháp
F4  Đức[a]
  1. ^ a b c d e f Chủ nhà giải đấu sẽ thi đấu tất cả 3 trận đấu vòng bảng tại sân nhà.
  2. ^ Chủ nhà giải đấu sẽ thi đấu hai trận đấu vòng bảng tại sân nhà.

Lịch thi đấu cho vòng bảng đã được quyết định dựa trên kết quả bốc thăm như sau:

Lưu ý: Các vị trí để lên lịch không sử dụng các nhóm hạt giống, và thay vào đó được sử dụng các vị trí bốc thăm, ví dụ: Đội 1 không nhất thiết phải là đội từ Nhóm 1 trong lễ bốc thăm.

Lịch thi đấu vòng bảng
Ngày đấu Các ngày Các trận đấu
Ngày đấu 1 Tháng 6, 2021 (2021-06) 1 v 2, 3 v 4
Ngày đấu 2 Tháng 6, 2021 (2021-06) 1 v 3, 2 v 4
Ngày đấu 3 Tháng 6, 2021 (2021-06) 4 v 1, 2 v 3

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Để giảm áp lực cho các cầu thủ do đại dịch COVID-19, số lượng cầu thủ quy định trong đội hình đã được tăng từ 23 (được sử dụng tại mọi giải vô địch bóng đá châu Âu kể từ năm 2004) lên 26. Tuy nhiên, số lượng cầu thủ tối đa được phép sử dụng trong đội hình cho mỗi trận đấu của giải đấu vẫn được giữ nguyên là 23.[81] Đội hình của mỗi đội tuyển, trong đó có ba thủ môn, phải được xác nhận ít nhất mười ngày trước trận đấu khai mạc của giải đấu (tức trước ngày 1 tháng 6 năm 2021). Nếu một cầu thủ nào đó bị chấn thương hoặc bị bệnh nặng đến mức không thể tham gia giải đấu trước trận đấu đầu tiên của đội, cầu thủ đó có thể được thay thế bằng một cầu thủ khác.[1] Tuy nhiên, thủ môn vẫn có thể bị thay thế sau trận đấu đầu tiên của đội nếu không đủ thể lực thi đấu.[81]

Trọng tài[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 27 tháng 9 năm 2018, Ủy ban điều hành UEFA đã thông qua việc sử dụng hệ thống trợ lý trọng tài video (VAR) lần đầu tiên tại Giải vô địch bóng đá châu Âu.[8] Vào ngày 12 tháng 2 năm 2020, UEFA và CONMEBOL đã ký một biên bản ghi nhớ để tăng cường hợp tác, trong đó cho phép tổ trọng tài trận đấu Nam Mỹ được chỉ định cho vòng bảng của giải đấu.[145]

Vào ngày 21 tháng 4 năm 2021, UEFA đã công bố 19 tổ trọng tài cho giải đấu.[146] Danh sách này bao gồm trọng tài người Argentina Fernando Rapallini và các trợ lý của ông, họ là những trọng tài Nam Mỹ đầu tiên được chọn cho Giải vô địch châu Âu như một phần của chương trình trao đổi trọng tài của UEFA với CONMEBOL. Một tổ các trọng tài Tây Ban Nha cũng được lựa chọn cho Cúp bóng đá Nam Mỹ 2021.[147]

Một tổ trọng tài gồm 9 người được chỉ định cho mỗi trận đấu. Một nhóm trọng tài 5 người trên sân gồm một trọng tài chính, hai trợ lý trọng tài, một trọng tài thứ tư và một trợ lý trọng tài dự bị.[147] Thêm vào đó, bốn trọng tài VAR được ngồi ở trụ sở UEFA tại Nyon, Thụy Sĩ. Tổ trọng tài này bao gồm một trọng tài VAR (trọng tài video chính và là người giữ liên lạc chủ yếu với trọng tài), một trợ lý trọng tài VAR (AVAR 1, người tập trung theo dõi sát với trận đấu), một trọng tài việt vị VAR (AVAR 2, người xem lại mọi trường hợp việt vị có thể xảy ra) và một trợ lý VAR (AVAR 3, người thực hiện việc hỗ trợ các trọng tài khác).[148] Giải đấu sử dụng Luật bóng đá 2021, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 nhưng có thể được thực hiện trong các giải đấu bắt đầu ngay trước thời điểm đó.[149]

