Bộ Quốc phòng Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bộ Quốc phòng (Việt Nam))
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Bộ Quốc phòng Việt Nam
Chính phủ Việt Nam
Emblem VPA.svg
Biểu trưng Bộ Quốc phòng Việt Nam


Tướng Phan Văn Giang.jpg

Bộ trưởng đương nhiệm
Vietnam People's Army General.jpg
Đại tướng Phan Văn Giang
từ 8 tháng 4 năm 2021

Bổ nhiệm bởiChủ tịch nước Việt Nam
Nhiệm kỳ5 năm
Thành lập27 tháng 8 năm 1945 [1]
Bộ trưởng đầu tiên
Vietnam People's Army Colonel General.jpg
Ngân sách 2021171.629.813 triệu đồng[2] (7,46 tỷ USD)
Nhân lực
  • Chính quy:
    412.000
  • Dự bị động viên:
    5.040.000
  • Sẵn sàng chiến đấu:
    50.645.430
  • Sĩ quan cấp tướng: 489 (2014)[3]
Thứ trưởng
Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Navy Vice Admiral.jpg
Tình trạngĐang hoạt động
Địa chỉ7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại+84-69.553215
Fax+84-4.37334163
E-mailinfo@mod.gov.vn
Websitewww.mod.gov.vn
Bộ Quốc phòng Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quốc gia Việt Nam
Thành lập27 tháng 8 năm 1945
Phân cấpBộ trực thuộc Chính phủ
Nhiệm vụQuản lý và điều hành Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, phòng thủ Quốc gia.
Quy môtheo Bảng xếp hạng
của GlobalFirepower
  • Lực lượng chính quy:
    412.000 người
  • Lực lượng dự bị động viên:
    5.040.000 người
  • Lực lượng SSCĐ toàn quốc:
    50.645.430 người
Bộ phận củaChính phủ Việt Nam
Đặt tên theothứ tự thời gian:
1945: Bộ Quốc phòng
1946-1947: Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy
1947-1948: Bộ Quốc phòng
1948-1949: Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy
1949-1976: Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh
1976: Bộ Quốc phòng
Khẩu hiệuQuyết thắng
Hành khúcTiến bước dưới quân kỳ
Lễ kỷ niệm22 tháng 12, 1944
Chỉ huy
Bộ trưởng
Vietnam People's Army General.jpg
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Vietnam People's Army General.jpg
Tổng tham mưu trưởng
Vietnam People's Army Colonel General.jpg
Chỉ huy nổi bật
Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Army Colonel General.jpg

Vietnam People's Air Force Lieutenant General.jpg

Vietnam People's Navy Admiral.jpg

Bộ Quốc phòng Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ Việt Nam, tham mưu cho Nhà nước Việt Nam về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam vừa là người chỉ đạo thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng theo quy định của pháp luật, vừa chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, quản lý và là người chỉ huy số 2 (sau Bí thư Quân ủy Trung ương) của Quân đội nhân dân Việt NamDân quân tự vệ.[4]

Quốc phòng Việt Nam
Flag of the People's Army of Vietnam.svg

Quốc phòng và Quân đội
Việt Nam


Các nước khác

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi nhận được tin Đế quốc Nhật Bản tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, các lãnh đạo Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Tuyên Quang ngày 16 tháng 8, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, lãnh đạo thực hiện Cách mạng Tháng Tám. Sau khi giành được chính quyền, ngày 27 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Tuyên cáo ngày 27 tháng 8, thành phần Chính phủ lâm thời có ông Chu Văn Tấn giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc phòng[5]. Ngày 27 tháng 8 trở thành ngày truyền thống của Bộ Quốc phòng [1]. Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt toàn bộ thành viên Chính phủ lâm thời trước quốc dân, trong đó có cả tân Bộ trưởng Quốc phòng Chu Văn Tấn.[6]

Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan nội các vẫn chưa kịp thành lập, kể cả Bộ Quốc phòng. Các lực lượng vũ trang của người Việt đều do các đảng phái chính trị lãnh đạo riêng rẽ hoặc tổ chức tự phát. Trong đó, lực lượng vũ trang có thực lực nhất là Việt Nam Giải phóng quân, do Việt Minh lãnh đạo. Ngày 07 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Bộ Tham mưu nhằm chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước:

Cùng với chỉ thị này, ông Hoàng Văn Thái được chỉ định làm Tham mưu trưởng và được giao nhiệm vụ tổ chức Bộ Tham mưu. Một nhóm hạt nhân nòng cốt để xây dựng Bộ Tham mưu gồm 8 người là Hoàng Văn Thái, Hoàng Đạo Thúy, Hoàng Minh Đạo, Mai Hữu Thao, Nguyễn Văn Trang, Vũ Văn Thềm, Nghiêm Xuân Hoà, Đỗ Văn Sáng; hình thành cơ cấu tổ chức cơ quan tham mưu bước đầu bao gồm: Phòng Tác chiến - Đồ bản do Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng, trực tiếp làm Trưởng phòng; Phòng Tình báo do Hoàng Minh Đạo làm Trưởng phòng; Phòng Quân lực do Trần Văn Lư làm Trưởng phòng; Phòng Thông tin liên lạc do Hoàng Đạo Thúy làm Trưởng phòng và Văn phòng quản lý hành chính do Nguyễn Văn Trang phụ trách.[8]

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh phân chia toàn quốc thành 9 chiến khu[9]. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, liên lạc khó khăn do chiến sự đã lan đến địa bàn khu 6, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ mới bổ nhiệm các nhân sự của các chiến khu 1, 2, 3, 4. Các chiến khu 5, 6 đặt dưới quyền chỉ đạo của Ủy ban Kháng chiến hành chính miền Nam Việt Nam; các chiến khu 7, 8, 9 được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Cùng ngày, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập. Luật sư Phan Anh giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.[10] Ngày 2 tháng 3 năm 1946 Ủy ban Kháng chiến toàn quốc (còn gọi là Toàn quốc Kháng chiến Ủy viên Hội) ra đời. Chủ tịch là tướng Võ Nguyên GiápVũ Hồng Khanh giữ chức Phó Chủ tịch.

Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 về tổ chức Bộ Quốc phòng. Theo đó, Bộ Quốc phòng có Văn phòng và 10 cục chuyên môn: Chế tạo Quân nhu Cục, Chế tạo Quân giới Cục, Chính trị Cục, Tình báo Cục, Quân chính Cục, Quân huấn Cục, Công chính giao thông Cục, Quân pháp Cục, Quân nhu Cục, Quân y Cục.[11] Cũng trong ngày hôm đó, một số nhân sự lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của Bộ Quốc phòng cũng được bổ nhiệm.[12] Ngày 6 tháng 5 năm 1946, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 60 đổi tên Ủy ban Kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên Hội, theo đó Quân sự Ủy viên Hội là một cơ quan tối cao quân sự đặt thẳng dưới quyền điều khiển của Chính phủ và có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc, đứng đầu là Chủ tịch và Phó Chủ tịch ngang hàng với Bộ trưởng và Thứ trưởng các Bộ; quy định tổ chức của Quân sự Ủy viên Hội gồm: Cục Tổng vụ, Cục Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tổng Chỉ huy, Ủy ban Liên lạc và Kiểm soát quân sự Trung ương Việt - Pháp.[13]

Ngày 29 tháng 6 năm 1946, thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô (sau là Cục Pháo Binh rồi Binh chủng Pháo binh).[14] Ngày 7 tháng 7 năm 1946, thành lập Trường Võ bị Đà Lạt sau này là Học viện Lục quân (1981).

Từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội Việt Nam khóa I, kỳ họp thứ 2 đã quyết định sáp nhập Bộ Quốc phòng hợp với Quân sự Ủy viên hội thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy.[15] Ngày 30 tháng 11 năm 1946, theo Sắc lệnh số 229 thì "các cơ quan quân sự trên toàn cõi Việt Nam đều đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng".[16] Cũng trong ngày 30 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 230 ủy quyền cho tướng Võ Nguyên Giáp, đang là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, làm Tổng Chỉ huy quân đội toàn quốc.[17]

Ngày 5 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị công việc khẩn cấp cần làm. Ông nêu rõ: "Công việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc. Người dự đoán cuộc kháng chiến sẽ gay go, gian khổ, nhưng chúng ta kiên quyết chống chọi với các trận khủng bố của địch, thì ta sẽ thắng."[18]. Trong tháng 11 năm 1946, cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự. Mỗi khu có Uỷ ban Kháng chiến Khu phụ trách hành chính, Khu trưởng phụ trách quân đội. Ngày 10 tháng 12 năm 1946, thành lập Khu 7, sau là Quân khu 7 (1975).[19] Cùng ngày, thành lập Khu 9, sau là Quân khu 9 (1976).[20]

Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1946, trước tình hình căng thẳng tại Mặt trận Hà Nội, Các cơ quan trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trậnBộ Tổng Chỉ huy di chuyển lên An toàn khu Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63.000 nhân dân miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu.

Ngày 18 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi tước khí giới của lực lượng tự vệ và giành kiểm soát Thủ đô Hà Nội. Ngay trong ngày, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Hà Đông, hạ quyết tâm phát động toàn quốc kháng chiến. Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy chủ trưởng mở cuộc tiến công vào các vị trí quân Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vinh, Huế, Đà Nẵng... Ban Thường vụ Trung ương Đảng có dự đoán chắc chắn trong 24 giờ thực dân Pháp sẽ nổ súng và chỉ thị cho toàn quân và dân cả nước sẵn sàng chiến đấu. Đến chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang: "Giờ chiến đấu đã đến". Cơ quan cơ yếu mật mã Bộ Tổng tham mưu truyền đi bản mật lệnh: "Chuyến hàng sẽ đến lúc 18 giờ ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A cộng hai, B trừ hai. Chú ý theo dõi đón hàng đúng giờ". Theo đó, quy ước "chuyến hàng sẽ đến" có nghĩa là tổng giao chiến bắt đầu. A là giờ cộng thêm hai, B là ngày trừ đi hai. Có nghĩa là: "Cuộc tổng giao chiến bắt đầu lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12".[21]

Ngày 4 tháng 2 năm 1947, thành lập Cục Quân giới (nay phát triển thành Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng). Cục trưởng là Trần Đại Nghĩa.

Đầu tháng 3 năm 1947, Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ, và thành lập các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội thuộc ủy ban kháng chiến các cấp.[18] Ngày 20 tháng 3 năm 1947, thành lập Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu, sau là Tổng cục Tình báo (1995).[18]

Ngày 1 tháng 5 năm 1947, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 47 quy định tổ chức của Bộ Tổng Chỉ huy gồm các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tình báo và Văn phòng.[22]

Tháng 7 năm 1947, Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy tách ra thành Bộ Quốc phòngBộ Tổng Chỉ huy.[15] Ngày 30 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 90 quy định mối quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy. Theo đó, phương châm và kế hoạch về quân nhu, quân giới huấn luyện bộ đội, công binh, vô tuyến điện, hai bên cùng quyết định chung, Bộ Quốc phòng phụ trách thực hiện, Bộ Tổng chỉ huy phụ trách điều động sử dụng, trừ những trường hợp hai bên cùng sử dụng thì Tổng chỉ huy định, Quốc phòng y hiệp.[23] Đứng đầu Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam là Tổng Chỉ huy ngang hàng với Bộ trưởng về quyền hạn và danh vị và là thành viên trong Hội đồng Liên bộ.[24]

Ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120-SL thành lập các liên khu trong cả nước để tăng cường chỉ đạo chiến tranh. Theo Sắc lệnh này, Khu 1 và khu 12 hợp nhất thành Liên khu 1; Khu 2, 3, 11 hợp nhất thành Liên khu 3; Khu 10 và khu 14 hợp nhất thành Liên khu 10; Khu 4 đổi tên thành Liên khu 4; khu 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn hợp nhất thành Liên khu Nam Bộ.[18] Trong ngày 25 tháng 1 năm 1948, thành lập Cục Tổng Thanh tra.