Tổ trọng tài
Quốc gia Trọng tài Trợ lý trọng tài Các trận đấu được chỉ định[150]
 Đức Felix Brych Mark Borsch
Stefan Lupp
Hà Lan–Ukraina (Bảng C)
Phần Lan–Bỉ (Bảng B)
Bỉ–Bồ Đào Nha (Vòng 16 đội)
Ukraina–Anh (Tứ kết)
Ý–Tây Ban Nha (Bán kết)
 Thổ Nhĩ Kỳ Cüneyt Çakır Bahattin Duran
Tarık Ongun
Hungary–Bồ Đào Nha (Bảng F)
Ukraina–Áo (Bảng C)
Croatia–Tây Ban Nha (Vòng 16 đội)
 Tây Ban Nha Carlos del Cerro Grande Juan Carlos Yuste Jiménez
Roberto Alonso Fernández
Pháp–Đức (Bảng F)
Croatia–Cộng hòa Séc (Bảng D)
 Thụy Điển Andreas Ekberg Mehmet Culum
Stefan Hallberg
Áo–Bắc Macedonia (Bảng C)
 Israel Orel Grinfeld Roy Hassan
Idan Yarkoni
Hà Lan–Áo (Bảng C)
 România Ovidiu Hațegan Radu Ghinguleac
Sebastian Gheorghe
Ba Lan–Slovakia (Bảng E)
Ý–Wales (Bảng A)
 Nga Sergei Karasev Igor Demeshko
Maksim Gavrilin
Ý–Thụy Sĩ (Bảng A)
Đức–Hungary (Bảng F)
Hà Lan–Cộng hòa Séc (Vòng 16 đội)
 România István Kovács Vasile Marinescu
Ovidiu Artene
Bắc Macedonia–Hà Lan (Bảng C)
 Hà Lan Björn Kuipers Sander van Roekel
Erwin Zeinstra
Đan Mạch–Bỉ (Bảng B)
Slovakia–Tây Ban Nha (Bảng E)
Cộng hòa Séc–Đan Mạch (Tứ kết)
Ý–Anh (Chung kết)
 Hà Lan Danny Makkelie Hessel Steegstra
Jan de Vries
Thổ Nhĩ Kỳ–Ý (Bảng A)
Phần Lan–Nga (Bảng B)
Anh–Đức (Vòng 16 đội)
Anh–Đan Mạch (Bán kết)
 Tây Ban Nha Antonio Mateu Lahoz Pau Cebrián Devís
Roberto Díaz Pérez del Palomar
Bỉ–Nga (Bảng B)
Anh–Scotland (Bảng D)
Bồ Đào Nha–Pháp (Bảng F)
 Anh Michael Oliver Stuart Burt
Simon Bennett
Hungary–Pháp (Bảng F)
Thụy Điển–Ba Lan (Bảng E)
Thụy Sĩ–Tây Ban Nha (Tứ kết)
 Ý Daniele Orsato Alessandro Giallatini
Fabiano Preti
Anh–Croatia (Bảng D)
Tây Ban Nha–Ba Lan (Bảng E)
Thụy Điên–Ukraina (Vòng 16 đội)
 Argentina Fernando Rapallini Juan Pablo Belatti
Diego Bonfá
Ukraina–Bắc Macedonia (Bảng C)
Croatia–Scotland (Bảng D)
Pháp–Thụy Sĩ (Vòng 16 đội)
 Đức Daniel Siebert Jan Seidel
Rafael Foltyn
Scotland–Cộng hòa Séc (Bảng D)
Thụy Điển–Slovakia (Bảng E)
Wales–Đan Mạch (Vòng 16 đội)
 Bồ Đào Nha Artur Soares Dias Rui Tavares
Paulo Soares
Thổ Nhĩ Kỳ–Wales (Bảng A)
Cộng hòa Séc–Anh (Bảng D)
 Anh Anthony Taylor Gary Beswick
Adam Nunn
Đan Mạch–Phần Lan (Bảng B)
Bồ Đào Nha–Đức (Bảng F)
Ý–Áo (Vòng 16 đội)
 Pháp Clément Turpin Nicolas Danos
Cyril Gringore
Wales–Thụy Sĩ (Bảng A)
Nga–Đan Mạch (Bảng B)
 Slovenia Slavko Vinčić Tomaž Klančnik
Andraž Kovačič
Tây Ban Nha–Thụy Điển (Bảng E)
Thụy Sĩ–Thổ Nhĩ Kỳ (Bảng A)
Bỉ–Ý (Tứ kết)

Ngoài ra, UEFA đã công bố 22 trọng tài video và 12 trọng tài hỗ trợ (những người đóng vai trò là trọng tài thứ tư hoặc trợ lý trọng tài dự bị).[146] Danh sách này bao gồm trọng tài hỗ trợ Stéphanie Frappart, nữ trọng tài đầu tiên tại chung kết giải vô địch bóng đá châu Âu.[147]

Trọng tài video
Quốc gia Trợ lý trọng tài video VAR việt vị
 Anh Stuart Attwell
Chris Kavanagh
Lee Betts
 Pháp Jérôme Brisard
François Letexier
Benjamin Pagès
 Đức Bastian Dankert
Christian Dingert
Marco Fritz
Christian Gittelmann
 Ý Marco Di Bello
Massimiliano Irrati
Paolo Valeri
Filippo Meli
 Hà Lan Kevin Blom
Pol van Boekel
 Ba Lan Paweł Gil
 Bồ Đào Nha João Pinheiro
 Tây Ban Nha Alejandro Hernández Hernández
Juan Martínez Munuera
José María Sánchez Martínez
Íñigo Prieto López de Cerain
Trọng tài hỗ trợ
Quốc gia Trọng tài thứ tư Trợ lý trọng tài dự bị
 Bulgaria Georgi Kabakov Martin Margaritov
 Pháp Stéphanie Frappart Mikaël Berchebru
 Ý Davide Massa Stefano Alassio
 Ba Lan Bartosz Frankowski Marcin Boniek
 Serbia Srđan Jovanović Uroš Stojković
 Thụy Sĩ Sandro Schärer Stéphane De Almeida