Ngày 14 tháng 4 năm 1948, Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ đổi tên thành Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam.[25]Tháng 10 năm 1948, hợp nhất Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy.

Ngày 9 tháng 3 năm 1949, thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Ban Nghiên cứu Sân bay (năm 1955), Bộ Tư lệnh Phòng không (năm 1958), Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu (năm 1959), Quân chủng Phòng không-Không quân (năm 1963).[26]

Ngày 10 tháng 3 năm 1949, thành lập Trường Quân y sĩ Việt Nam, sau là Đại học Quân y (năm 1966), Học viện Quân y (năm 1981).[27]

Ngày 12 tháng 3 năm 1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 14-SL, đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam (hay còn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh); các bộ chỉ huy Liên khu quân sự thành Bộ Tư lệnh Liên khu; Tổng chỉ huy gọi là Tổng Tư lệnh; Liên khu trưởng gọi là Tư lệnh Liên khu[28].

Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50/SL về tổ chức Bộ Quốc phòng thì Bộ Quốc phòng có: Văn phòng; Các Nha: Nha Quân giới, Nha Quân nhu và Nha Quân dược; Các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Dân quân Tự vệ, Cục Quân huấn, Cục Quân chính, Cục Quân pháp, Cục Tình báo, Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Quân giới, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Thông tin liên lạc, Cục Vận tải. Đứng đầu các cục là Cục trưởng.[29]

Trong Chiến tranh Đông Dương (1946 - 1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 121 thành lập Tổng cục Chính trịTổng cục Cung cấp; quy định Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh gồm Bộ Tổng Tham mưu (gồm các Cục: Tác chiến, Quân báo, Dân quân, Quân huấn, Thông tin Liên lạc), Tổng cục Chính trị (gồm các Cục: Tổ chức, Tuyên huấn, Địch vận, Quân pháp, Nhà Xuất bản Vệ Quốc quân), Tổng cục Cung cấp (gồm các Cục: Quân lương, Quân y, Quân vụ, Quân giới, Quân trang, Vận tải), Đoàn Thanh traVăn phòng.[30]

Ngày 13 tháng 7 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam đã ra Thông tư số 47/TT-A giải thích về tổ chức mới của Bộ Tổng tư lệnh. Thông tư có đoạn viết:[31] "Để sự chỉ đạo chiến tranh được tập trung hơn nữa, để việc huy động mọi khả năng, mọi lực lượng cho tiền tuyến được nhanh chóng và chu đáo hơn nữa, tổ chức lại Bộ Tổng tư lệnh, thành lập Bộ Tổng tham mưu, hai Tổng cục, đoàn Thanh tra, Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh…’’.[31] Từ đây, bắt đầu có cấp Tổng cục bao gồm một số cục trong cơ quan Bộ. Thứ nhất là Bộ Tổng tham mưu gồm Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Dân quân, Cục Quân huấn. Thứ hai là Tổng cục Chính trị gồm Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Quân pháp, Cục Địch vận, Nhà xuất bản Vệ quốc quân.Thứ ba là Tổng cục Cung cấp gồm Văn phòng, Cục Quân lương, Cục Quân y, Cục Quân vụ, Cục Vận tải, Cục Quân giới, Cục Quân trang, Phòng Quân khí.Thứ tư là Đoàn Thanh tra. Thứ năm là Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh. Ngoài ra còn có Cục Pháo binh, Cục Công binh và quân hiệu (các trường quân sự) được Tổng tư lệnh uỷ quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo.[31]

Ngày 1 tháng 4 năm 1951, thành lập Quân y viện 108, sau là Viện Quân y 108 (1980), Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1995)[32]. Ngày 15 tháng 6 năm 1951, thành lập Trường Sĩ quan Hậu cần, sau sát nhấp vào Học viện Hậu cần (1974).[33] Ngày 25 tháng 10 năm 1951, thành lập Trường Chính trị Trung cấp, mãi sau này là Học viện Chính trị (2008).[34]

Đầu năm 1955, cơ quan Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh được chấn chỉnh tổ chức và được gọi là cơ quan Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Trong văn bản "Mấy điều giải thích về chấn chỉnh tổ chức cơ quan Tổng quân uỷ" đề ngày 1 tháng 4 năm 1955, có đoạn viết: "Bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng gọi là Tổng quân uỷ, về chính quyền vẫn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Những cơ quan chính của Tổng quân uỷ vẫn có Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Ngoài ra còn có một Văn phòng đồng thời là Văn phòng Tổng quân uỷ và Văn phòng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh…’’.[31]

Văn bản đó còn nói đến một số điểm nữa như đổi tên Tổng cục Cung cấp thành Tổng cục Hậu cần, tách và thành lập thêm một số cơ quan trực thuộc Bộ hoặc trực thuộc các Tổng cục và hình thành các cơ quan:[31] Một là Văn phòng Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Hai là Bộ Tổng tham mưu: Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Quân lực, Cục Quân huấn, Cục Quản lý hành chính kinh tế, Phòng Giao thông quân sự, Phòng Cơ yếu, Phòng Đồ bản. Ba là Tổng cục Chính trị: Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Địch vận, Cục Bảo vệ, Cục Chính trị trực thuộc, Báo Quân đội nhân dân, Thể công, Văn công, Phòng Tài vụ. Bốn là Tổng cục Hậu cần: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Quản lý xe hơi máy kéo, Cục Quân giới, Phòng Quản lý doanh trại, Phòng Xăng dầu, Phòng Sản xuất trang dụng, các đoàn xe hơi, các đoàn thuyền, canô, báo Hậu cần, trường Hậu cần, Phòng Liên lạc biên giới. Năm là Các đơn vị trực thuộc khác: Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Phòng không, Cục Hàng không, Cục Phòng thủ bờ biển, Cục Dân quân, Cục Tài vụ, Cục Quân khí, cơ quan quân pháp, trường Lục quân, trường Quân chính trung cấp, Toà soạn Quân chính tập san.

Ngày 22 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 221 về việc sáp nhập Khu Tả Ngạn với Liên khu 3 thành Liên khu 3.[35] Ngày 7 tháng 5 năm 1955, thành lập Cục Phòng thủ bờ biển, sau là Cục Hải quân (1959), Quân chủng Hải quân (1963).[36]

Ngày 24 tháng 9 năm 1955, Tổng quân uỷ đã ra Nghị quyết số 10/VP-TQU về cải tiến cách làm việc, trong đó có đoạn xác định vị trí, nhiệm vụ của các cơ quan giúp việc: "Đứng về phía chỉ đạo của Đảng về quân sự mà nói thì cơ quan thống nhất chỉ đạo toàn quân là Tổng quân uỷ, các cơ quan giúp việc là Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Tổng quân uỷ thông qua các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà thực hiện sự lãnh đạo của mình; ngược lại sự chỉ đạo công tác của các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đối với đơn vị đều phải tập trung thống nhất vào chủ trương và kế hoạch chung của Tổng quân uỷ mà cơ quan giúp việc hàng ngày cho Tổng quân uỷ là Văn phòng Tổng quân uỷ…’’.[31]

Trong Chiến tranh Việt Nam (1955 - 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 4 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 60/SL về việc thành lập Tổng cục Quân huấn trực thuộc Bộ Quốc phòng.[37] Tổng cục Quân huấn có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh chỉ đạo công tác huấn luyện quân sự đối với cán bộ và chiến sĩ các binh chủng trong toàn quân, chỉ đạo công tác các nhà trường của quân đội và chỉ đạo công tác huấn luyện các lực lượng hậu bị.[37]

Ngày 10 tháng 4 năm 1958, thành lập Cục Nghiên cứu điều lệnh và Khoa học Quân sự trực thuộc Tổng cục Quân huấn, sau là Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường, Cục Khoa học Quân sự (2014).[38] Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác Khoa học-Công nghệ-Môi trường trong quân đội và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này trong toàn quân. [38]

Từ năm 1955, Tổng Quân ủy đã giao cho Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam tổ chức tập huấn những nội dung cơ bản về hóa học, nguyên tử cho đội ngũ giáo viên của trường. Năm 1956, Bộ Quốc phòng đã thành lập Tổ nghiên cứu tác chiến dưới điều kiện vũ khí nguyên tử, hóa học ở Cục Quân huấn. Đây là tổ chức tiền thân, cơ quan chỉ đạo phòng hóa của Quân đội nhân dân Việt Nam.[39] Ngày 17 tháng 3 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ban hành Công văn số 173/BTTM, tổ chức các cơ quan trực thuộc Tổng cục Quân huấn trong đó có Phòng Hóa học - Nguyên tử nằm trong Cục Huấn luyện chiến đấu. Phòng Hóa học - Nguyên tử là cơ quan nghiệp vụ làm tham mưu cho Bộ, chỉ đạo huấn luyện Phòng Hóa học - Nguyên tử trong toàn quân; đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, xây dựng một số cơ quan, đơn vị hóa học theo đề án đã được xác định.[39] Ngày 19 tháng 4 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 214/BTM, giao nhiệm vụ cho Trường Sĩ quan Lục quân tổ chức một tiểu đoàn hóa học trực thuộc lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 6. Đây là tiểu đoàn hóa học đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan hóa học cho toàn quân, đảm nhiệm phòng hóa học hạt nhân và chiến đấu bằng vũ khí lửa; đồng thời, cùng ngày Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập 2 đại đội hóa học trực thuộc Sư đoàn Bộ binh 308 và Sư đoàn Bộ binh 320.[39] Ngày 19 tháng 4 năm 1958, đánh dấu sự phát triển đầy đủ, yếu tố cần thiết cho sự ra đời Binh chủng Hóa học Quân đội nhân dân Việt Nam và được, Bộ Tổng Tham mưu quyết định lấy làm ngày truyền thống của Bộ đội Hóa học (1973). Ngày 9 tháng 5 năm 1966, theo Quyết định số 34/QĐ-QP, Phòng Hóa học - Nguyên tử được phát triển thành Cục Hóa học thuộc Bộ Tổng Tham mưu.[39] Ngày 17 tháng 7 năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 224/QĐ-QP phát triển Cục Hóa học thành Binh chủng Hóa học (năm 1976).[39]

Thực hiện Nghị quyết 58/NQ-TW của Bộ Chính trị, ngày 3 tháng 3 tháng 1959, Thủ tướng ra Nghị định 100/TTg thành lập lực Lượng Công an nhân dân vũ trang.[40] Ngày 19 tháng 11 năm 1958, thành lập Lực lượng Cảnh vệ gồm Cảnh vệ Biên phòng và Cảnh vệ Nội địa.[40] Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 22/NQ-TW, chuyển giao nhiệm vụ và Lực lượng Công an nhân dân vũ trang từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng.[40] Ngày 31 tháng 5 năm 1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 41/CT-TW về việc chuyển giao Lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ.[40] Ngày 16 tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 754/TTg [41] chuyển Bộ đội biên phòng về trực thuộc Bộ Quốc phòng[40][42]

Quân đội nhân dân Việt Nam đang hành quân trên đường Trường Sơn qua Lào.

Ngày 19 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 559, sau là Bộ Tư lệnh Đoàn 559 (1965), Bộ Tư lệnh Trường Sơn (1970), Binh đoàn 12 (1977)[43]

Ngày 12 tháng 10 năm 1960, thành lập Cục Nghiên cứu Kỹ thuật (Viện Kỹ thuật Quân sự), nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự.

Ngày 27 tháng 8 năm 1961, thành lập Trường Quân chính sơ cấp Quân Giải phóng miền Nam.[44]  Ngày 10 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Sĩ quan Lục quân 2 trên cơ sở Trường Lục quân tổng hợp H28, trực thuộc Bộ Quốc phòng, sau là Trường Đại học Nguyễn Huệ (2010).[44]

Trong bối cảnh Hoa Kỳ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn con đường nào khác phải sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp kẻ thù, thực hiện hoài bão lớn nhất của toàn dân tộc là hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, hình thức đấu tranh vũ trang tái xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của các lực lượng vũ trang nhân dân ở miền Nam. Nhu cầu cần có một bộ chỉ huy quân sự thống nhất và tại chỗ để kịp thời chỉ đạo chỉ huy toàn thể các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường miền Nam đặt ra một cách khẩn bách. Năm 1961, để chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên; Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi là Bộ Chỉ huy Miền). Sự ra đời của Bộ Chỉ huy Miền là một tất yếu khách quan, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong thời điểm chuyển sang chiến tranh cách mạng lúc bấy giờ. Đó là vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang chống xâm lược.[45]

Bộ Chỉ huy Miền là một cấp chỉ huy lớn của quân đội, cơ quan chỉ huy cao nhất các lực lượng vũ trang nhân dân ở B2. Bộ Chỉ huy Miền đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Trung ương Cục và sự chỉ đạo chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh”. Kể từ khi thành lập cho đến lúc kết thúc nhiệm vụ, Bộ Chỉ huy Miền do các đồng chí sau đây làm Tư lệnh: Phạm Thái Bường (1961), Trần Nam Trung (1961 - 1962), Trần Văn Quang (1962 - 1964), Trần Văn Trà (1964 - 1967, 1973 - 1976), Hoàng Văn Thái (1967 - 1973); và Chính ủy là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh (1961 - 1964), Nguyễn Chí Thanh (1964 - 1967), Phạm Hùng (1967 - 1976).[45]

Ngày 28 tháng 5 năm 1964, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 62/QĐ-QP thành lập Cục Liên lạc Đối ngoại (Bộ Quốc phòng) để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quản lý, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại,[46] sau đến ngày 4 tháng 9 năm 1989, đổi tên thành Cục Đối ngoại[46]

Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 100/QĐ-QP thành lập Trung đoàn Xe tăng 203 và ra Quyết định số 101/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp.[47] Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp là lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng và quản lý các đơn vị xe tăng, thiết giáp dự bị của Bộ và làm tham mưu cho Bộ về Binh chủng TTG.[47] Sự ra đời của Binh chủng TTG đã đánh dấu bước phát triển mới của Bộ đội TTG và sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chủ trương đúng đắn của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh nhằm tăng cường sức mạnh của quân đội để có đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Ngày 5 tháng 10 năm 1965 thành lập Binh chủng Tăng-Thiết giáp.[47]

Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146/CP [48] thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa.[49] Ngày 28 tháng 10 năm 1966, công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1.[49] Ngày 18 tháng 6 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ quyết định đổi tên "Phân hiệu II Đại học Bách khoa" thành trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.[49] Ngày 15 tháng 12 năm 1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự trên cơ sở trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.[49] Ngày 6 tháng 5 năm 1991, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn trên cơ sở Học viện Kỹ thuật Quân sự với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự[49]

Ngày 17 tháng 3 năm 1967, thành lập Binh chủng Đặc công.[50]

Ngày 3 tháng 7 năm 1971, thành lập Cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng[51]

Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, tình thế mới đặt ra vấn đề xây dựng các quân đoàn binh chủng hợp thành có sức cơ động cao, sức đột kích lớn, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký quyết định số 142/QĐ-QP về việc thành lập Quân đoàn 1. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn; Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử kiêm Chính ủy Quân đoàn.[52]

Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập tại Ba Nang, Ba Lòng, Quảng Trị.[53] Sự ra đời của Quân đoàn 2 thể hiện sinh động quy luật về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn là tham gia tổ chức các chiến dịch quy mô bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, thực hiện những đòn tiêu diệt lớn lực lượng địch, phối hợp với các lực lượng tại chỗ và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân giải phóng hoàn toàn miền Nam.[53] Để thực hiện nhiệm vụ này, yêu cầu đặt ra đối với Quân đoàn là phải xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao, thành thạo tác chiến tập trung hiệp đồng quân, binh chủng.[53]

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về tổ chức lực lượng, Quân đội nhân dân Việt Nam còn được trang bị một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Các quân đoàn chủ lực cũng được thành lập. Công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật, quản lý kỹ thuật và huấn luyện kỹ thuật để cán bộ, chiến sĩ làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật trong khai thác sử dụng đặt ra cho các cấp phải khẩn trương thực hiện. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật rất lớn được trang bị cho các đơn vị đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo tiến hành bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, cất giữ an toàn phục vụ cho chiến đấu. Trên tình hình thực tế đó cần phải có cơ quan quản lý, chỉ huy, chỉ đạo cấp chiến lược trực thuộc Bộ đảm trách công tác kỹ thuật quân sự để tham mưu đề xuất với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về công tác kỹ thuật. Vì vậy, Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 211/CP về việc thành lập Tổng cục Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc phòng.[54]

Ngày 20 tháng 3 năm 1975, thành lập Cục Vật tư trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Cục Kế hoạch và Đầu tư (1998)[55]

Ngay sau khi chiếm được Tây Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định số 54/QĐ-QĐ thành lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng.[56] Quân đoàn 3 được thành lập có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự ra đời của quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam.[56] Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ Tư lệnh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Với thành phần là các đơn vị thuộc khối chủ lực B3 đang trong quá trình phát triển Chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 3 là một binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành hoàn chỉnh, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, sức cơ động cao, hoả lực mạnh, có trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng; có thể độc lập tiến hành một chiến dịch hoặc đảm nhiệm hướng chủ yếu trong đội hình chiến dịch lớn của cấp trên, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược[56]

Chấp hành nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1973, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập các quân đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, từ đầu năm 1974, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ đạo lập phương án tổ chức biên chế, dự thảo chức năng nhiệm vụ của một quân đoàn chủ lực trên chiến trường. Sau khi thông qua kế hoạch tổ chức biên chế, ngày 20 tháng 7 năm 1974[57], Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục chính thức công bố quyết định thành lập Quân đoàn 4 tại chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông Nam Bộ. Với chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là tiêu diệt quân địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang 3 thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường, mục tiêu cuối cùng là đánh chiếm Sài Gòn.[57]

Ngày 26 tháng 5 năm 1975, thành lập Bệnh viện Trung ương Quân đội 175[58], trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất, hạ tầng của Tổng y viện của chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ và sáp nhập 3 bệnh viện: K116, K72, K59 và một số đội điều trị.[59]

Ngày 29 tháng 8 năm 1975, Lễ khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã vào Lăng viếng Bác. Hai chiến sĩ tiêu binh Nông Văn Thành người Tày và Nguyễn Văn Ri người Kinh được vinh dự làm nhiệm vụ trong phiên gác đầu tiên. Trước đây, thi hài Hồ Chí Minh được giữ gìn và bảo vệ trong một không gian hẹp, có điều kiện bảo đảm môi trường trong sạch, tinh khiết. Nay thi hài được giữ gìn trong một không gian rộng, hàng ngày có hàng nghìn lượt người đến viếng, rất khó khăn trong việc bảo đảm các thông số kỹ thuật, an ninh và công tác đón tiếp, tuyên truyền. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 28 tháng 12 năm 1975, Thường vụ Quân uỷ Trung ương ra Quyết định số 279/VP-QU thông qua việc thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 969. Ngày 14 tháng 5 năm 1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 109/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực thuộc Bộ Quốc phòng.[60]

Thời kì thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 1 năm 1976, thành lập Trường Sĩ quan Chính trị, sau là Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự (1981), Trường Đại học Chính trị (2010). Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chấm dứt hoạt động. Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh đổi tên thành Bộ Quốc phòng và giữ tên đó cho đến ngày nay.

Ngày 21 tháng 2 năm 1976, thành lập Học viện Quân sự cao cấp, sau đổi thành Học viện Quân sự cấp cao (năm 1981), sau là Học viện Quốc phòng (năm 1994)

Ngày 5 tháng 4 năm 1976, thành lập Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1985 chuyển thành Tổng cục Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Ngày 4 tháng 7 năm 1978, thành lập Bệnh viện Đông y Quân đội, sau là Viện Y học cổ truyền Quân đội[61]

Ngày 7 tháng 3 năm 1979, thành lập Sư đoàn 319 trực thuộc Quân khu 3, sau là Tổng Công ty 319 trực thuộc Bộ Quốc phòng (2011)[62]

Ngày 28 tháng 5 năm 1981, thành lập Viện Lịch sử Quân sự[63]

Ngày 11 tháng 6 năm 1982, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 903/QP thành lập Binh đoàn 11 trực thuộc Bộ Quốc phòng.[64] Sau là Đoàn 11 (5/1988),[64] Công ty Xây dựng 11 (10/1989),[64] Tổng công ty Xây dựng 11 (4/1991),[64] và hiện nay là Tổng Công ty Thành An (năm 1996).[64]

Ngày 20 tháng 2 năm 1985, thành lập Tổng Công ty 15 (hay là Binh đoàn 15)

Thời kì đổi mới[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 1987, thành lập Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị.

Ngày 7 tháng 3 năm 1988, thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga.

Ngày 1 tháng 6 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Điện tử Thiết bị thông tin, sau là Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội.

Trụ sở Bộ Quốc phòng ngày nay tại số 7 Nguyễn Tri Phương, Hà Nội

Ngày 1 tháng 9 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam (hay là Binh đoàn 18).

Ngày 16 tháng 11 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô.

Ngày 11 tháng 1 năm 1990, thành lập Viện Chiến lược Quốc phòng.

Ngày 22 tháng 4 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Thái Sơn

Ngày 10 tháng 8 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (hay là VAXUCO)

Ngày 15 tháng 6 năm 1993, thành lập Phòng Quản lý Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, nay là Cục Thi hành án (2005).

Ngày 4 tháng 11 năm 1994, thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội.

Ngày 24 tháng 12 năm 1994, thành lập Tổng Công ty Đông Bắc

Ngày 28 tháng 8 năm 1998, thành lập Cục Cảnh sát biển. Sau là Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển (2013).

Ngày 8 tháng 12 năm 1998, thành lập Tổng Công ty 16 (nay là Binh đoàn 16).

Ngày 24 tháng 12 năm 1998, thành lập Cục Kinh tế.

Ngày 29 tháng 4 năm 1999, thành lập Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự.