Lễ khai mạc, lễ mở màn và lễ bế mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ khai mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ khai mạc diễn ra tại sân vận động Olimpico ở Roma, Ý vào ngày 11 tháng 6 năm 2021 lúc 20:35 (CEST) trước trận đấu đầu tiên của giải đấu. Nghệ sĩ opera người Ý Andrea Bocelli đã biểu diễn bài hát "Nessun dorma".[151] Martin Garrix, BonoThe Edge cũng góp mặt để biểu diễn bài hát chính thức của giải đấu, "We Are the People". Buổi biểu diễn là một màn trình diễn ảo nhằm vào đại dịch COVID-19 tại châu Âu và được quay tại các trường quay động ở Luân Đôn và tại sân vận động Olimpico để tái hiện không gian sân vận động ở chế độ 3D.[152]

Lễ mở màn[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ mở màn được diễn ra trước mỗi trận đấu thuộc khuôn khổ giải vô địch bóng đá châu Âu 2020 với bài hát "Like I Do" của David Guetta, Martin Garrix và Brooks. Sau đó là tiết mục chính với 2 chiếc áo đội tuyển cỡ lớn của 2 đội thi đấu của trận được kéo căng ra trên nền nhạc "We Are The People (Martin Garrix Remix)". Nền nhạc chờ của các sân vận động thuộc giải đấu là bài "Intro" của ban nhạc The xx.

Lễ bế mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bế mạc được diễn ra tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn, Anh vào ngày 11 tháng 7 năm 2021 lúc 20:45 (CEST) trước trận đấu cuối cùng của giải đấu với chiếc cúp mô phỏng cỡ lớn được đặt tại giữa sân vận động. Tiếng chuông nhà thờ vang lên để bắt đầu lễ bế mạc. Các bài hát của Martin Garrix được mashup và phát tại sân trong buổi lễ với các vũ công đeo khẩu trang để nhảy như một lời nhắc nhở về phòng chống dịch. Một số hình ảnh thực tế ảo cũng đã được sử dụng cho buổi lễ này. Các máy bay thả khói màu đã bay qua sân vận động để phục vụ lễ bế mạc. Hai chiếc áo cỡ lớn của 2 đội gặp nhau tại trận chung kết (giữa Ý và Anh) cũng được kéo căng ra và kết thúc bằng tiếng chuông nhà thờ cùng một tràn pháo hoa trên sân vận động nước Anh.

Vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả của các đội tham gia UEFA Euro 2020

UEFA đã công bố lịch thi đấu vào ngày 24 tháng 5 năm 2018, trong đó chỉ bao gồm thời gian bắt đầu trận khai mạc cũng như các trận đấu từ vòng tứ kết trở đi.[153][154] Thời gian bắt đầu của các trận đấu vòng bảng còn lại và vòng 16 đội đã được công bố vào ngày 30 tháng 11 năm 2019 sau khi kết thúc bốc thăm vòng chung kết.[155] Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, UEFA đã công bố điều chỉnh lịch thi đấu cho giải đấu trong năm 2021.[156][157] Tất cả các ngày thi đấu, thời gian bắt đầu và địa điểm thi đấu vẫn giống như nhau, nhưng được lùi lại sớm hơn một ngày nên các trận đấu sẽ vẫn diễn ra vào cùng một ngày trong tuần (tức là từ ngày 12 đến ngày 11 tháng 6 và trận khai mạc vẫn sẽ diễn ra vào thứ Sáu). Vào ngày 23 tháng 4 năm 2021, UEFA đã điều chỉnh địa điểm của lịch thi đấu sau khi một sân vận động đã bị loại bỏ khỏi địa điểm đăng cai giải đấu và được thay thế bằng một sân vận động khác.[158]

Đội nhất, nhì của các bảng, và bốn đội xếp thứ ba tốt nhất giành quyền vào vòng 16 đội.

Thời gian là CEST (UTC+2), như được liệt kê bởi UEFA. Nếu địa điểm được đặt ở múi giờ khác, giờ địa phương cũng được cung cấp.

Các tiêu chí[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu hai hoặc nhiều đội có điểm số bằng nhau khi hoàn thành các trận đấu bảng, các tiêu chí sau đây sẽ được áp dụng:[1]

  1. Số điểm có được trong các trận đấu giữa các đội được đề cập tới cao hơn;
  2. Hiệu số bàn thắng bại từ các trận đấu giữa các đội được đề cập tới cao hơn;
  3. Số bàn thắng ghi được trong các trận đấu giữa các đội được đề cập tới cao hơn;
  4. Nếu sau khi áp dụng tiêu chí từ 1 đến 3, các đội vẫn có thứ hạng giống nhau, tiêu chí từ 1 đến 3 được áp dụng lại dành riêng cho các trận đấu giữa các đội này để xác định thứ hạng cuối cùng của họ.[a] Nếu điều này không quyết định thứ hạng của các đội, các tiêu chí từ 5 đến 10 được áp dụng;
  5. Hiệu số bàn thắng bại vượt trội trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  6. Số bàn thắng ghi được cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;
  7. Số trận thắng cao hơn trong tất cả các trận đấu vòng bảng;[b]
  8. Nếu chỉ có hai đội có cùng số điểm, cũng như cùng hiệu số bàn thắng bại, và tỷ số hòa trong trận đấu của họ ở lượt cuối cùng của vòng bảng, thứ hạng của họ được xác định bằng loạt sút luân lưu. (Tiêu chí này không được áp dụng nếu có nhiều hơn hai đội có cùng số điểm.);
  9. Chỉ số fair-play tốt hơn (tổng điểm phạt ít hơn) trong tất cả các trận đấu vòng bảng (1 điểm cho một thẻ vàng, 3 điểm cho một thẻ đỏ gián tiếp do nhận hai thẻ vàng, 3 điểm cho một thẻ đỏ trực tiếp, 4 điểm cho một thẻ vàng và sau đó là một thẻ đỏ trực tiếp);
  10. Vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng tổng thể vòng loại châu Âu.

Ghi chú

  1. ^ Nếu có ba đội bằng điểm nhau, việc áp dụng ba tiêu chí đầu tiên có thể chỉ được áp dụng cho một trong hai đội, khiến hai đội còn lại vẫn bằng điểm nhau. Trong trường hợp này, các tiêu chí nói trên được tiếp tục lại từ đầu cho hai đội đó.
  2. ^ Tiêu chí này chỉ có thể được áp dụng nếu xảy ra việc trừ điểm, vì nhiều đội trong cùng một bảng không thể bằng điểm nhau mà có số trận thắng khác nhau được.

Bảng A[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Ý (H) 3 3 0 0 7 0 +7 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Wales 3 1 1 1 3 2 +1 4[a]
3  Thụy Sĩ 3 1 1 1 4 5 −1 4[a]
4  Thổ Nhĩ Kỳ 3 0 0 3 1 8 −7 0
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Ghi chú:
  1. ^ a b Bằng kết quả đối đầu (Wales 1–1 Thụy Sĩ). Hiệu số bàn thắng bại tổng thể được sử dụng để xét thứ hạng.
Thổ Nhĩ Kỳ  0–3  Ý
Chi tiết
Khán giả: 12.916[159]
Trọng tài: Danny Makkelie (Hà Lan)
Wales  1–1  Thụy Sĩ
Chi tiết
Khán giả: 8.782[160]
Trọng tài: Clément Turpin (Pháp)

Thổ Nhĩ Kỳ  0–2  Wales
Chi tiết
Ý  3–0  Thụy Sĩ
Chi tiết
Khán giả: 12.445[162]
Trọng tài: Sergei Karasev (Nga)

Thụy Sĩ  3–1  Thổ Nhĩ Kỳ
Chi tiết
Khán giả: 17.138[163]
Trọng tài: Slavko Vinčić (Slovenia)
Ý  1–0  Wales
Chi tiết
Khán giả: 11.541[164]
Trọng tài: Ovidiu Hațegan (România)

Bảng B[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Bỉ 3 3 0 0 7 1 +6 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Đan Mạch (H) 3 1 0 2 5 4 +1 3[a]
3  Phần Lan 3 1 0 2 1 3 −2 3[a]
4  Nga (H) 3 1 0 2 2 7 −5 3[a]
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Ghi chú:
  1. ^ a b c Bằng điểm đối đầu (3). Hiệu số bàn thắng bại đối đầu: Đan Mạch +2, Phần Lan 0, Nga –2.
Đan Mạch  0–1  Phần Lan
Chi tiết
Khán giả: 15.200[165]
Trọng tài: Anthony Taylor (Anh)
Bỉ  3–0  Nga
Chi tiết

Phần Lan  0–1  Nga
Chi tiết
Đan Mạch  1–2  Bỉ
Chi tiết

Nga  1–4  Đan Mạch
Dzyuba Bàn thắng 70' (ph.đ.) Chi tiết
Khán giả: 23.644[169]
Trọng tài: Clément Turpin (Pháp)
Phần Lan  0–2  Bỉ
Chi tiết

Bảng C[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Hà Lan (H) 3 3 0 0 8 2 +6 9 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Áo 3 2 0 1 4 3 +1 6
3  Ukraina 3 1 0 2 4 5 −1 3
4  Bắc Macedonia 3 0 0 3 2 8 −6 0
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Áo  3–1  Bắc Macedonia
Chi tiết
Hà Lan  3–2  Ukraina
Chi tiết
Khán giả: 15.837[172]
Trọng tài: Felix Brych (Đức)