Hiện nay (2000 - nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Đội danh dự tiêu binh Việt Nam năm 2012

Từ Thế kỷ 21 trở đi sự hợp tác hòa bình và phát triển vẫn là xu hướng chủ đạo của các quốc gia. Các nước sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Các cấu trúc an ninh mới được dựa trên cơ chế hợp tác đa phương sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là, tranh chấp chủ quyền trên các vùng biển, đảo; sự cạnh tranh ảnh hưởng địa chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt; các diễn đàn quốc phòng-an ninh khu vực sẽ đan xen giữa hợp tác và đấu tranh của các bên. Ngoài Cục Đối ngoại của Bộ Quốc phòng ra, lĩnh vực quốc phòng trong nước và quốc tế trước yêu cầu trong thời đại mới cần phải có một cơ quan nghiên cứu chuyên sâu. Vì vậy, ngày 21 tháng 12 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định 189/2002/QĐ-BQP thành lập Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng nhằm nghiên cứu tình hình quốc phòng - an ninh của khu vực và quốc tế; tham mưu cho Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại quốc phòng, đồng thời trực tiếp tổ chức và tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn an ninh đa phương và đối thoại an ninh song phương trong khu vực và quốc tế.[65]

Ngày 20 tháng 7 năm 2005, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết số 51-NQ/TW về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, ngoài cấp trưởng đứng đầu một đơn vị thì còn có Chính ủy, Chính trị viên (trước là cấp phó về chính trị). Theo đó ngày 21 tháng 11 năm 2011, Ban Bí thư ra Quy định số 50-QĐ/TW về Tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm xác định đúng vai trò, chức năng và hoàn thiện cơ chế thực hiện theo Nghị quyết 51/2005/Bộ Chính trị.[66]

Trong hòa bình, yếu tố chính sách càng trở nên quan trọng. Chính sách phải được hiểu một cách đầy đủ là chế độ chính sách và cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chính sách đó, bao gồm cả nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện chính sách. Chính sách đúng cùng với giáo dục chính trị, tư tưởng tốt mới tạo thành động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vì vây, ngày 29 tháng 5 năm 2008 Bộ Quốc phòng đã thành lập cơ quan Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng nhằm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý toàn bộ việc tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong quân đội; đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đang công tác trong quân đội và trước khi chuyển ra. Đây là việc làm theo đúng quan điểm của Đảng: coi mọi chính sách chính trị, kinh tế, xã hội đều lấy trung tâm là con người, vì con người và do con người phù hợp với sự phát triển mọi mặt của quân đội và đất nước trong giai đoạn mới.[67]

Ngày 12 tháng 10 năm 2010, Bộ Quốc phòng tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+) lần thứ nhất tại Hà Nội. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Quốc phòng và Đại diện Bộ trưởng Quốc phòng 10 quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 7 nước đối tác đối thoại của ASEAN (dưới đây gọi tắt là các nước "Cộng"), bao gồm Úc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga, Hoa KỳTổng thư ký ASEAN.

Đây là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ASEAN bởi ADMM+ là diễn đàn quốc phòng chính thức đầu tiên cấp bộ trưởng quốc phòng giữa ASEAN và các nước đối tác chủ chốt ngoài khu vực. Hội nghị khẳng định tầm quan trọng của việc giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong tiến trình ADMM+ và nhấn mạnh rằng hợp tác trong khuôn khổ ADMM+ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của ASEAN là tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tham vấn, đồng thuận và với nhịp độ phù hợp với tất cả các nước thành viên. Hội nghị khẳng định ADMM+ là một bộ phận quan trọng của cấu trúc an ninh khu vực năng động, hiệu quả, mở và dung nạp. ADMM+ sẽ góp phần tăng cường hữu nghị, lòng tin và hiểu biết lẫn nhau thông qua đối thoại và hợp tác quốc phòng giữa các nước thành viên ADMM+.[68][69][70]

Ngày 23 tháng 8 năm 2011, thành lập Tổng Công ty 36.

Ngày 4 tháng 6 năm 2012, trong buổi tiếp thân mật Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Edward Panetta, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đề nghị: “Nếu được dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, chúng tôi có nhu cầu mua một số loại vũ khí trang bị trước hết để sửa chữa, bảo quản, nâng cấp các loại vũ khí chúng tôi thu được trong chiến tranh. Sau đó, chúng tôi sẽ lựa chọn mua những loại trang bị vũ khí phù hợp yêu cầu hiện đại hóa quân đội của Việt Nam với giá cả cạnh tranh”

Ngày 19 tháng 12 năm 2013, Bộ Quốc phòng Việt Nam tổ chức lễ ra mắt Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng có 2 phiên bản tiếng Anhtiếng Việt.[71]

Ngày 27 tháng 5 năm 2014, thành lập Trung tâm Gìn giữ Hòa bình Việt Nam. Đây là một việc làm thực tế để Quân đội, Chính phủ và nhân dân Việt Nam chứng minh bằng hành động về những cam kết hội nhập quốc tế toàn diện mà Đảng đã đề ra.[73]

Ngày 21 tháng 10 năm 2014, tại Hà Nội đã diễn ra Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2014. Hai bên trao đổi tình hình thế giới, khu vực cùng quan tâm và kiểm điểm lại kết quả đạt được trên 5 lĩnh vực được nêu trong Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương và thống nhất, trong thời gian qua, một số lĩnh vực có bước phát triển mới, nhất là các hoạt động hợp tác mang tính chất nhân đạo như tìm kiếm quân nhân mất tích (MIA); rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh, tẩy rửa chất độc da cam/dioxin...[75]

Ngày 16 tháng 1 năm 2015, tại thủ đô New Delhi (Ấn Độ) đã khai mạc Đối thoại chiến lược quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam lần thứ 9. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự đối thoại. Hai bên đã trao đổi về tình hình quốc tế, khu vực và tiếp tục thống nhất rằng hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung của tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay, mọi tranh chấp, bất đồng cần được giải quyết thông qua đối thoại hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.  [76]

Ngày 3 tháng 3 năm 2015, Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố, Việt NamIsrael ký kết Bản Ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng, nỗ lực thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như hoạt động quân sự, chuyển nhượng công nghệ, hợp tác công nghiệp quân sự.[77]

Ngày 18 tháng 3 năm 2015, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, đã kết thúc tốt đẹp chuyến đi dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 9 (ADMM-9) và dự khai mạc Triển lãm Hàng không-Hàng hải quốc tế Langkawi năm 2015 (LIMA 2015) tại Malaysia. Thông qua cơ chế ADMM, ASEAN muốn gửi đến cộng đồng quốc tế một hình ảnh ASEAN đoàn kết, đồng thuận và hợp tác có hiệu quả. Malaysia cam kết sẽ làm hết sức mình trong việc góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trong khu vực theo các chuẩn mực quốc tế.[78]

Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Cổng Thông tin Điện tử Ngành Chính sách quân đội chính thức đi vào hoạt động nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, hậu phương Quân đội; chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động Công tác chính sách trong toàn quân; thực hiện từng bước các dịch vụ hành chính công trực tuyến nhằm công khai, minh bạch các chế độ, chính sách, quy trình, trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành; thông tin kịp thời hơn về lĩnh vực Công tác chính sách. Đồng thời, đây là trang tin điện tử của Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia, là một trong những địa chỉ tiếp nhận, cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ phục vụ cho thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo của Ban chỉ đạo Quốc gia 1237.[79]

Ngày 31 tháng 5 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter thăm chính thức Bộ Quốc phòng Việt Nam, Bộ Tư lệnh Hải quânBộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân Nhân dân Việt Nam. Hai bên đã tiến hành hội đàm trên tinh thần hữu nghị, cởi mở, thẳng thắn và hiểu biết lẫn nhau. Hai bên đã trao đổi về quan hệ quốc phòng song phương và nhận thấy sự phát triển tích cực và ổn định trong quan hệ quốc phòng hai nước. Hoa Kỳ đã triển khai tương đối tích cực các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh, trao đổi đoàn; đối thoại, tham vấn; trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, khắc phục thiên tai, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, an ninh biển; đào tạo; quân y; tham vấn lẫn nhau trên các diễn đàn  đa phương, ADMM+ và các lĩnh vực khác mà hai bên có nhu cầu và khả năng.[80][81][82][83][84]

Ngày 2 tháng 9 năm 2015, Bộ Quốc phòng đã tổ chức và phối hợp tốt với các cơ quan đơn vị của các ban ngành đoàn thể Trung ương tổ chức thành công Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2015) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2015) tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Với hơn 30.000 người tham gia trong suốt 3 tháng luyện tập, hợp luyện và tổng duyệt. Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về tổ chức các hoạt động Kỷ niệm diễu binh, diễu hành do Thượng tướng Nguyễn Thành Cung làm Trưởng ban Chỉ đạo, Trung tướng Nguyễn Quốc Khánh làm Phó ban Chỉ đạo đã tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm đúng tiến độ đề ra và đảm bảo an toàn trong toàn buổi lễ.[85][86][87][88][89][90][91][92]

Thực hiện Quyết định số 1198/QĐ-TTg ngày 15/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ, chiều ngày 8 tháng 1 năm 2018 tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng là đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng, giúp Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước Việt Nam về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin trong toàn quân.

Trong năm 2018 và năm 2019, Thực hiện Nghị quyết của Đảng về tinh giản biên chế, Bộ Quốc phòng đang tiến hành từng bước đổi mới, sắp xếp tổ chức các đơn vị quân đội. Theo đó, để cụ thể hóa công việc ở các lĩnh vực khác nhau, Bộ Quốc phòng đã xây dựng kế hoạch, đề án ở một số đơn vị để rút kinh nghiệm, sau đó triển khai trong toàn quân. Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo sắp xếp 88 doanh nghiệp quân đội còn 17, giảm 71 doanh nghiệp. Số lượng sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng phải giải quyết chế độ là 16.000 người, chưa tính số lao động hợp đồng của các đơn vị. Đối với các cơ quan chiến lược, chiến dịch, Bộ cũng đã rà soát, điều chỉnh tổ chức, hợp nhất các phòng, cục có chức năng, nhiệm vụ tương đồng, phấn đấu đến năm 2021 giảm 10% quân số biên chế so với năm 2015. Bộ Quốc phòng cũng thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đối với 25 bệnh viện trong quân đội, từ bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đến bệnh viện của các quân khu, quân đoàn, quân chủng. Với cách làm này, ngân sách nhà nước chi thường chuyên cho biên chế, tổ chức của bệnh viện quân đội sẽ giảm đáng kể. Bộ cũng giải thể 14 Lữ đoàn Công binh dự bị động viên thuộc bảy tổng công ty, gồm: 36, 319, Đông Bắc, Thái Sơn, xây dựng Lũng Lô, xây dựng Trường Sơn, Thành An; giải thể Ban Quản lý dự án 46, 47; sáu trung tâm dạy nghề - giới thiệu việc làm[93]

Lực lượng Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng không công bố con số lực lượng quốc phòng.

Theo Global Firepower - Bảng xếp hạng thực lực quân sự của các quốc gia trên thế giời thì tổng quân số lực lượng chính quy của Việt Nam tính đến năm 2013 là 412.000 người. Lực lượng dự bị động viên cục bộ: 5.040.000 người. Lực lượng dự bị động viên toàn quốc: 50.645.030 người. Lực lượng phục vụ: 41.503.949 người.[94]

Theo Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng thì tổng quân số lực lượng chính quy khoảng 450.000 người. Lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.[95]

Theo thống kê tương đối từng đơn vị cho thấy tổng quân số Lực lượng theo biên chế là khoảng 1 triệu người gồm: Khối cơ quan đầu não (Bộ Tổng tham mưu, các Tổng cục): 84.000; Khối Quân chủng: 185.000; Khối Quân khu: 245.000; Khối Quân đoàn: 130.000; Khối Binh chủng: 58.000; Khối Học viện Nhà trường: 46.000; Khối cơ quan chuyên môn: 15.350; Khối Viện Trung tâm Nghiên cứu: 15.500; Khối Doanh nghiệp Quân đội: 214.500[96]

Quân đội nhân dân Việt Nam có 7 lực lượng đồng phục gồm:

Lực lượng Lục quân Không quân Hải quân Biên phòng Cảnh sát biển Không gian Mạng Bảo vệ Lăng
Biểu trưng
Vietnam People's Army insignia.png
Vietnam People's Air Force insignia.png
Vietnam People's Navy insignia.png
Vietnam Border Defense Force.png
Vietnam Coast Guard.png
Vietnam Cyberspace Operation.png
VietNam Defend Mausoleum Ho Chi Minh President.png
Tên gọi Lục quân Phòng không - Không quân Hải quân Bộ đội Biên phòng Cảnh sát biển Tác chiến Không gian Mạng Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đặc điểm Không biên chế Quân chủng mà trực tiếp trực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý Thành lập Quân chủng bao gồm cả lực lượng Phòng không và Không quân Thành lập Quân chủng bao gồm cả Hải quân và Hải quân đánh bộ Thành lập Bộ Tư lệnh, bảo đảm tuần biên trên đất liền, biên giới Thành lập Bộ Tư lệnh, bảo đảm tuần duyên trên biển Thành lập Bộ Tư lệnh Thành lập Bộ Tư lệnh
Quân số ~800.000 ~60.000 ~70.000 ~50.000 ~30.000 ~10.000 ~10.000
Biên chế 7 quân khu, 1 bộ tư lệnh, 4 quân đoàn, 6 binh chủng 9 sư đoàn, 3 lữ đoàn 5 bộ tư lệnh vùng, 3 lữ đoàn 5 lữ đoàn, 44 tỉnh 4 bộ tư lệnh vùng 3 lữ đoàn 4 lữ đoàn

Ngân sách Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

TT Năm Ngân sách Ghi chú
1 2005 16.278 tỷ đồng[97]
2 2006 20.577 tỷ đồng[97]
3 2007 28.922 tỷ đồng[97]
4 2008 27.024 tỷ đồng[97]
5 2009 chưa công bố
6 2010 chưa công bố
7 2011 52.000 tỷ đồng[98]
8 2012 70.000 tỷ đồng[98]
9 2013 68.000 tỷ đồng[99]
10 2014 chưa công bố
11 2015 4,4 tỷ USD[100] ước tính
12 2016 5 tỷ USD[100] ước tính
13 2017
14 2018
15 2019 5,1 tỷ USD[101] ước tính
16 2020 5,5 tỷ USD[101] dự kiến

Bộ Quốc phòng Việt Nam không công bố con số chính xác về ngân sách quốc phòng. Bất cứ một quốc gia nào có chủ quyền cũng đều quan tâm xây dựng chiến lược quốc phòng. Việc phân bổ nguồn lực của đất nước cho lĩnh vực này là một tất yếu khách quan và tỷ lệ phân bổ giữa “súng và bơ” luôn là vấn đề được cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng.[102]

Ngân sách Quốc phòng của Việt Nam chủ yếu để bảo đảm đời sống bộ đội, bảo đảm hoạt động của công nghiệp quốc phòng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân. Với khả năng kinh tế của Việt Nam còn thấp, thu nhập bình quân đầu người chưa cao, đang ưu tiên đầu tư cho thực hiện chính sách xã hội, xoá đói, giảm nghèo, nên ngân sách quốc phòng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và “cần, kiệm” vẫn là kim chỉ nam hành động.[102]

Năm 2014, Ngân sách chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 704.400 tỷ đồng. Còn ngân sách cụ thể chi cho Quốc phòng thì vẫn là điều tuyệt mật[103]

Báo cáo của ICD Research cho biết, theo thống kê, ngân sách quốc phòng Việt Nam trong năm 2011 là 3 tỷ USD, dự kiến sẽ đạt khoảng 7 tỷ USD vào năm 2015 (tăng 2 tỷ USD).[104] Hiện tại là khoảng 19,13%, trong giai đoạn dự báo sẽ tăng trưởng ở tốc độ CAGR 14,32%. Sự tăng trưởng chi tiêu quốc phòng này là phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế “khá ổn định” của Việt Nam. Trong suốt giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã phân bổ 31% ngân sách quốc phòng cho đầu tư ngành công nghiệp – quốc phòng và 69% để mua các trang thiết bị vũ khí của nước ngoài. Tuy nhiên, trong thời kỳ dự báo 2011-2016, tổng ngân sách quốc phòng được đầu tư trong nước sẽ tăng trung bình lên tới con số 35%, tức là Việt Nam sẽ chú trọng nhiều hơn cho ngành quốc phòng trong nước.[105]

Sách trắng quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm mục đích bày tỏ quan điểm của Việt Nam về những vấn đề an ninh mới của khu vực và thế giới, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng về quốc phòng của Việt Nam. Sách trắng lần thứ nhất mang tên "Việt Nam củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc" vào năm 1998. Gồm 3 phần: Vì hòa bình, độc lập và phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh.[106]

Sách trắng lần hai vào ngày 9 tháng 12 năm 2004 với tên gọi là "Quốc phòng Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI", được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việttiếng Anh, gồm 3 phần chính: Chính sách quốc phòng Việt Nam, Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Với chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác theo những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, chủ trương không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực đối với nước khác. Ngoài ra Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông.[107]

Cột mốc biên giới số 102 giữa Việt NamTrung Quốc tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai

Sách trắng lần thứ ba vào ngày 8 tháng 12 năm 2009 với tên gọi là "Sách trắng Quốc phòng năm 2009" được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh với chủ trương duy trì và phát triển quốc phòng đủ mạnh, kiên trì chính sách quốc phòng mang tính chất hoà bình, tự vệ mà trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Việt Nam xây dựng quân đội "của dân, do dân, vì dân", có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị hùng hậu, được huấn luyện và trang bị các loại vũ khí ngày càng hiện đại, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các tranh chấp lãnh thổ và các tranh chấp khác bằng các biện pháp hoà bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và thịnh vượng. Việc xuất bản Sách trắng năm 2009 thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.[108]

Hiệp định về Biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

TT Chức vụ Họ tên Cấp bậc Đảm nhiệm Chức trách nhiệm vụ Ghi chú
1 Bộ trưởng Phan Văn Giang Vietnam People's Army Colonel General Right.png Từ 2021 Ủy viên Bộ Chính trị

Phó Bí thư Quân ủy Trung ương

Là người đứng đầu Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức về quân sự.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam

Phó trưởng Ban Chỉ đạo phòng thủ dân sự quốc gia

2 Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lương Cường Vietnam People's Army Colonel General Right.png Từ 2016 Ủy viên Bộ Chính trị

Uỷ viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương

Trực tiếp quản lý điều hành mọi hoạt động của Tổng cục Chính trị, chỉ đạo cơ quan chính trị cấp dưới, đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân.

Chủ tịch Hội đồng thi đua, khen thưởng Bộ Quốc phòng

Trưởng ban Chỉ đạo 35 Quân ủy Trung ương

3 Tổng tham mưu trưởng,Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Tân Cương Vietnam People's Army Upper General Right.png Từ 2021 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương

Tổ chức thực hiện những công việc thuộc thẩm quyền quy định trong Hiến pháp

Tổ chức thực hiện những công việc được Chủ tịch nước, Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao hoặc ủy quyền

Tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước theo quy định

Tổ chức thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của Bộ Tổng tham mưu Tham mưu cho Quân ủy Trung ươngBộ trưởng Quốc phòng về mặt quản lý nhà nước và chỉ huy quân đội

Phụ trách chỉ đạo khối các Quân khu, Quân đoàn, Học viện, Nhà trường

4 Thứ trưởng Lê Huy Vịnh Vietnam People's Army Upper General Right.png Từ 2020 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương,

Phụ trách công tác khoa học kỹ thuật, công nghệ quân sự.

Phụ trách công tác dân số, gia đình và trẻ em, thanh niên, phụ nữ.

Trưởng ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng.

5 Thứ trưởng Hoàng Xuân Chiến Vietnam People's Army Upper General Right.png Từ 2020 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương

Phụ trách công tác tình báo, đối ngoại, biên giới, kinh tế, bảo vệ lăng Chủ tịch HCM, tham gia lực lượng GGHB Liên hợp quốc

Trưởng Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về tham gia hoạt động Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ)

Trưởng Quan chức Quốc phòng cấp cao ASEAN Mở rộng (ADSOM+) Việt Nam

Thủ trưởng Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc hóa học sau chiến tranh ở Việt Nam

6 Thứ trưởng Võ Minh Lương Vietnam People's Army Upper General Right.png Từ 2020 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phụ trách công tác tư pháp, thanh tra, kiểm tra, pháp chế, công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Phó trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia về công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (BCĐ 515)

Trưởng Ban chỉ đạo về công tác chế độ, chính sách đối với dân công hỏa tuyến Bộ Quốc phòng (BCĐ 24)

7 Thứ trưởng Vũ Hải Sản Vietnam People's Army Upper General Right.png Từ 2020 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương

Phụ trách công tác tài chính, kinh tế, hậu cần; xây dựng doanh trại, đầu tư xây dựng căn cứ hậu cần, kỹ thuật KVPT tỉnh; chính sách về nhà ở Quân đội; các khu kinh tế QP; bảo hiểm xã hội

Trưởng ban Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 BQP

8 Thứ trưởng Phạm Hoài Nam Vietnam People's Navy Vice Admiral (2).jpg Từ 2020 Ủy viên Trung ương Đảng

Ủy viên Quân ủy Trung ương

Phụ trách công tác công nghiệp quốc phòng

Tổ chức Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng lãnh đạo Quân đội Việt Nam và Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyệt đối. Đứng đầu là Quân ủy Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; lãnh đạo mọi mặt trong Quân đội. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương.[111]

Dưới Quân ủy Trung ương là Đảng bộ các Tổng cục, Quân khu, Cục trực thuộc Bộ và các đơn vị tương đương Quân đoàn trực thuộc Bộ. Đứng đầu là Bí thư thường là Chính ủy đảm nhiệm; Phó Bí thư là cấp trưởng đơn vị đó đảm nhiệm. Tùy theo số lượng đơn vị và quân số mà phân chia thành Đảng bộ cấp 2, cấp 3 và cấp cơ sở. Và đơn vị trực thuộc cấp cơ sở (tương đương Đại đội) thường được gọi là Chi bộ, đó là cấp tổ chức Đảng nhỏ nhất trong Quân đội.[111]

Tổ chức chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

1945-1950[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập Bộ Quốc phòng, quy định trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước, người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng, tiếp theo là Thứ trưởng. Trong những năm 1946, 1947, 1948, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy hợp nhất sau đó lại tách ra rồi lại hợp nhất thì người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng.

Sau khi hợp nhất giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy thì tổ chức của Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy thống nhất gồm Bộ Tổng Tham mưu đứng đầu là Tổng Tham mưu trưởng, Cục Chính trị và các Cục chuyên ngành trực thuộc Bộ.

Trong thời kỳ này, mô hình tổ chức của Bộ Quốc phòng còn sơ khai, thể hiện định hướng cho sự phát triển lớn mạnh hơn về tổ chức sau này. Các cơ quan, đơn vị mới được thành lập là tiền thân cho sự phát triển của các cơ quan, đơn vị sau này. Bộ Quốc phòng được xây dựng theo mô hình tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ chế ngành dọc chuyên môn, chịu sự chỉ huy trực tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp mình và sự chỉ huy gián tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp trên theo chuyên ngành.

1950-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tư lệnh hợp nhất thành Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, người chỉ huy cao nhất là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hai cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị là cơ quan đầu ngành về công tác Tham mưu và Chính trị, đứng đầu hai cơ quan là Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

1975-2000[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976, Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh chấm dứt hoạt động chỉ còn lại Bộ Quốc phòng. Khi đó người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng là người quân sự và là Ủy viên Bộ Chính trị.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Với chủ trương tinh giản biên chế gọn nhẹ của Chính phủ. Từ những năm 2000 đến nay, tổ chức của Bộ Quốc phòng chuyển đổi theo hướng giảm số lượng nhân sự, nâng cao chất lượng, tinh nhuệ, gọn nhẹ, từng bước hiện đại hóa, đáp ứng đủ nhu cầu nhiệm vụ bảo vệ Quốc gia và Quốc tế. Tổ chức của Bộ Quốc phòng theo ngành dọc về cơ quan chuyên môn, có chỉ huy trực tiếp và gián tiếp theo ngành dọc. Người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng vẫn là Bộ trưởng đồng thời là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.[112]

Về tổ chức gồm Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các Tổng cục, Cục chức năng, quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, Học viện nhà trường và các đơn vị kinh tế trực thuộc Bộ.