Ukraina  2–1  Bắc Macedonia
Chi tiết
Khán giả: 10.001[173]
Hà Lan  2–0  Áo
Chi tiết
Khán giả: 15.243[174]
Trọng tài: Orel Grinfeld (Israel)

Bắc Macedonia  0–3  Hà Lan
Chi tiết
Khán giả: 15.227[175]
Trọng tài: István Kovács (România)
Ukraina  0–1  Áo
Chi tiết

Bảng D[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Anh (H) 3 2 1 0 2 0 +2 7 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Croatia 3 1 1 1 4 3 +1 4[a]
3  Cộng hòa Séc 3 1 1 1 3 2 +1 4[a]
4  Scotland (H) 3 0 1 2 1 5 −4 1
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Ghi chú:
  1. ^ a b Bằng kết quả đối đầu (Croatia 1–1 Cộng hòa Séc) và hiệu số bàn thắng bại tổng thể (+1). Bàn thắng được sử dụng để xét thứ hạng.
Anh  1–0  Croatia
Chi tiết
Khán giả: 18.497[177]
Trọng tài: Daniele Orsato (Ý)
Scotland  0–2  Cộng hòa Séc
Chi tiết
Khán giả: 9.847[178]
Trọng tài: Daniel Siebert (Đức)

Croatia  1–1  Cộng hòa Séc
Chi tiết
Anh  0–0  Scotland
Chi tiết

Croatia  3–1  Scotland
Chi tiết
Khán giả: 9.896[181]
Cộng hòa Séc  0–1  Anh
Chi tiết

Bảng E[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Thụy Điển 3 2 1 0 4 2 +2 7 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Tây Ban Nha (H) 3 1 2 0 6 1 +5 5
3  Slovakia 3 1 0 2 2 7 −5 3
4  Ba Lan 3 0 1 2 4 6 −2 1
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Ba Lan  1–2  Slovakia
Chi tiết
Tây Ban Nha  0–0  Thụy Điển
Chi tiết
Khán giả: 10.559[184]
Trọng tài: Slavko Vinčić (Slovenia)

Thụy Điển  1–0  Slovakia
Chi tiết
Tây Ban Nha  1–1  Ba Lan
Chi tiết
Khán giả: 11.742[186]
Trọng tài: Daniele Orsato (Ý)

Slovakia  0–5  Tây Ban Nha
Chi tiết
Khán giả: 11.204[187]
Trọng tài: Björn Kuipers (Hà Lan)
Thụy Điển  3–2  Ba Lan
Chi tiết

Bảng F[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Pháp 3 1 2 0 4 3 +1 5 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Đức (H) 3 1 1 1 6 5 +1 4[a]
3  Bồ Đào Nha 3 1 1 1 7 6 +1 4[a]
4  Hungary (H) 3 0 2 1 3 6 −3 2
Nguồn: UEFA
(H) Chủ nhà
Ghi chú:
  1. ^ a b Kết quả đối đầu: Bồ Đào Nha 2–4 Đức.
Hungary  0–3  Bồ Đào Nha
Chi tiết
Khán giả: 55.662[189]
Pháp  1–0  Đức
Chi tiết
Khán giả: 13.000[190]

Hungary  1–1  Pháp
Chi tiết
Khán giả: 55.998[191]
Trọng tài: Michael Oliver (Anh)
Bồ Đào Nha  2–4  Đức
Chi tiết
Khán giả: 12.926[192]
Trọng tài: Anthony Taylor (Anh)

Bồ Đào Nha  2–2  Pháp
Chi tiết
Khán giả: 54.886[193]
Đức  2–2  Hungary
Chi tiết
Khán giả: 12.413[194]
Trọng tài: Sergei Karasev (Nga)

Thứ hạng của các đội xếp thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

VT Bg Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1 D  Cộng hòa Séc 3 1 1 1 3 2 +1 4 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp
2 A  Thụy Sĩ 3 1 1 1 4 5 −1 4
3 F  Bồ Đào Nha 3 1 1 1 7 6 +1 4
4 C  Ukraina 3 1 0 2 4 5 −1 3
5 B  Phần Lan 3 1 0 2 1 3 −2 3
6 E  Slovakia 3 1 0 2 2 7 −5 3
Nguồn: UEFA
Quy tắc xếp hạng: 1) Điểm; 2) Hiệu số bàn thắng bại; 3) Số bàn thắng ghi được; 4) Số trận thắng; 5) Tổng điểm kỷ luật ít hơn; 6) Bảng xếp hạng tổng thể vòng loại châu Âu.

Vòng đấu loại trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vòng đấu loại trực tiếp, nếu trận đấu có tỉ số hòa sau thời gian thi đấu chính thức, sẽ có hiệp phụ (với hai hiệp, mỗi hiệp 15 phút), và mỗi đội được thực hiện quyền thay người thứ sáu.[7] Nếu sau hiệp phụ mà vẫn có tỉ số hòa, kết quả của trận đấu được phân định bởi loạt sút luân lưu.[1]

Bắt đầu từ giải vô địch bóng đá châu Âu 1984, không có play-off tranh hạng ba.