Sơ đồ tổ chức từ năm 2020

Sơ đồ tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam - Bộ Quốc phòng Việt Nam.png

Tổ chức chính quyền hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Phù hiệu Tổ chức Thành lập Quân số ước tính Thủ trưởng quân sự Bí thư Đảng uỷ Trụ sở Biển số xe
Vietnam People's Army General Staff.png Bộ Tổng Tham mưu 7/9/1945

(&000000000000007600000076 năm, &000000000000001400000014 ngày)

12.000 Vietnam People's Army Upper General Right.png
Nguyễn Tân Cương
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Phùng Sĩ Tấn
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Vietnam People's Army General Department of Politics.png Tổng cục Chính trị 22/12/1944

(&000000000000007600000076 năm, &0000000000000273000000273 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Colonel General Right.png
Lương Cường
Vietnam People's Army Upper General Right.png
Đỗ Căn
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TC
Khối Tổng cục (82.000 người)
Vietnamese People's Army Directorate Ordnance.png Tổng cục Hậu cần 11/7/1950

(&000000000000007100000071 năm, &000000000000007200000072 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Duy Giang
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Đỗ Văn Thiện
Số 5 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TH
Vietnamese People's Army Directorate engineering.png Tổng cục Kỹ thuật 10/9/1974

(&000000000000004700000047 năm, &000000000000001100000011 ngày)

17.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Trần Minh Đức
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Duy Hưng
Số 5 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TT
Vietnamese People's Army Defense Intelligence.png Tổng cục Tình báo 25/10/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000331000000331 ngày)

25.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Phạm Ngọc Hùng
Vietnam People's Army Major General Right.png
Lê Quang Minh
Số 19 Phạm Hùng, Mỹ Đình 2, Nam Từ Liêm, Hà Nội TN
Vietnamese People's Army Defense Industry.png Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng 15/9/1945

(&000000000000007600000076 năm, &00000000000000060000006 ngày)

25.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Hồ Quang Tuấn
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Mạnh Hùng
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TK
Khối Quân chủng (215.000 người)
Vietnam People's Navy insignia.png Quân chủng Hải quân 7/5/1955

(&000000000000006600000066 năm, &0000000000000137000000137 ngày)

70.000 Vietnam People's Navy Rear Admiral Right.jpg

Trần Thanh Nghiêm

Vietnam People's Navy Vice Admiral (2).jpg

Nguyễn Văn Bổng

Số 5 Lý Tự Trọng, Minh Khai, Hồng Bàng, Hải Phòng QH
Vietnam People's Air Force insignia.png Quân chủng Phòng không-Không quân 22/10/1963

(&000000000000005700000057 năm, &0000000000000334000000334 ngày)

60.000 Vietnam People's Air Force Lieutenant General Right.jpg

Vũ Văn Kha

Vietnam People's Air Force Lieutenant General Right.jpg

Lâm Quang Đại

Số 176 Trường Chinh, Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội QA
Vietnam Border Defense Force.png Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng 19/11/1958

(&000000000000006200000062 năm, &0000000000000306000000306 ngày)

70.000 Vietnam Border Defense Force Colonel General .jpg

Lê Đức Thái

Vietnam Border Defense Force Colonel General .jpg
Đỗ Danh Vượng
Số 4 Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội QB
Vietnam Coast Guard.png Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển 28/8/1998

(&000000000000002300000023 năm, &000000000000002400000024 ngày)

30.000 Vietnam Marine Police Lieutenant General Right.jpg

Nguyễn Văn Sơn

Vietnam Marine Police Major General Right.jpg

Bùi Quốc Oai

Đại lộ Thăng Long, Tây Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội QC
Vietnam Cyberspace Operation.png Bộ Tư lệnh Tác chiến Không gian Mạng 8/1/2018

(&00000000000000030000003 năm, &0000000000000256000000256 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Đinh Thế Cường
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Hồ Văn Đức
Số 1 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội QM
VietNam Defend Mausoleum Ho Chi Minh President.png Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 29/8/1975

(&000000000000004600000046 năm, &000000000000002300000023 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Bùi Hải Sơn
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 2 Ông Ích Khiêm, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội BL
Khối Quân khu (237.000 người)
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội

(Bảo vệ Thủ đô Hà Nội)

19/10/1946

(&000000000000007400000074 năm, &0000000000000337000000337 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Quốc Duyệt
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Trọng Triển
Số 8 Phạm Hùng, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội KT
Logo Quân khu 1.png Quân khu 1

(Bảo vệ vùng Đông Bắc)

16/10/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000340000000340 ngày)

35.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Hồng Thái
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Dương Đình Thông
Thị trấn Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên KA
Quân khu 2

(Bảo vệ vùng Tây Bắc)

19/10/1946

(&000000000000007400000074 năm, &0000000000000337000000337 ngày)

33.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Phạm Hồng Chương
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png

Phạm Đức Duyên

Đại lộ Hùng Vương, Vân Phú, TP. Việt Trì, Phú Thọ KB
Quankhu3.png Quân khu 3

(Bảo vệ vùng Đồng bằng sông Hồng)

31/10/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000325000000325 ngày)

27.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Quang Ngọc
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Quang Cường
Đường Lê Duẩn, Bắc Sơn, Kiến An, Hải Phòng. KC
Quankhu4.jpg Quân khu 4

(Bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ)

15/10/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000341000000341 ngày)

35.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Doãn Anh
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Võ Dũng
Số 190 Lê Duẩn, Bến Thủy, TP.Vinh, Nghệ An KD
Logo Quân khu 5.png Quân khu 5

(Bảo vệ vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên)

16/10/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000340000000340 ngày)

28.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Thái Đại Ngọc
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trịnh Đình Thạch
Số 15A Duy Tân, Hòa Cường Bắc, Hải Châu, Đà Nẵng KV
Quân khu 7.jpg Quân khu 7

(Bảo vệ vùng Đông Nam Bộ)

10/12/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000285000000285 ngày)

34.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Nguyễn Trường Thắng

Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Hoài Trung
Số 204 Hoàng Văn Thụ, P.9, Phú Nhuận, Hồ Chí Minh KP
không khung Quân khu 9

(Bảo vệ vùng Tây Nam Bộ)

10/12/1945

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000285000000285 ngày)

30.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Xuân Dắt
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Văn Gấu
Đường CMT8, An Thới, Bình Thủy, Cần Thơ KK
Khối Quân đoàn (130.000 người)
Quân đoàn 1.jpg Quân đoàn 1 

(Binh đoàn Quyết Thắng)

24/10/1973

(&000000000000004700000047 năm, &0000000000000332000000332 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Đỗ Minh Xương
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Xã Trung Sơn, TP. Tam Điệp, Ninh Bình AA
Logo quan doan 2.png Quân đoàn 2

(Binh đoàn Hương Giang)

17/5/1974

(&000000000000004700000047 năm, &0000000000000127000000127 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Phạm Văn Hóa

Thị trấn Vôi, Lạng Giang, Bắc Giang AB
Quân đoàn 3

(Binh đoàn Tây Nguyên)

26/3/1975

(&000000000000004600000046 năm, &0000000000000179000000179 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Anh Tuấn
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Văn Thế
Đường Lê Duẩn, P. Thắng Lợi, TP. Pleiku, Gia Lai AC
Quân đoàn 4

(Binh đoàn Cửu Long)

20/7/1974

(&000000000000004700000047 năm, &000000000000006300000063 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Lương Đình Lành
Vietnam People's Army Major General Right.png
Trương Ngọc Hợi
Đường Độc Lập, KCN Sóng Thần, P. Dĩ An, TP. Dĩ An, Bình Dương AD
Khối Binh chủng (58.000 người)
Vietnamese People's Army Tanks Armored Cars.png Binh chủng Tăng-Thiết giáp 5/10/1965

(&000000000000005500000055 năm, &0000000000000351000000351 ngày)

9.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Đỗ Đình Thanh
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Đức Dinh
Đường Cổ Nhuế, Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. BB
Vietnamese People's Army Engineer.png Binh chủng Công binh 25/3/1946

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000180000000180 ngày)

12.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Trần Trung Hòa

Vietnam People's Army Major General Right.png
Lê Xuân Cát
Ngõ 459 phố Đội Cấn, Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội BC
Vietnamese People's Army Commando.png Binh chủng Đặc công 19/3/1967

(&000000000000005400000054 năm, &0000000000000186000000186 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Phan Thế Ba
Vietnam People's Army Major General Right.png
Vũ Hồng Quang
Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. BK
Vietnamese People's Army Artillery.png Binh chủng Pháo binh 29/6/1946

(&000000000000007500000075 năm, &000000000000008400000084 ngày)

8.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Nguyễn Hồng Phong

Vietnam People's Army Major General Right.png
Hoàng Quang Thuận
Số 17/463 phố Đội Cấn, Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội BP
Vietnamese People's Army Chemistry.png Binh chủng Hóa học 19/4/1958

(&000000000000006300000063 năm, &0000000000000155000000155 ngày)

7.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Hà Văn Cử
Vietnam People's Army Major General Right.png
Hoàng Xuân Dũng
Phố Phan Văn Trường, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội BH
Vietnamese People's Army Communication.png Binh chủng Thông tin liên lạc 9/9/1945

(&000000000000007600000076 năm, &000000000000001200000012 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Khúc Đăng Tuấn
Vietnam People's Army Major General Right.png
Trần Minh Tâm
Số 1 Giang Văn Minh, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. BT
Khối Học viện Nhà trường (56.000 người)
Vietnam Defense Academy.png Học viện Quốc phòng Việt Nam

(Học viện Quân sự cấp cao)

3/1/1977

(&000000000000004400000044 năm, &0000000000000261000000261 ngày)

1.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Việt Khoa
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Lương Đình Hồng
Số 93 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội HA
HocvienLucquan.png Học viện Lục quân

(Học viện Quân sự cấp trung) 

7/7/1946

(&000000000000007500000075 năm, &000000000000007600000076 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Hoàng Văn Minh
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Lê Quang Xuân
Phường 9, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng HB
Phu hieu Hoc vien chinh tri.jpg Học viện Chính trị

(Học viện Quân sự cấp trung)

25/10/1951

(&000000000000006900000069 năm, &0000000000000331000000331 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Văn Bạo
Vietnam People's Army Major General Right.png
Phạm Tiến Dũng
Số 124 Ngô Quyền, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội HC
Le Quy Don Technical University Logo.gif Học viện Kỹ thuật Quân sự

(Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn)

28/10/1966

(&000000000000005400000054 năm, &0000000000000328000000328 ngày)

18.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Công Định
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Cao Minh Tiến
Số 236 Hoàng Quốc Việt, Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội HD
Phu hieu Hoc vien Hau can.jpg Học viện Hậu cần 15/6/1951

(&000000000000007000000070 năm, &000000000000009800000098 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Phạm Đức Dũng
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Văn Hùng
Phố Ngọc Thụy, Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội. HE
Hoc vien Quan y.jpg Học viện Quân Y

(Đại học Y dược Lê Hữu Trác)

10/3/1949

(&000000000000007200000072 năm, &0000000000000195000000195 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Đỗ Quyết
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Viết Lượng
Số 104 Phùng Hưng, Phúc La, Hà Đông, Hà Nội HH
Dai hoc chinh tri.jpg Trường Sĩ quan Chính trị

(Đại học Chính trị)

14/1/1976

(&000000000000004500000045 năm, &0000000000000250000000250 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Hùng Oanh
Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Trần Quang Trung
Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội HN
Luc Quan 1.jpg Trường Sĩ quan Lục quân 1

(Đại học Trần Quốc Tuấn)

15/4/1945

(&000000000000007600000076 năm, &0000000000000159000000159 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Đỗ Viết Toản
Vietnam People's Army Major General Right.png
Lê Văn Duy
Xã Cổ Đông, TX. Sơn Tây, Hà Nội HT
Trường Đại học Nguyễn Huệ.jpeg Trường Sĩ quan Lục quân 2

(Đại học Nguyễn Huệ)

27/6/1961

(&000000000000006000000060 năm, &000000000000008600000086 ngày)