Thời gian là CEST (UTC+2), như được liệt kê bởi UEFA. Nếu địa điểm được đặt ở múi giờ khác, giờ địa phương cũng được cung cấp.

Nhánh đấu[sửa | sửa mã nguồn]

 
Vòng 16 độiTứ kếtBán kếtChung kết
 
              
 
27 tháng 6 – Sevilla
 
 
 Bỉ1
 
2 tháng 7 – München
 
 Bồ Đào Nha0
 
 Bỉ1
 
26 tháng 6 – Luân Đôn
 
 Ý2
 
 Ý (s.h.p.)2
 
6 tháng 7 – Luân Đôn
 
 Áo1
 
 Ý (p)1 (4)
 
28 tháng 6 – Bucharest
 
 Tây Ban Nha1 (2)
 
 Pháp3 (4)
 
2 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
 Thụy Sĩ (p)3 (5)
 
 Thụy Sĩ1 (1)
 
28 tháng 6 – Copenhagen
 
 Tây Ban Nha (p)1 (3)
 
 Croatia3
 
11 tháng 7 – Luân Đôn
 
 Tây Ban Nha (s.h.p.)5
 
 Ý (p)1 (3)
 
29 tháng 6 – Glasgow
 
 Anh1 (2)
 
 Thụy Điển1
 
3 tháng 7 – Roma
 
 Ukraina (s.h.p.)2
 
 Ukraina0
 
29 tháng 6 – Luân Đôn
 
 Anh4
 
 Anh2
 
7 tháng 7 – Luân Đôn
 
 Đức0
 
 Anh (s.h.p.)2
 
27 tháng 6 – Budapest
 
 Đan Mạch1
 
 Hà Lan0
 
3 tháng 7 – Baku
 
 Cộng hòa Séc2
 
 Cộng hòa Séc1
 
26 tháng 6 – Amsterdam
 
 Đan Mạch2
 
 Wales0
 
 
 Đan Mạch4
 

Vòng 16 đội[sửa | sửa mã nguồn]

Wales  0–4  Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 14.645[195]
Trọng tài: Daniel Siebert (Đức)

Ý  2–1 (s.h.p.)  Áo
Chi tiết
Khán giả: 18.910[196]
Trọng tài: Anthony Taylor (Anh)

Hà Lan  0–2  Cộng hòa Séc
Chi tiết
Khán giả: 52.834[197]
Trọng tài: Sergei Karasev (Nga)

Bỉ  1–0  Bồ Đào Nha
Chi tiết
Khán giả: 11.504[198]
Trọng tài: Felix Brych (Đức)

Croatia  3–5 (s.h.p.)  Tây Ban Nha
Chi tiết

Pháp  3–3 (s.h.p.)  Thụy Sĩ
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
4–5
Khán giả: 22.642[200]

Anh  2–0  Đức
Chi tiết

Thụy Điển  1–2 (s.h.p.)  Ukraina
Chi tiết
Khán giả: 9.221[202]
Trọng tài: Daniele Orsato (Ý)

Tứ kết[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy Sĩ  1–1 (s.h.p.)  Tây Ban Nha
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
1–3

Bỉ  1–2  Ý
Chi tiết
Khán giả: 12.984[204]
Trọng tài: Slavko Vinčić (Slovenia)

Cộng hòa Séc  1–2  Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 16.306[205]
Trọng tài: Björn Kuipers (Hà Lan)

Ukraina  0–4  Anh
Chi tiết
Khán giả: 11.880[206]
Trọng tài: Felix Brych (Đức)

Bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Ý  1–1 (s.h.p.)  Tây Ban Nha
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
4–2
Khán giả: 57.811[207]
Trọng tài: Felix Brych (Đức)

Anh  2–1 (s.h.p.)  Đan Mạch
Chi tiết

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Ý  1–1 (s.h.p.)  Anh
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
3–2

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ ghi bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 142 bàn thắng ghi được trong 51 trận đấu, trung bình 2,78 bàn thắng cho mỗi trận đấu.

Đây là giải đấu có số bàn thắng trung bình mỗi trận cao nhất kể từ giải vô địch bóng đá châu Âu 1976, khi mà vòng bảng lần đầu được đưa vào giải.[211] 11 bàn phản lưới nhà đã được ghi trong giải đấu này, nhiều hơn 2 bàn so với tổng tất cả các bàn phản lưới của các giải đấu trước đó cộng lại.[212] Với bàn thắng tại giải đấu này, Cristiano Ronaldo đã trở thành cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất tại giải vô địch châu Âu với 14 bàn thắng.[213]

5 bàn

4 bàn

3 bàn

2 bàn

1 bàn

1 bàn phản lưới nhà

Nguồn: UEFA[210]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình tiêu biểu của giải đấu

Đội hình tiêu biểu của giải đấu, do ban tổ chức bình chọn, là đội hình gồm những cầu thủ thi đấu ấn tượng nhất tại các vị trí được chọn lựa trong giải đấu.[214]

Cầu thủ xuất sắc nhất giải

Danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất giải được trao cho Gianluigi Donnarumma, đây là thủ môn đầu tiên giành chiến thắng giải thưởng này, anh được chọn bởi những thành viên thuộc tổ giám sát kỹ thuật của UEFA.[216]

Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất giải

  • Tây Ban Nha Pedri (2002-11-25)25 tháng 11, 2002 (18 tuổi)

Giải thưởng Cầu thủ trẻ nhất giải, một giải thưởng được trao cho những cầu thủ sinh trong hoặc sau ngày 1 tháng 1 năm 1998, được trao cho Pedri, anh được chọn bởi những thành viên thuộc tổ giám sát kỹ thuật của UEFA.[217]

Vua phá lưới

Danh hiệu "Vua phá lưới - tài trợ bởi Alipay", một giải thưởng được trao cho những người kiến tạo và ghi nhiều bàn nhất trong giải đấu, đã được trao cho Cristiano Ronaldo, người đã ghi 5 bàn thắng và 1 đường kiến tạo.[218] Thứ hạng của họ được xác định dựa trên các tiêu chí: 1) số bàn thắng, 2) số đường kiến tạo, 3) số phút thi đấu ít hơn, 4) số bàn thắng ở vòng loại.[219]

Bảng xếp hạng những cầu thủ ghi nhiều bàn nhất
Thứ hạng Cầu thủ Số bàn thắng Số pha kiến tạo Số phút
1 Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo 5 1 360
2 Cộng hòa Séc Patrik Schick 5 0 404
3 Pháp Karim Benzema 4 0 349

Bàn thắng đẹp nhất giải

Giải thưởng Bàn thắng đẹp nhất giải đã được xác định bằng hình thức bình chọn trực tuyến. Tổng cộng 10 bàn thắng có trong danh sách rút gọn của giải thưởng này. Vào ngày 14 tháng 7 năm 2021, sau một cuộc bình chọn với hơn 800,000 lượt tham gia, UEFA công bố rằng bàn thắng thứ hai của tiền đạo Cộng hòa Séc Patrik Schick trước Scotland đã trở thành bàn thắng đẹp nhất của giải đấu.[220]

Tiền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thưởng đã được hoàn thành vào tháng 2 năm 2018. Mỗi đội tuyển nhận được một khoản phí tham gia 9,25 triệu euro, với đội thắng có thể giành được tối đa 34 triệu euro.[221]

Tiền thưởng
Thứ hạng Đội Triệu €
1  Ý 34
2  Anh 30.25
3  Tây Ban Nha 22.5
4  Đan Mạch 21
5  Bỉ 19
6  Cộng hòa Séc
 Thụy Sĩ
16.75
8  Ukraina 16
9  Hà Lan 15.75
10  Thụy Điển 15
11  Áo
 Pháp
14.25
13  Bồ Đào Nha
 Croatia
 Đức
 Wales
13.5
17  Phần Lan
 Slovakia
 Nga
 Hungary
10.75
21  Ba Lan
 Scotland
10
23  Thổ Nhĩ Kỳ
 Bắc Macedonia
9.25
Vòng đã đạt được Số tiền Số đội
Giải đấu chung kết 9,25 triệu euro 24
Vòng bảng 1,5 triệu euro cho 1 trận thắng
750,000 euro cho 1 trận hòa
24
Vòng 16 đội 2 triệu euro 16
Tứ kết 3,25 triệu euro 8
Bán kết 5 triệu euro 4
Á quân 7 triệu euro 1
Vô địch 10 triệu euro 1

Kỷ luật[sửa | sửa mã nguồn]

Một cầu thủ ngay lập tức bị treo giò trong trận đấu tiếp theo nếu phải nhận một trong các hình phạt sau:[1]

  • Nhận 1 thẻ đỏ (thời gian treo giò vì thẻ đỏ có thể nhiều hơn nếu là lỗi vi phạm nghiêm trọng)
  • Nhận 2 thẻ vàng trong 2 trận đấu khác nhau; thẻ vàng bị xóa sau khi kết thúc vòng tứ kết (điều này không được áp dụng đến bất kỳ trận đấu quốc tế nào khác trong tương lai)

Các quyết định kỷ luật sau đây đã được thực hiện trong suốt giải đấu:[222][223][224]