6.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Nguyễn Ngọc Cả
Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Xuân Sơn
P. Tam Phước, TP. Biên Hòa, Đồng Nai HQ
Khối Cơ quan chuyên môn (15.350 người)
Văn phòng Bộ Quốc phòng 25/3/1946

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000180000000180 ngày)

700 Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Thanh tra Bộ Quốc phòng 25/1/1948

(&000000000000007300000073 năm, &0000000000000239000000239 ngày)

300 Vietnam People's Army Major General Right.png
Lê Đình Thương
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Cục Tài chính 25/3/1946

(&000000000000007500000075 năm, &0000000000000180000000180 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Right.png
Lưu Sỹ Quý
Số 14A9 Lý Nam Đế, Hàng Mã, Hoàn Kiếm, Hà Nội TM
Cục Kế hoạch và Đầu tư 20/3/1975

(&000000000000004600000046 năm, &0000000000000185000000185 ngày)

700 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Hồng Lâm
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Cuc kinh te.jpg Cục Kinh tế 24/12/1998

(&000000000000002200000022 năm, &0000000000000271000000271 ngày)

500 Vietnam People's Army Major General Right.png
Trần Đình Thăng
Số 28A Điện Biên Phủ, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Cục Khoa học Quân sự 10/4/1958

(&000000000000006300000063 năm, &0000000000000164000000164 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Right.png
Ngô Văn Giao
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Cục Điều tra Hình sự 19/11/1948

(&000000000000007200000072 năm, &0000000000000306000000306 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Right.png
Phạm Văn Thi
Số 14A8 Lý Nam Đế, Hàng Mã, Ba Đình, Hà Nội TM
Cục Thi hành án 15/6/1993

(&000000000000002800000028 năm, &000000000000009800000098 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Right.png
Phạm Ngọc Trai
Ngõ 15 phố Duy Tân, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội TM
Vụ Pháp chế 1/1/1957

(&000000000000006400000064 năm, &0000000000000263000000263 ngày)

50 Vietnam People's Army Major General Right.png
Hàn Mạnh Thắng
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
Ban Cơ yếu Chính phủ 12/9/1945

(&000000000000007600000076 năm, &00000000000000090000009 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Vũ Ngọc Thiềm

Vietnam People's Army Major General Right.png

Nguyễn Nam Hải

Số 105 Nguyễn Chí Thanh, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội PK
Cục Đối ngoại 28/5/1964

(&000000000000005700000057 năm, &0000000000000116000000116 ngày)

300 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Vũ Chiến Thắng
Số 33 Phạm Ngũ Lão, Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội PA
Khối Viện Trung tâm Nghiên cứu (15.500 người)
TTGGHBVN.jpg Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam 27/5/2014

(&00000000000000070000007 năm, &0000000000000117000000117 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Right.png
Hoàng Kim Phụng
Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội PG
Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga.png Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 7/3/1988

(&000000000000003300000033 năm, &0000000000000198000000198 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Major General Right.png
Đặng Hồng Triển
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Phố Nguyễn Văn Huyên, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội PX
Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự 12/10/1960

(&000000000000006000000060 năm, &0000000000000344000000344 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Nguyễn Trung Kiên

Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 17, phố Hoàng Sâm, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội PQ
Vien thiet ke.jpg Viện Thiết kế 23/1/1955

(&000000000000006600000066 năm, &0000000000000241000000241 ngày)

1.500
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Hoàng Tuấn
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Hoàng Tuấn
Số 21 Lê Văn Lương, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội PM
Benh vien 108.jpg Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 1/4/1951

(&000000000000007000000070 năm, &0000000000000173000000173 ngày)

4.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Right.png
Mai Hồng Bàng
Vietnam People's Army Major General Right.png

Phạm Nguyên Sơn

Số 1 Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Hai Bà Trưng, Hà Nội PP-10
Benh vien 175.jpg Bệnh viện Trung ương Quân đội 175 26/5/1975

(&000000000000004600000046 năm, &0000000000000118000000118 ngày)

2.000 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Hồng Sơn
`
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 786 Nguyễn Kiệm, P.3, Gò Vấp, Hố Chí Minh PP-40
VYHCTQD.jpg Viện Y học cổ truyền Quân đội 4/7/1978

(&000000000000004300000043 năm, &000000000000007900000079 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Major General Right.png
Phạm Xuân Phong
Vietnam People's Army Major General Right.png

Phạm Xuân Phong

Số 442 phố Kim Giang, Đại Kim, Hoàng Mai, Hà Nội PP-60
Viện Chiến lược Quốc phòng 11/1/1990

(&000000000000003100000031 năm, &0000000000000253000000253 ngày)

400 Vietnam People's Army Major General Right.png
Vũ Cương Quyết
Vietnam People's Army Major General Right.png

Hoàng Kỳ Lân

Số 3B Hoàng Diệu, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội TM
Viện Lịch sử Quân sự 28/5/1981

(&000000000000004000000040 năm, &0000000000000116000000116 ngày)

500 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Hoàng Nhiên
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 3 Hoàng Diệu, Quán Thánh, Ba Đình, Hà Nội TC
Trung tâm Thông tin Khoa học Quân sự 8/4/1982

(&000000000000003900000039 năm, &0000000000000166000000166 ngày)

300 Vietnam People's Army Major General Right.png
Nguyễn Văn Anh
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 7 Nguyễn Tri Phương, Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội TM
BHXHBQP.jpg Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng 29/5/2008

(&000000000000001300000013 năm, &0000000000000115000000115 ngày)

200
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Cao Xuân Thắng
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Cao Xuân Thắng
Số 28 Lý Nam Đế, Cửa Đông, Hà Nội TM
Khối Doanh nghiệp Quân đội (214.500 người)
Thanh an.jpg Tổng Công ty Thành An
(Binh đoàn 11)
11/6/1982

(&000000000000003900000039 năm, &0000000000000102000000102 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Nguyễn Quốc Dũng

Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 141 Hồ Đắc Di, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. AV
Truong son.jpg Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn
(Binh đoàn 12)
19/5/1959

(&000000000000006200000062 năm, &0000000000000125000000125 ngày)

15.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 475 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội AT
Binh doan 15.jpg Tổng Công ty 15
(Binh đoàn 15)
20/2/1985

(&000000000000003600000036 năm, &0000000000000213000000213 ngày)

17.000[113]
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Hoàng Ngọc Thành
Đường Trần Đại Nghĩa, Yên Thế, TP. Pleiku, Gia Lai AN
Tổng Công ty 16
(Binh đoàn 16)
8/12/1998

(&000000000000002200000022 năm, &0000000000000287000000287 ngày)

12.000[114] Vietnam People's Army Major General Right.png

Phạm Ngọc Tuấn

Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Lê Quang Sáu
Xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, Bình Phước AX
Tong Cong ty Truc thang Viet Nam.jpg Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam
(Binh đoàn 18)
1/6/1989

(&000000000000003200000032 năm, &0000000000000112000000112 ngày)

8.000
Vietnam People's Air Force Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Air Force Senior Colonel.jpg
Số 172 Trường Chinh, Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội AM
Tong cong ty 36.jpg Tổng Công ty 36 23/8/2011

(&000000000000001000000010 năm, &000000000000002900000029 ngày)

8.000[115]
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 141 Hồ Đắc Di, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội CA
Logo MB new.png Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội 4/11/1994

(&000000000000002600000026 năm, &0000000000000321000000321 ngày)

6.000[116]
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Upper General Right.png

Lê Hữu Đức

Số 21 phố Cát Linh, Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội CB
VAXUCO.png Tổng Công ty VAXUCO 10/08/1991

(&000000000000003000000030 năm, &000000000000004200000042 ngày)

17.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 33B Phạm Ngũ Lão, Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội CD
Dong Bac.jpg Tổng Công ty Đông Bắc 24/12/1994

(&000000000000002600000026 năm, &0000000000000271000000271 ngày)

12.000[117]
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Đường Hải Phượng, Hồng Hải, TP. Hạ Long, Quảng Ninh CH
GAET.png.png Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET) 23/8/2011

(&000000000000001000000010 năm, &000000000000002900000029 ngày)

1.500
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 102 Kim Mã Thượng, Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội CK
Thai son.png Tổng công ty Thái Sơn 224/1991

(&000000000000003000000030 năm, &0000000000000152000000152 ngày)

1.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 3 đường 3/2, P.11, Q.10, TP.HCM CM
MHDI.jpg Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị 17/9/1987

(&000000000000003400000034 năm, &00000000000000040000004 ngày)

3.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 68 Nguyễn Cơ Thạch, KĐT Mỹ Đình 1, Cầu Diễn, Nam Từ Liêm, Hà Nội CN
Tong cong ty 319.jpg Tổng Công ty 319 7/3/1979

(&000000000000004200000042 năm, &0000000000000198000000198 ngày)

10.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 63 Lê Văn Lương, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội CP
Tecapro.jpg Công ty Ứng dụng Kỹ thuật và Sản xuất (TECAPRO) 14/11/1988

(&000000000000003200000032 năm, &0000000000000311000000311 ngày)

1.000
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Vietnam People's Army Colonel.jpg
Số 18A đường Cộng Hòa, P.12, Tân Bình, TP.HCM CT
Lung lo.jpg Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô 16/11/1989

(&000000000000003100000031 năm, &0000000000000309000000309 ngày)

9.000
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg
Số 162 Trường Chinh, Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội CV
Viettel 2021 logo.svg Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội 1/6/1989

(&000000000000003200000032 năm, &0000000000000112000000112 ngày)

25.000 Vietnam People's Army Major General Right.png

Lê Đăng Dũng

Vietnam People's Army Major General Right.png

Hoàng Sơn

Ngõ 3 Phố Tôn Thất Thuyết, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội VT

Tổ chức quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hội nghị Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM)

Khu Kinh tế Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh (QP-AN) vừa là chủ trương, đường lối, quan điểm, vừa là giải pháp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Qua mỗi thời kỳ, nhận thức và tổ chức thực hiện nội dung kết hợp đó đều được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu mới. Đây là chủ trương chiến lược hết sức quan trọng, được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội của Đảng. Trong quá trình xây dựng, mỗi lĩnh vực kinh tế, xã hội, QP-AN đều có mục tiêu riêng. Nhưng khi kết hợp với nhau thì cần phải có sự gắn kết hài hòa các mục tiêu cụ thể để phục vụ cho mục tiêu chung.[118]

Qua đó, có thể khái quát mục tiêu kết hợp kinh tế với QP-AN trong thời kỳ Hội nhập quốc tế là: xây dựng kinh tế phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nắm vững mục tiêu chung đó là cơ sở để điều chỉnh đúng mức mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong quá trình thực hiện sự kết hợp. Hơn nữa, cần nhận rõ những yếu tố tác động mới đối với quá trình thực hiện kết hợp kinh tế với QP-AN. Đó là tác động của toàn cầu hóa dẫn đến ảnh hưởng ngày càng lớn của kinh tế thế giới đối với nền kinh tế nước ta; là mối quan hệ giữa cạnh tranh với hợp tác và phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; là tốc độ gia tăng đầu tư kinh tế, xâm nhập thị trường của các nước vào nước ta; là sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế trong nước liên quan đến đối tượng kết hợp; là tính chất đa dạng, đan xen của nhiệm vụ QP-AN, đối ngoại trong mối quan hệ kết hợp. Và cần phải kết hợp toàn diện, nhưng cần tập trung vào trọng điểm.[118]

Hiện nay, các khu kinh tế, quốc phòng này không những mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao mà còn góp phần xây dựng buôn làng có thế trận phòng thủ vững chắc.[119]

Tùy viên Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2009, có hơn 20 quốc gia [121] mà Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng hoạt động tại đó cụ thể như sau:

Bộ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bộ Sách Lịch sử Quân sự Việt Nam, 14 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 1996, 2013, 2014.
  • Bách khoa Toàn thư Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015 gồm 6 tập (Lịch sử Quân sự; Địa lý Quân sự; Hậu cần-Kỹ thuật Quân sự; Chính trị-Nhân vật-Tổ chức Lực lượng vũ trang; Nghệ thuật Quân sự; Tổng dẫn).
  • Lịch sử Tư tưởng Quân sự Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, HN, 2014.
  • Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
  • 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2004.
  • Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1 và Tập 2, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1994.
  • Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam Tập 1, Tập 2, Tập 3, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN 2009, 2010, 2011.
  • Lịch sử Công tác Đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2002.
  • Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
  • Lịch sử Tổng cục Chính trị (1944-2014), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
  • Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2015.
  • Bộ Tổng Tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 2011.
  • Lịch sử Quân giới Việt Nam (1954-1975), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1995.
  • Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2007.
  • Lịch sử Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1999.
  • Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 1996.
  • Những vị tướng lừng danh trong Lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014.
  • Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-Thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, HN, 1995.
  • Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2002.
  • Biên niên sự kiện lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1954-1975, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1992.
  • Việt Nam những sự kiện 1945-1986, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, HN, 1990.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/04_Sj9CPykssy0xPLMnMz0vMAfGjzOLdHP2CLJwMHQ0sPAzNDDyNPVzMwsKCjd3dDYEKIoEKDHAARwNC-sP1o8BKnN0dPUzMfQwMLHzcTQ08HT1CgywDjY0NHI2hCvBY4eeRn5uqX5AbYZBl4qgIANpeImk!/dl4/d5/L2dBISEvZ0FBIS9nQSEh/
  2. ^ “NGHỊ QUYẾT VỀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NĂM 2021”. Thư viện pháp luật.
  3. ^ “Phong tướng quá nhiều”.
  4. ^ “Luật Quốc phòng năm 2005”.
  5. ^ Quốc dân đại hội Tân Trào (8-1945)[liên kết hỏng]
  6. ^ Chính phủ lâm thời ra mắt Quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945
  7. ^ "40 năm chiến đấu và trưởng thành của Bộ Tổng Tham mưu", Tạp chí QĐND số tháng 9 năm 1985, trang 17.
  8. ^ Trần Trọng Trung, Bộ Tổng tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2011. Chương I: Những ngày trứng nước
  9. ^ "Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", Hà Nội, 1991
  10. ^ Chính phủ liên hiệp kháng chiến (thành lập ngày 2-3-1946)
  11. ^ Sắc lệnh số 34 1946
  12. ^ Sắc lệnh số 35 1946
  13. ^ “Sắc lệnh 60 năm 1946”.
  14. ^ “Giới thiệu chung Binh chủng pháo binh”.
  15. ^ a b “Tên gọi qua các thời kỳ”.
  16. ^ Sắc lệnh 229
  17. ^ Sắc lệnh 230
  18. ^ a b c d “Thông qua hiến pháp”.
  19. ^ “Giới thiệu chung Quân khu 7”.
  20. ^ “Lịch sử thành lập, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Quân khu 9”.
  21. ^ “Chủ động tiến công, phát động toàn quốc kháng chiến (19-12-1946)”.
  22. ^ “Sắc lệnh 47 năm 1947”.
  23. ^ “Sắc lệnh 90 năm 1947”.
  24. ^ “Sắc lệnh 236 ngày 5/8/1947”.
  25. ^ “Sắc lệnh 165 năm 1948”.
  26. ^ “Truyền thống 50 năm Quân chủng phòng không- không quân”.
  27. ^ “Giới thiệu Học viện Quân y”.
  28. ^ “Sắc lệnh 14 năm 1949”.
  29. ^ “Sắc lệnh 50/SL ngày 18/6/1949 tổ chức của Bộ Quốc phòng”.
  30. ^ “Sắc lệnh 121 năm 1950”.
  31. ^ a b c d e f “Về tổ chức của BQP”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2014.
  32. ^ “Lịch sử hình thành và phát triển Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”.
  33. ^ “Giới thiệu Học viện Hậu cần”.
  34. ^ “Học viện Chính trị cần tự xây dựng mình vững mạnh về chính trị”.
  35. ^ “Sắc lệnh 221 năm 1955”.
  36. ^ “Cuộc giáng trả đanh thép của Quân chủng Hải quân Việt Nam 40 năm trước”.
  37. ^ a b “SẮC LỆNH 60 ngày 10/4/1958”.
  38. ^ a b “Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”.
  39. ^ a b c d e “Quá trình hình thành và phát triển BCHC”.
  40. ^ a b c d e “Quá trình hình thành và phát triển Bộ đội Biên phòng”.
  41. ^ Quyết định 754-TTg năm 1995 về việc chuyển giao bộ đội biên phòng sang Bộ Quốc phòng quản lý do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  42. ^ “Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng 50 năm xây dựng và trưởng thành”.
  43. ^ “TÓM TẮT LỊCH SỬ BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2015.
  44. ^ a b “Trường sĩ quan lục quân 2: Đơn vị "Trung dũng, sáng tạo, đoàn kết, kỷ luật, dạy tốt, học tốt".
  45. ^ a b “Bộ Chỉ huy Miền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chống Mỹ”.
  46. ^ a b “Cục Đối ngoại Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất”.
  47. ^ a b c “Giới thiệu chung BCTTG”.
  48. ^ Quyết định 146-CP năm 1966 về việc mở Phân hiệu đại học Bách Khoa đào tạo cán bộ cho các lực lượng vũ trang nhân dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
  49. ^ a b c d e “ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN”.
  50. ^ “Giới thiệu chung Binh chủng Đặc công”.
  51. ^ “Nâng cao hiệu quả công tác tiêu chuẩn, đo lường, bảo đảm chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật của quân đội”.
  52. ^ “Người vun đắp truyền thống "Thần tốc - Quyết thắng" của Quân đoàn 1”.
  53. ^ a b c “Quân đoàn 2 - "Thần tốc, táo bạo, quyết thắng".
  54. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2014, trang 13-14.
  55. ^ “Cục Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Quân công hạng Ba”.
  56. ^ a b c “Quân đoàn 3 - "Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực".
  57. ^ a b “Quân đoàn 4 - "Trung thành, đoàn kết, anh dũng, sáng tạo, tự lực, quyết thắng".
  58. ^ “Lịch sử Hình Thành Và Phát triển Bệnh viện 175”.[liên kết hỏng]
  59. ^ “Bệnh viện Quân y 175 đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất”.
  60. ^ “Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập, vừa xây dựng, vừa trưởng thành, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt (1975-1991)”.
  61. ^ “VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI”.
  62. ^ “Giới thiệu chung TCT319”.
  63. ^ “Kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (28-5-1981 - 28-5-2011)”.
  64. ^ a b c d e “GIỚI THIỆU CHUNG TCT Thành An”.
  65. ^ a b “Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng với công tác đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ mới”.
  66. ^ Quy định số 50-QĐ/TW ngày 21/11/2011 về tổ chức cơ quan chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam
  67. ^ “Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng - Bước tiến mới trong quản lý Quốc phòng hiện nay”.
  68. ^ “Tuyên bố Chủ tịch Hội nghị ADMM+ lần thứ nhất”.
  69. ^ “ADMM+: 3 năm nhìn lại”.
  70. ^ “ADMM+: Một cấu trúc khu vực mới”.
  71. ^ “Ra mắt báo điện tử Bộ Quốc phòng”.
  72. ^ “Ra mắt báo điện tử Quốc phòng và Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng phiên bản tiếng Anh”.
  73. ^ “Việt Nam thêm lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc”.
  74. ^ “Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ thành lập Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam”.
  75. ^ “Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2014”.
  76. ^ “Đối thoại quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ 9”.
  77. ^ “Việt Nam-Israel ký kết thỏa thuận hợp tác quốc phòng”.
  78. ^ “Đại tướng Phùng Quang Thanh kết thúc tốt đẹp chuyến đi dự ADMM-9 và khai mạc LIMA 2015”.
  79. ^ “Khai trương "Cổng Thông tin điện tử Ngành Chính sách Quân đội".
  80. ^ “Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thăm chính thức Việt Nam”.
  81. ^ “Hình ảnh toàn cảnh Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thăm Việt Nam”.
  82. ^ “Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thăm chính thức Việt Nam”.
  83. ^ “Bước phát triển mới trong quan hệ quốc phòng Việt Nam- Hoa Kỳ”.
  84. ^ “Bộ Quốc phòng Việt Nam và Hoa Kỳ ký Tuyên bố Tầm nhìn chung”.
  85. ^ “Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để Lễ kỷ niệm 70 năm Quốc khánh 2/9 thành công tốt đẹp”.
  86. ^ “Lễ diễu binh, diễu hành 2/9 có gì đặc biệt?”.
  87. ^ “Mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9”.
  88. ^ “Kinh phí tổ chức lễ diễu binh, diễu hành 2/9 là bao nhiêu?”.
  89. ^ “Lễ mít tinh, diễu binh mừng Quốc khánh 2/9”.
  90. ^ “Những con số ấn tượng kỷ niệm 70 năm Quốc khánh 2/9”.
  91. ^ “Lễ diễu binh, diễu hành 2/9 có gì đặc biệt”.
  92. ^ “30.000 người tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm Quốc khánh 2/9”.
  93. ^ “Bộ Quốc phòng sắp xếp lại hàng loạt đơn vị”.
  94. ^ “Bảng xếp hạng quân đội thế giới - Theo Globalfirepower”.
  95. ^ “Giới thiệu Quân đội Nhân dan Việt Nam”.
  96. ^ Dựa trên sự ước lượng từ các đơn vị trực thuộc năm 2014
  97. ^ a b c d “Công bố Ngân sách Quốc phòng Việt Nam”.
  98. ^ a b “Vì sao ngân sách quốc phòng VN tăng”.
  99. ^ “BXH Quân sự Thế giới Theo globalfirepower”.
  100. ^ a b “Việt Nam tăng ngân sách quốc phòng, Mỹ có cơ hội lớn?”.
  101. ^ a b “Business Wire: Việt Nam chi ngân sách quốc phòng và dành bao nhiêu để mua vũ khí hiện đại?”.
  102. ^ a b “Về một số yếu tố ảnh hưởng đến chi ngân sách quốc phòng của các quốc gia và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”.
  103. ^ “Việt Nam chi bao nhiêu cho quốc phòng 5/2014,Báo Zing.vn”.
  104. ^ “Dự báo ngân sách quốc phòng VN 2011-2016”.
  105. ^ “Dự báo ngân sách quốc phòng Việt Nam 2011-2016”.
  106. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 1998”.
  107. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2004”.
  108. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2009, Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng”.
  109. ^ a b c d e f g h i Theo Sách trắng Quốc phòng của Việt Nam năm 2009
  110. ^ a b c d e f g h i “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2009”.
  111. ^ a b “Chương VI: Tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam”.
  112. ^ “Quân ủy TW: Đẩy mạnh 3 khâu đột phá trong năm 2015”.
  113. ^ “Phong trào Thi đua quyết thắng ở Binh đoàn 15 - Truyền hình Gia Lai”. Truyền hình Gia Lai. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  114. ^ “Binh đoàn 16 vững vàng trên dải đất biên giới Tây Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  115. ^ “Mô hình mới trong quản lý các doanh nghiệp quân đội”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  116. ^ “MBB”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  117. ^ “Tổng công ty Đông Bắc: Doanh nghiệp điển hình làm theo lời Bác”. Báo điện tử Diễn đàn Doanh nghiệp. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015.
  118. ^ a b “Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh trong thời kỳ hội nhập quốc tế”.
  119. ^ “Phát triển kinh tế gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân”.
  120. ^ a b c d e f g h i j k l m Theo Sách trắng Quốc phòng năm 2009, trang 112
  121. ^ “Tuỳ viên Quốc phòng Việt Nam tại nước ngoài (tính đến tháng 3 năm 2009)”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]