Cầu thủ Vi phạm Đình chỉ
Ba Lan Grzegorz Krychowiak Thẻ vàngThẻ vàngThẻ đỏ trong trận đấu bảng E v Slovakia (lượt trận 1; 14 tháng 6 năm 2021) Bảng E v Tây Ban Nha (lượt trận 2; 19 tháng 6 năm 2021)
Áo Marko Arnautović Có hành động xúc phạm cầu thủ khác trong trận đấu Bảng C v Bắc Macedonia (lượt trận 1; 13 tháng 6 năm 2021)[225] Bảng C v Hà Lan (lượt trận 2; 17 tháng 6 năm 2021)
Wales Ethan Ampadu Thẻ đỏ trong trận đấu Bảng A v Ý (lượt trận 3; 20 tháng 6 năm 2021) Vòng 16 đội v Đan Mạch (26 tháng 6 năm 2021)
Thổ Nhĩ Kỳ Hakan Çalhanoğlu Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Wales (lượt trận 2; 16 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Thụy Sĩ (lượt trận 3; 20 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Thổ Nhĩ Kỳ Çağlar Söyüncü Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Italy (lượt trận 1; 11 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Thụy Sĩ (lượt trận 3; 20 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Bắc Macedonia Ezgjan Alioski Thẻ vàng trong trận đấu Bảng C v Áo (lượt trận 1; 13 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng C v Hà Lan (lượt trận 3; 21 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Croatia Dejan Lovren Thẻ vàng trong trận đấu Bảng D v Cộng hòa Séc (lượt trận 2; 18 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng D v Scotland (lượt trận 3; 22 tháng 6 năm 2021)
Vòng 16 đội v Tây Ban Nha (28 tháng 6 năm 2021)
Cộng hòa Séc Jan Bořil Thẻ vàng trong trận đấu Bảng D v Croatia (lượt trận 2; 18 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng D v England (lượt trận 3; 22 tháng 6 năm 2021)
Vòng 16 đội v Hà Lan (27 tháng 6 năm 2021)
Slovakia Ondrej Duda Thẻ vàng trong trận đấu Bảng E v Thụy Điển (lượt trận 2; 18 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng E v Tây Ban Nha (lượt trận 3; 23 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Hungary Endre Botka Thẻ vàng trong trận đấu Bảng F v Pháp (lượt trận 2; 19 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Bảng F v Đức (lượt trận 3; 23 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Wales Harry Wilson Thẻ đỏ trong trận đấu Vòng 16 đội v Đan Mạch (26 tháng 6 năm 2021) Bị treo giò sau giải đấu
Hà Lan Matthijs de Ligt Thẻ đỏ trong trận đấu Vòng 16 đội v Cộng hòa Séc (27 tháng 6 năm 2021) Bị treo giò sau giải đấu
Croatia Marcelo Brozović Thẻ vàng trong trận đấu Bảng D v Anh (lượt trận 1; 13 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Vòng 16 đội v Tây Ban Nha (28 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Thụy Sĩ Granit Xhaka Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Thổ Nhĩ Kỳ (lượt trận 3; 20 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Vòng 16 đội v Pháp (28 tháng 6 năm 2021)
Tứ kết v Tây Ban Nha (2 tháng 7 năm 2021)
Pháp Benjamin Pavard Thẻ vàng trong trận đấu Bảng F v Hungary (lượt trận 2; 19 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Vòng 16 đội v Thụy Sĩ (28 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Đức Matthias Ginter Thẻ vàng trong trận đấu Bảng F v Bồ Đào Nha (lượt trận 2; 19 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Vòng 16 đội v Anh (29 tháng 6 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu
Thụy Điển Marcus Danielson Thẻ đỏ trong trận đấu Vòng 16 đội v Ukraina (29 tháng 6 năm 2021) Bị treo giò sau giải đấu
Thụy Sĩ Remo Freuler Thẻ đỏ trong trận đấu Tứ kết v Tây Ban Nha (2 tháng 7 năm 2021) Bị treo giò sau giải đấu
Thụy Sĩ Mario Gavranović Thẻ vàng trong trận đấu Bảng A v Ý (lượt trận 2; 16 tháng 6 năm 2021)
Thẻ vàng trong trận đấu Tứ kết v Tây Ban Nha (2 tháng 7 năm 2021)
Đội đã bị loại khỏi giải đấu

Bảng xếp hạng giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Kết quả chung cuộc
1  Ý (H) 7 5 2 0 13 4 +9 17 Vô địch
2  Anh (H) 7 5 2 0 11 2 +9 17 Á quân
3  Tây Ban Nha (H) 6 2 4 0 13 6 +7 10 Bị loại ở
bán kết
4  Đan Mạch (H) 6 3 0 3 12 7 +5 9
5  Bỉ 5 4 0 1 9 4 +5 12 Bị loại ở
tứ kết
6  Cộng hòa Séc 5 2 1 2 6 4 +2 7
7  Thụy Sĩ 5 1 3 1 8 9 −1 6
8  Ukraina 5 2 0 3 6 10 −4 6
9  Hà Lan (H) 4 3 0 1 8 4 +4 9 Bị loại ở
vòng 16 đội
10  Thụy Điển 4 2 1 1 5 4 +1 7
11  Pháp 4 1 3 0 7 6 +1 6
12  Áo 4 2 0 2 5 5 0 6
13  Bồ Đào Nha 4 1 1 2 7 7 0 4